21. Ân Oán

29/11/201115:17(Xem: 5841)
21. Ân Oán
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(21)

ÂN OÁN

Cỏ cây, sinh vật thời xưa

Đều cùng biết nói, lại vừa biết nghe

Riêng loài người giỏi mọi bề

Được tôn chúa tể chính vì trí khôn,

Nhưng trong rừng thẳm núi non

Giữa bầy thú dữ cọp luôn đứng đầu

"Chúa sơn lâm" tiếng từ lâu

Giang sơn hùng vĩ ai đâu tranh dành.

Một hôm cọp dạo loanh quanh

Săn mồi kiếm sống thình lình sa chân

Chui đầu vào bẫy thợ săn

Cuồng điên gào thét, hung hăng vẫy vùng

Dễ gì thoát cảnh khốn cùng

Nên nằm yên lặng, hãi hùng, hoang mang.

Hồi lâu thấy bóng áo vàng

Một sư xuất hiện dưới hàng cây xa

Cọp bèn lên tiếng kêu la

Mong sư cứu cọp thoát ra bẫy này

Từ bi, hỷ xả lâu nay

Người tu chắc sẽ ra tay giúp liền.

Quả nhiên sư động tâm hiền

Bẫy kia mở nắp. Cọp bèn thoát ra.

*

Ngay khi khổ nạn vượt qua

Cọp gầm, cọp thét vang xa núi rừng,

Mắt hằn lửa hận bừng bừng

Nhìn sư hăm dọa vô cùng hung hăng:

"Loài người độc ác ai bằng

Hại ta mọi cách nên giăng bẫy này

Giết ngươi để trả thù ngay

Khó mà thoát móng vuốt đây! Đừng hòng!"

Sư bình thản, giọng ung dung:

"Thế gian cõi tạm ta không tiếc gì

Con người sống ở thác về

Có sinh có tử lạ chi cuộc đời

Chết là giải thoát kiếp người

Nhưng ta muốn nói một lời thiết thân:

Ngài là chúa tể sơn lâm

Nhận ân, trả oán vô ngần ô danh

Rồi đây khắp chốn rừng xanh

Còn ai kính trọng kẻ dành ngôi cao!"

Cọp nghe hợp lý phần nào

Xuôi tai bèn nói: "Ta đâu ngại gì

Chúng ta giờ hãy cùng đi

Hỏi ba nhân chứng tức thì rõ ngay

Rằng loài người ác lắm thay

Nếu mà đúng vậy xác này của ngươi

Thời ta ăn sống nuốt tươi

Ngươi nghe cho rõ kẻo rồi lại than!"

Sư bèn đáp lại nhẹ nhàng:

"Ta bằng lòng vậy, phàn nàn chi đâu!"

*

Đi giữa đường gặp chú trâu

Cọp lên tiếng hỏi. Ngẩng đầu trâu than:

"Loài người độc ác bạo tàn

Bắt tôi làm lụng vô vàn khổ đau

Lại còn roi quất trước sau

Suốt ngày đói bụng ai nào thương cho

Vứt ra một nắm rơm khô

Đến khi kiệt sức bỏ lò sát sinh

Nơi đây chịu đủ cực hình

Lóc da, xẻ thịt, quả tình ác thay!"

*

Sư đi. Cọp vội theo ngay

Gặp thêm nhân chứng là cây bên đường,

Cây me ủ rũ, tang thương,

Cọp lên tiếng hỏi: "Người thường qua đây

Hiền hay dữ bạn cho hay?"

Cây me thoáng nghĩ đáp ngay chẳng nề:

"Loài người thiện, ác đôi bề

Khi tôi còn bé, người quê vùng này

Bón phân, tưới nước hàng ngày

Giúp tôi tươi tốt, giờ đây trưởng thành,

Nào ngờ trái hãy còn xanh

Người ta đã vội trèo nhanh lên rồi

Tranh nhau hái trái, dập vùi

Khiến tôi gốc, ngọn tơi bời bấy lâu

Lá rơi, cành gẫy, thân đau

Loài người thiện ít, ác đâu quá nhiều!"

*

Sư đi, cọp lại kề theo

Gặp thêm chú khỉ đang trèo trên cây,

Cọp bèn hỏi chú khỉ này

Khỉ ta còn nhỏ, nhíu mày nghĩ suy

Xong rồi hỏi lại cọp kia:

"Tôi đây muốn biết chuyện gì xẩy ra?"

Cọp bèn vội vã kể qua

Đầu đuôi câu chuyện. Khỉ ta nghe rồi

Đăm chiêu, nhăn nhó liên hồi

Sau cùng lên tiếng: "Chuyện thời khó tin

Ngài là chúa tể khắp miền

To con, dũng mãnh, uy quyền từ xưa

Bẫy nào mà lọt cho vừa

Thấy tôi khờ dại nói đùa chớ nên

Mắt không thấy, tôi chẳng tin!"

Cọp nghe bực bội gầm lên: "Được rồi!

Lưng ta mi hãy leo ngồi

Ta đưa đi đến tận nơi, rõ liền!"

Khỉ con đồng ý leo lên

Theo sư và cọp tới miền thợ săn.

Tới nơi cọp chỉ bẫy giăng

Tỏ ra không hiểu, khỉ nhăn nhó hoài

Khỉ ta đóng kịch thật tài:

"Bẫy thời kín mít sao ngài vào trong?"

Cọp càng tức tối trong lòng

Muốn cho khỉ hiểu cũng không khó gì

Nhờ sư mở nắp bẫy kia

Trổ tài biểu diễn cọp thì nhảy luôn

Chui vào. Bẫy sập kinh hồn.

Khỉ quay qua hỏi sư ông tức thời:

"Vậy sư lúc đó đâu rồi?"

Cọp từ trong cũi cướp lời nói ra:

"Sư này xuất hiện nẻo xa

Bất ngờ đi lại phía ta đang ngồi!"

Nghe xong khỉ nói: "Rõ rồi!

Bây giờ tôi hiểu đầu đuôi sự tình,

Sư ông lo việc tu hành

Đường ông xin cứ đi nhanh về chùa

Thời giờ đâu có dư thừa

Mà mua phiền não, dây dưa chuyện người!"

Hướng vào trong bẫy cọp ngồi

Khỉ nhe răng giỡn: "Phận tôi yếu hèn

Chúa sơn lâm là bề trên

Tôi đâu giúp được, chớ nên mong nhờ

Chúc ngài lại gặp bất ngờ

Gặp người đến cứu, xin chờ dịp may

Giờ tôi tạm biệt ngài đây!"

Nói xong khỉ tót lên cây chuồn liền.

Bóng sư khuất nẻo rừng bên,

Mắc lừa, cọp giận cuồng điên thét gầm

Đêm về rừng núi âm thầm ...

(phỏng theo bản văn xuôi của HUỲNH VĂN BỘ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 773)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1769)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1262)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1620)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1213)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1791)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3367)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4599)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4176)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S