16. Phóng Rộng Tình Thương

29/11/201115:17(Xem: 5829)
16. Phóng Rộng Tình Thương
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(16)

PHÓNG RỘNG TÌNH THƯƠNG

Nơi thành Xá Vệ xưa kia

Vợ chồng nhà nọ rất chi là giàu

Vì cha ông họ từ lâu

Chết đi để lại đời sau gia tài.

Vợ chồng cả chục năm trời

Lấy nhau sinh được một người gái ngoan

Đẹp xinh, đức hạnh vẹn toàn

Mẹ cha chiều chuộng, khỏi làm lụng chi

Số cô sướng ít ai bì

Hưởng nhiều phước báu từ khi chào đời.

Vợ chồng sống rất thảnh thơi

Về sau thêm được hai người con trai

Gia đình êm ấm trong ngoài

Gái đầu lòng thấy tương lai rực hồng.

*

Khi cô lớn, định kén chồng

Nhắm chàng kia thấy cũng không thua gì

Bạc tiền, danh giá kể chi

Tâm đầu ý hợp, đôi bề luyến thương.

Đời người sinh tử vô thường

Cha chàng rồi đến mẹ chàng quy tiên

Một năm hai cái tang liền

Gia tài để lại bạc tiền sẵn đây

Chàng con được thừa hưởng ngay

Nhưng rồi sinh tật vui vầy ăn chơi

Nhiều gia sản, lắm cơ ngơi

Đua đòi hư hỏng sống đời tự do.

Cha cô gái chẳng âu lo

Nghĩ chàng tang chế khiến cho muộn sầu

Bước đường phóng túng chẳng lâu

Thói hư tật xấu sẽ mau ngưng liền

Thế là chấm dứt ưu phiền,

Anh chàng có sẵn bạc tiền trong tay

Con ông vẫn thoải mái ngay

Không lo vất vả đọa đày tấm thân

Cho nên ông chẳng phân vân

Đồng lòng cho cưới ngại ngần gì đâu.

Thế rồi chàng rể mau mau

Linh đình tiệc cưới rước dâu về nhà,

Chàng yêu vợ rất thiết tha

Từ sau ngày cưới chẳng xa vợ hiền

Chỉ quanh quẩn ở kề bên

Con đường trụy lạc tưởng quên hẳn rồi.

*

Nào ngờ ngày tháng dần trôi

Ngựa quen đường cũ có rời xa đâu

Chàng kia một sớm quay đầu

Về đường phóng đãng buồn đau thuở nào,

Bạn bè đông đảo biết bao

Say sưa ăn uống, ồn ào nói năng

Đua nhau nịnh hót rộn ràng

Gia tài do đó lẹ làng trôi đi,

Vợ khuyên can có ích chi

Chàng vung tay mãi đến khi hết tiền

Bạn bè xa lánh ngay liền

Khi chồng nhận rõ đảo điên cuộc đời

Than ôi thì đã muộn rồi

Còn đâu nhung lụa một thời xa xưa

Tuy nhiên sĩ diện có thừa

Nên chàng vẫn cố giữ như bình thường

Tỏ ra sang trọng phô trương

Vợ chồng do đó tìm phương kiếm tiền.

Chàng bèn nhờ cô vợ hiền

Về xin tiền bạc ở bên nhà nàng

Đặt điều nói dối mọi đường

Khi thì mua sắm nữ trang đắt tiền

Khi thì ruộng đất tậu thêm

Khi thì buôn bán ở miền xa xôi,

Dối quanh dối quẩn mãi rồi

Cuối cùng thú thật đầu đuôi sự tình

Cảnh sa sút của gia đình

Vì chồng chót dại gây thành khổ đau.

*

Cha cô gái rất buồn rầu

Giận chàng con rể trước sau gây phiền

Ăn chơi phung phí bạc tiền

Nhưng thương con gái ông liền giúp cho:

"Cứ xin mãi, chẳng hay ho

Giúp cho lần cuối, tự lo sau này!"

Tưởng rằng chàng rể đổi thay

Nào ngờ chỉ được ít ngày mà thôi

Cô con gái lại tới rồi

Lại xin tiền bạc ở nơi gia đình.

Cha cô thật rất bất bình

Không còn muốn giúp rể mình thêm chi

Ông thương con thuở xưa kia

Sống đời sung sướng có gì khổ đâu

Giờ đây đầy những lo âu

Vì chồng gieo khổ, gieo sầu mênh mông,

Ông bàn tính với vợ ông

Muốn cho con gái bỏ chồng này luôn

Sau rồi ông sẽ mang con

Gả cho người khác mới mong tốt lành.

Gái kia nghe lọt sự tình

Vội về kể lại ngọn ngành chồng nghe

Anh chồng chua xót tái tê

Suốt đêm trằn trọc bộn bề tâm can

Quẩn quanh suy nghĩ miên man

Trong niềm tuyệt vọng nát tan lòng người

Chợt chồng mất trí nhất thời

Kiếm dao giết vợ, giết người mình yêu

Rồi chàng tự sát chết theo

Xác nằm chung chỗ, máu gieo quanh vùng.

Được tin cấp báo hãi hùng

Cha cô gái tới, vô cùng đớn đau

Oán trời, trách đất hồi lâu

Than cho số mạng thảm sầu tang thương

Thần kinh rối loạn bất thường

Ông lang thang bước tìm đường hỏi thăm:

"Sao tôi số phận nhọc nhằn?

Sao tôi lâm cảnh khó khăn phũ phàng?"

*

Một ngày nắng đẹp thênh thang

Phú ông gặp Phật vội vàng quỳ tâu

Đầu đuôi gia cảnh thảm sầu

Dốc lòng thuật lại trước sau tâm thành

Thỉnh cầu Phật chỉ cho mình

Cội nguồn dẫn đến tội tình ngày nay.

Phật nghe xong phân tích ngay

Nguyên do sự việc đọa đày vương mang

Rồi ngài khuyên dạy nghiêm trang:

"Chúng sinh coi nặng tình thương gia đình

Nên thường chỉ để lòng mình

Hướng vào một chỗ mà thành khổ đau,

Tình thương phóng rộng ra mau

Thương yêu tất cả như nhau trên đời

Con ta nào khác con người

Niềm đau quằn quại tức thời tiêu tan!"

(phỏng theo bản văn xuôi của QUẢNG HUỆ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 836)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 957)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2240)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1469)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1892)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1367)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1912)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3843)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5027)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4739)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S