18. Khỏi Phải Tự Thiêu

29/11/201115:17(Xem: 5682)
18. Khỏi Phải Tự Thiêu
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(18)

KHỎI PHẢI TỰ THIÊU

Ngày xưa ở tại nước kia

Có bà goá phụ Đề Vi rất giàu

Chồng thời chết đã từ lâu

Lại không con cái, u sầu mãi thôi

Một thân goá bụa đơn côi

Không người che chở, chẳng ai nương nhờ.

Đúng theo phép thời bấy giờ

Vì bà dòng dõi là Bà La Môn

Nên khi cuộc sống u buồn

Không như ý nguyện, lại luôn não phiền

Thì nên hủy xác thân liền

Tự thiêu để được sinh lên cõi trời

Đời sau sung sướng tuyệt vời

Bao nhiêu tội lỗi tức thời tiêu tan,

Trước khi thiêu nên lập đàn

Cúng dường châu báu vô vàn thành tâm

Cúng cho thầy Bà La Môn

Để nhờ chú nguyện gieo muôn phước lành,

Theo lời chỉ dẫn ngọn ngành

Bà Đề Vi chất củi thành đài cao

Rồi chờ người phóng lửa vào

Tự thiêu thân xác, xả bao tội tình.

*

Trong vùng có vị tu hành

Được tin vội đến nhiệt thành thăm nom

Biện Tài, tên vị sa môn

Nghe xong câu chuyện ôn tồn giảng ngay,

Bà Đề Vi lắng nghe thầy

Lời từ vang vọng gieo đầy gấm hoa:

"Bao nhiêu tội chướng gây ra

Luôn do tâm thức người ta khởi đầu

Nào do thân thể mình đâu

Dù thiêu nào xóa được mau tội tình,

Tâm lành thời quả báo lành

Tâm gieo nhân dữ, quả thành dữ thôi.

Khi bà thiêu đốt thân người

Thế nào tâm cũng tức thời khổ đau

Làm sao mong diệt được mau

Tội tình chồng chất trước sau nhiều bề

Mà mong có quả lành về;

Cũng như người bệnh dầm dề lâu nay

Giờ ai đánh mắng đọa đày

Sao sầu não chẳng vương ngay vào mình

Làm sao giữ được tâm lành;

Giờ bà muốn diệt tội tình lâu nay

Muốn thiêu, muốn đốt thân này

Lửa mang đau đớn tới ngay tức thì

Tâm sinh khổ não kể chi

Chết rồi đọa xuống âm ty ngay liền

Thế là khổ lại khổ thêm

Nơi miền địa ngục não phiền gia tăng.

Lấy thêm thí dụ rõ ràng

Bò càng kéo nặng lại càng ghét xe

Bò bèn đạp gãy xe đi

Tưởng rằng nặng nhọc có bề thoát qua

Nào ngờ xe gãy tháo ra

Bỏ đi xe gãy, thay qua xe lành

Ách kia lại xiết cổ mình

Bò đâu thoát được khổ hình gian nan.

Ai còn nghiệp tội đầy tràn

Dù cho có đốt trăm ngàn tấm thân

A Tỳ địa ngục vẫn gần,

Làm sao chỉ có một lần tự thiêu

Mà mong tội lỗi hết theo.

Tâm mà tạo ác đủ điều khác chi

Như mây che khuất trăng kia,

Tâm mà hối cải chuyển đi làm lành

Như là ngọn đuốc lung linh

Phá tan tăm tối, u minh chập chờn

Bao nguồn gốc nghiệp thế nhân

Do Thân, Khẩu, Ý xoay vần tạo ra,

Muốn trừ diệt hết tâm tà

Chân thành sám hối! Thiết tha tu hành!"

*

Sau khi giảng giải điều lành

Thầy Biện Tài lại nhiệt thành dạy thêm:

"Nhớ Mười Điều Thiện chớ quên

Hàng ngày bà cố gắng nên thực hành!"

Bà Đề Vi hiểu ngọn ngành

Trong lòng hoan hỷ chân thành cúng dâng

Vừa châu báu, vừa bạc vàng

Thỉnh thầy ở lại giúp hàng chúng sinh.

Thầy không nhận, nói tâm tình:

"Những đồ quý báu tu hành cần đâu

Nếu bà đã hiểu đạo mầu

Mang Mười Điều Thiện truyền mau cho người

Đó là một cách tuyệt vời

Trả ơn thiết thực cho nơi cửa Thiền

Cúng dường Pháp là ưu tiên

Đạo vàng gieo hạt, tâm hiền nở hoa!"

(phỏng theo bản văn xuôi của MINH CHÂU)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 563)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 795)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1935)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1276)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1637)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1220)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1824)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3385)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4212)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S