23. Dứt Bỏ Ảo Tình

29/11/201115:17(Xem: 6836)
23. Dứt Bỏ Ảo Tình
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(23)

Dứt Bỏ Ảo Tình

Một thời Đức Phật Thích Ca

Ở thành Xá Vệ, nhà nhà an vui,

Ngài đi giáo hóa khắp nơi

Lời vàng thuyết pháp giúp đời thiết tha.

*

Có người ngoại đạo phương xa

Vì nghe danh Phật tìm qua gặp Ngài

Quản chi vất vả đường dài

Mong nghe Ngài dạy những lời gấm hoa.

*

Nhiều ngày vất vả trôi qua

Cuối cùng người khách phương xa tới thành

Ruộng đồng Xá Vệ tươi xanh

Khách dừng chân nghỉ, nhìn quanh ngắm trời

Ruộng bên khách thấy hai người

Một già, một trẻ cuốc nơi ven đồng.

*

Chợt nghe tiếng thét hãi hùng

Chàng trai gục xuống vũng bùn mê man

Lão ông vứt cuốc chạy sang

Mới hay rắn độc trong hang cắn người

Chàng trai đã chết mất rồi

Lão ông buồn thoáng, xong thời thản nhiên

Trở về cuốc đất lại liền

Khách xa thấy vậy ngạc nhiên trong lòng

Tới nơi thăm hỏi lão ông

Biết ra người chết là con trai đầu.

"Sao không thấy cụ buồn rầu

Chẳng hề đau xót! Nỡ đâu lạnh lùng!"

Khách xa thắc mắc hỏi cùng,

Ôn tồn khách được lão ông trả lời:

*

"Đã sinh ra ở trên đời

Sống rồi lại chết. Ai người thoát đây?

Hãy gieo nhân tốt kiếp này

Trái lành, quả ngọt hái đầy kiếp sau

Ích chi phiền não thương đau?"

Lão ông nhắn khách nếu vào thành trong

Vui lòng ghé đến nhà ông

Nhắn tin bà lão rằng con chết rồi:

"Cơm trưa mang một phần thôi

Phần kia để lại cho người nhà ăn!"

Khách ra đi, nghĩ băn khoăn:

"Mạng con sao chẳng quý bằng cơm canh!"

*

Khách lòng buồn bã vào thành

Theo lời chỉ dẫn tìm nhanh đến nhà

Nhắn tin con chết cho Bà

Bà nghe, khuôn mặt thoáng qua chút buồn

Rồi bình thản nói: "Cám ơn!"

Khách nghe sửng sốt hỏi luôn lão bà:

"Tại sao bà chẳng xót xa?"

Ôn tồn bà nói: "Mẹ cha khác nào

Chủ nhà trọ, đón khách vào

Khách là con cái, chiều nào dừng chân

Qua đêm ngủ đỡ nhọc nhằn

Để rồi mai sáng gói khăn lên đường

Chủ nhà trọ dù nhớ thương

Chẳng nên cứ mãi vấn vương muộn sầu

Chính do nghiệp báo từ lâu

Mà con cái thác sinh vào mẹ cha

Đến khi mãn nghiệp lại ra

Chết rồi ích lợi chi mà khóc thương!"

*

Vừa khi chị gái ngoài vườn

Vào nghe tin dữ, chỉ vương nét buồn

Nói rằng: "Sống chết lẽ thường

Khi không còn sống, xót thương ích gì!

Chị em nào có khác chi

Những cây gỗ ở rừng kia đóng bè

Thả vào dòng nước xuôi đi

Sông hồ phẳng lặng bè thì êm trôi

Nếu mà bão táp tơi bời

Vỡ bè, cây ghép tức thời lìa tan

Cuốn theo sóng nước thênh thang

Mỗi người mỗi ngả kết đoàn nữa đâu!

Nhân duyên kiếp trước hợp nhau

Kiếp này chung cửa sinh vào mà thôi!

Con người tuổi thọ ngắn dài

Tùy theo nghiệp báo. Chớ hoài khổ đau!"

*

Vợ chàng trai phía bếp sau

Chạy lên rõ chuyện, cúi đầu khẽ than:

"Chồng tôi thôi đã lìa trần!"

Thế rồi chẳng thấy nằm lăn khóc gào

Khách kinh ngạc biết là bao

Hỏi thăm sao Vợ nỡ nào thờ ơ.

"Chồng tôi đã chết" Vợ thưa

"Dù cho gào khóc cũng thừa mà thôi

Vợ chồng đạo nghĩa ở đời

Khác chi một cặp chim ngoài rừng xanh

Đêm về cùng ngủ một cành

Sáng ra tung cánh bay quanh kiếm mồi

Có duyên trở lại cặp đôi

Chẳng may gặp nạn tách rời còn đâu!

Vợ chồng số mạng khác nhau

Cớ sao mua thảm chuốc sầu thân ta!"

*

Khách nghe xong lặng người ra

Tiếc công lặn lội tìm qua xứ này

Nhân tình thế thái buồn thay

Gia đình cái tốt cái hay chẳng còn,

Khách kia lòng dạ héo hon

Muốn quay về nước nhưng còn phân vân:

"Chỉ riêng gặp mấy nông dân

Mà ta phê phán có phần sai chăng?"

Đã qua đây hãy tìm thăm

Vào ra mắt Phật, điều hằng thiết tha.

*

Vườn Kỳ Viên cũng chẳng xa

Đường vào tịnh xá lá hoa phô đầy

Đón chào khách lạ ghé đây,

Khách vào lễ Phật, giãi bày tâm can

Buồn gia đình bác nông dân

Làm điều trái với thế nhân thường tình

Mỉm cười Phật dạy: "Chúng sinh

Mỗi khi mất mát người mình thương yêu

Thường hay than khóc đủ điều

Đó là 'nhân tính' nói theo tình đời

Nhưng về 'chân lý' cao vời

Có chi đáng trách nơi người nông dân

Gia đình này chẳng lỗi lầm

Họ hay rõ được 'sắc thân' vô thường

Dù cho có tiếc có thương

Làm sao nắm giữ. Vấn vương làm gì

Dù phàm hay thánh khác chi

Ai mà tránh khỏi chết đi một ngày

Cuộc đời sống chết kề ngay

Là hai đầu mối vần xoay chẳng ngừng

Tiếp nhau luân chuyển khôn cùng

Ai mà hiểu vậy đáng mừng lắm thay

Thế là giải thoát được ngay

Ảo tình dứt bỏ, thân này sống vui!

*

Khách nghe lời Phật dạy rồi

Đột nhiên tỉnh ngộ, quỳ nơi Phật Đài

Xin làm đệ tử của Ngài

Ở luôn học đạo cuộc đời thơm hương!

(phỏng theo bản văn xuôi của Phạm Ngọc Khuê)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 772)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1764)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1259)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1613)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1212)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1790)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3353)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4599)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4166)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S