17. Tịnh Xá Kỳ Hoàn

29/11/201115:17(Xem: 6942)
17. Tịnh Xá Kỳ Hoàn
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(17)

TỊNH XÁ KỲ HOÀN

Thành Xá Vệ nước Ấn xưa

Có ông trưởng giả rất ư là giàu

Tính tình hào hiệp từ lâu

Sẵn lòng bố thí trước sau mọi nhà

Tên ông là Tu Đạt Đa

Người đời quý mến ông ta vô cùng

Cấp Cô Độc họ gọi ông

Danh xưng quý mến tỏ lòng ngợi khen.

Bảy con trai sống kề bên

Đều thành gia thất, lành hiền, bình an

Trừ người con út độc thân

Ông nhờ mai mối xa gần giúp cho

Họ bèn giới thiệu một cô

Đẹp xinh nhan sắc, tuổi vừa cập kê

Là con gái ông Hộ Di

Hai bên hợp ý, đôi bề đẹp duyên

Nên ông trưởng giả đi liền

Thăm bên nhà gái kết thêm thắm tình,

Sau khi nhà gái tiếp mình

Họ bèn chuẩn bị linh đình đón ai

Tò mò ông hỏi đôi lời

Mới hay họ đợi thỉnh mời thầy tu

"Cúng dường Phật, đấng đạo sư

Cùng chư Tăng", vốn từ xưa nếp nhà.

Thế rồi ông hỏi thêm ra

Khi nghe giảng giải, rất là ngạc nhiên

Trong lòng phát khởi niềm tin

Cầu sao gặp Phật thỏa niềm ước mong.

*

Hôm sau vừa rạng ánh hồng

Ông bèn dậy sớm tìm đường tới thăm

Ghé vào tịnh xá Trúc Lâm

Ông ra mắt Phật, thành tâm, cúi đầu

Ngồi nghe Phật giảng pháp mầu

Như vầng dương phá đêm thâu mịt mùng

Lòng ông quá đỗi vui mừng

Bèn quỳ thỉnh Phật qua vùng của ông

Nơi thành Xá Vệ thân thương

"Đánh chuông cảnh tỉnh những phường u mê

Nhận ra chánh đạo quay về

Bỏ tà theo chánh còn gì phước thêm!"

Phật ưng thuận nhưng dạy liền:

"Xuất gia rồi phải ở riêng một vùng

Đó là theo phép tắc chung

Nếu không riêng biệt, vô cùng khó khăn,

Ta cần tịnh xá khang trang

Làm nơi cư trú cho hàng chư Tăng."

Ông trưởng giả vội thưa rằng:

"Xây ngôi tịnh xá dễ dàng lắm thay

Riêng con xin phát tâm ngay

Sẽ hoàn thành sớm một ngày gần đây!"

Phật cười: "Thật quả lành thay

Nếu mà được vậy thời hay vô cùng!"

*

Sau khi lo chuyện con xong

Vội vàng trưởng giả khởi công ngay liền

Tìm nơi cất tịnh xá lên

Ngài Xá Lợi Phất kề bên giúp giùm

Chọn khu vườn rất um tùm

Đất bằng, cây cối xanh um mượt mà

Của ông thái tử Kỳ Đà

Chỗ này xây cất thật là tiện thay.

Nào ngờ thái tử nói ngay

Vì không muốn bán vườn này của ông

Muốn làm trưởng giả nản lòng

Đùa rằng: "Mua bán cũng không khó gì

Hãy mang vàng tới đây đi

Phủ đầy mặt đất tôi thì bán cho!"

Tưởng rằng trưởng giả khó lo

Nào ngờ ông lại vội cho người về

Chở vàng đến phủ đất kia

Quyết mua cho được có chi ngại ngùng.

Lót vàng mua đất đã xong

Chỉ còn các gốc cây trong vườn này

Phân vân biết tính sao đây

Thời ông thái tử lòng đầy ngạc nhiên

Thấy người mua coi bạc tiền

Khác chi đất cục phủ trên mảnh vườn

Thật kỳ lạ! Thật bất thường!

Cho nên thái tử vội vàng hỏi thăm

Hỏi về Phật và chư Tăng

Sau khi nghe giảng rõ ràng phân minh

Giờ đây thái tử hiểu rành

Bèn đem cây cối nhiệt tình cúng luôn

Cúng dường Phật rất thành tâm

Thế là xong chuyện bán buôn vườn này.

*

Ông già trưởng giả mừng thay

Khởi công xây cất ngay ngày hôm sau

Nào ngờ trở ngại tới mau

Do phường ngoại đạo vào tâu triều đình

Cùng nhau phản đối công trình

Muốn đâu tịnh xá tiến hành cất xây,

Đòi tranh tài ngay tại đây

Để xem Phật Giáo có hay hơn người.

Vừa lo lắng, vừa bồi hồi

Sợ rằng ngoại đạo người thời rất đông

Lại thêm pháp thuật cao cường

Ngài Xá Lợi Phất khó đường đua tranh

Vì ngài đơn độc một mình,

Nào ngờ khi rõ sự tình kể trên

Ngài bèn nói với ông liền:

"Ông đừng lo lắng muộn phiền cho tôi

Một tia ánh sáng mặt trời

Đủ xua bóng tối khắp nơi mịt mùng!"

Thế rồi vua với hoàng cung

Cùng bao dân chúng tập trung một ngày

Xem tranh tài tại nơi này

Riêng ông trưởng giả tràn đầy lo âu.

Nhớ lời Phật dạy từ lâu

Trong khi truyền bá đạo mầu Thế Tôn

Chớ nên xử dụng thần thông

Sợ làm kinh dị tới lòng người xem

Ngài Xá Lợi Phất nào quên

Hôm nay đặc biệt cho nên phải dùng

Phép mầu, biến hóa thần thông

Thắng phường ngoại đạo khi cùng đua tranh.

*

Thế rồi khởi sự công trình

Cất xây tịnh xá, hoàn thành cho mau

Dù cho cực nhọc trước sau

Dù cho vất vả cũng đâu ngại ngần

Suốt ba bốn tháng nhọc nhằn

Dựng xong tịnh xá muôn phần khang trang

Tiện nghi, thanh tịnh, thênh thang

Đón chờ đức Phật ghé sang vùng này.

Ông trưởng giả vào triều ngay

Đầu đuôi công tác trình bày lớp lang

Xin vua cử phái một đoàn

Lên đường thỉnh Phật về ban pháp mầu

Vua nghe, chấp thuận lời tâu

Cử đoàn thỉnh Phật cùng nhau đi liền.

*

Một ngày rực rỡ thần tiên

Phật cùng đệ tử qua miền xa xôi

Đi từng chặng, nghỉ từng nơi

Qua thành Xá Vệ giúp người khai tâm

Nhà vua và các quần thần

Đón chờ cùng với toàn dân vùng này.

Phật về tịnh xá mới xây

Rồi ngài lưu lại nơi đây giúp người

Đạo mầu giảng dạy nơi nơi

Chúng sinh giác ngộ thoát đời lầm than,

Và nơi truyền bá đạo vàng

Có tên tịnh xá Kỳ Hoàn từ đây,

Cấp Cô Độc, người dựng xây

Tâm thành trưởng giả muốn gây duyên lành.

(phỏng theo bản văn xuôi trong TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 808)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 924)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2160)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1410)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1831)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1307)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1872)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3656)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4767)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4588)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S