07. Mở Mắt Chiêm Bao

29/11/201115:17(Xem: 6102)
07. Mở Mắt Chiêm Bao
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(7)

MỞ MẮT CHIÊM BAO

lotus_53

Thuở xưa có chú sa di

Tên là Tăng Hộ vui bề xuất gia,

Thầy là cậu ruột trong nhà

Thầy tu đắc đạo thật là quý thay.

Một hôm thí chủ tới đây

Biếu cho Tăng Hộ hai cây vải mầu

Nếu may y đẹp biết bao

Chú mừng trong bụng nhưng nào ham may

Định đem dâng vải biếu thầy

Vừa nhiều tôn kính, lại đầy biết ơn

Chú tìm thầy định thưa luôn

Ngờ đâu thầy lại chẳng còn muốn nghe

Uy nghi gạt phắt ngay đi:

"Ta đây đã có ba y đủ rồi

Vải này con giữ may thôi

Hay là dâng cúng cho ai khi cần!"

Sa di năn nỉ ba lần

Thầy đều từ chối, chú đâm ra buồn

Sinh ra bực bội vô cùng

Hầu thầy, đứng quạt mà lòng vẩn vơ

Dòng tư tưởng trôi vật vờ

Lan man về thuở ấu thơ của mình...

*

Mình đây chẳng có gia đình

Thầy là cậu ruột, thâm tình, lành thay,

Mình theo cậu đã lâu nay

Vậy mà cậu chẳng mảy may thương mình

Vừa lạnh nhạt, vừa vô tình

Thôi ta đi khuất mắt nhanh cho rồi!

Nhưng đi đâu, chẳng có nơi

Lấy gì mà sống cuộc đời lang thang?

Phải rồi! hai xấp vải vàng

Sẵn đây đem bán ta mang tiền về

Lấy tiền mua một con bê

Nuôi bê ăn cỏ bên lề ruộng kia

Thanh nhàn, không tốn kém chi,

Loài bê sinh sản mau thì khỏi chê

Vài năm thành một bầy bê

Bán đi một ít thoả thuê bạc tiền,

Tậu nhà cửa ruộng đất liền

Trưởng thành sẽ cưới vợ hiền về mau

Cùng xây tổ ấm bên nhau

Một thời gian có con đầu sinh ra

Thế là vui vẻ cửa nhà

Vợ hiền sẽ bế con ra cậu mình

Để quy y, hưởng phước lành,

Đường xa nắng cháy vợ mình mỏi tay

Mình bèn lên tiếng giúp ngay:

"Bế con chắc mệt, đưa đây anh bồng!"

Vợ coi thường chẳng nghe chồng

Dành con ẵm mãi vào lòng, loay hoay

Thế rồi vấp té rễ cây

Khiến cho thằng bé rớt ngay xuống sình,

Mình giận dữ, mình bất bình

Vội vàng bẻ xuống một cành cây con

Quất cho mụ vợ một đòn

Miệng la: "Ta nói sao còn chẳng nghe!

Đàn bà hư đốn kể chi

Xẩy ra một chút là đi cãi chồng!"

*

Sa di đang phút mơ mòng

Suy tư trôi chảy theo dòng miên man

Bỗng nghe thầy nói nhẹ nhàng:

"Này con chẳng đánh trúng nàng vợ hư

Đánh nhằm đầu trọc của sư

Khiến ta đau điếng tưởng như sập nhà!"

Chú Tăng Hộ bừng tỉnh ra

Cơn mơ đứt đoạn chú ta nhủ lòng:

"Chết rồi, nghĩ lén đừng hòng!

Ông thầy biết hết! Đừng mong giấu thầy!"

Co giò chú chạy như bay

Chạy như ma đuổi trốn ngay khỏi chùa,

Mấy người bạn chú chẳng vừa

Rượt theo bắt lại và đưa chú về

Ghé vào trình báo mọi bề

Dưới chân đức Phật, mong nghe lời vàng.

Phật bèn an ủi chú rằng:

"Tâm phàm phu cứ lang thang âm thầm

Rong chơi lén lút xa gần

Vô hình, vô dạng khó ngăn được nào,

Người hiền trí phải khéo sao

Giống như mục tử bắt trâu ngoài đồng

Dùng dây xỏ mũi trâu hoang

Dắt trâu về lại trong làng chưa thôi,

Chăn dắt trâu thật kỹ rồi

Đến khi thả lỏng buông lơi mặc lòng

Mà trâu hết lén đi rong

Đến thời điểm đó mới hòng tạm yên!"

Nghe lời Phật. Vững lòng tin

Sa di Tăng Hộ thấy liền hướng đi

Yên lòng ở lại, kiên trì

Theo thầy học đạo đến khi đạt thành

Một ngày đắc quả tu hành

Bậc A La Hán tốt lành lắm thay!

(phỏng theo bản văn xuôi trong TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)



***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 563)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 795)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1933)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1275)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1637)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1220)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1824)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3385)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4207)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S