22. Công Chúa Nhật Quang (truyện thơ Kinh Pháp Cú của Tâm Minh Ngô Tằng Giao)

29/11/201115:17(Xem: 6947)
22. Công Chúa Nhật Quang (truyện thơ Kinh Pháp Cú của Tâm Minh Ngô Tằng Giao)
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(22)
lotus_56

cong chua nhat quang




Công Chúa Nhật Quang

Nhật Quang Công Chúa đẹp xinh

Dung nhan diễm lệ, thông minh hơn người

Lại thêm đức hạnh tuyệt vời

Hiếu cùng cha mẹ, thương nơi dân hiền,

Giúp người nghèo khó tật nguyền

Toàn dân cảm phục, khắp miền mến yêu.

*

Trong vườn Thượng Uyển một chiều

Vua cùng Hoàng Hậu dấu yêu dùng trà

Nhật Quang hầu đứng bên cha

Vua hoan hỉ nói: "Con ta hơn người

Sống vui, hạnh phúc lâu dài

Chính nhờ cha mẹ. Nào ai sánh bằng!"

Nhật Quang bèn nói dịu dàng:

"Công ơn cha mẹ sánh ngang biển trời

Ghi lòng tạc dạ mãi thôi

Nhưng con thiết nghĩ cuộc đời con đây

Một phần cha mẹ dựng gây

Một phần nhờ kiếp trước dầy công tu!".

*

Lời nàng chẳng đẹp lòng Vua

Khiến Ngài tự ái như vừa tổn thương

Vua suy nghĩ suốt đêm trường

Trong lòng bực bội, vấn vương muộn sầu

Sáng ra đòi một quan hầu

Sai đi khắp chốn tìm mau ra người

Đói nghèo, khổ cực, tả tơi

Lang thang xó chợ, tuổi thời thanh niên

Dẫn về trình diện trước thềm

Vua đem Công Chúa gả liền ngay cho

Mỉa mai Vua nói: "Chớ lo

Theo con kiếp trước con tu đã nhiều

Kiếp này đâu có sợ nghèo

Để ta xem thử mọi điều đúng không

Lấy người cơ cực làm chồng

Xem con có thoát khỏi vòng khổ đau?".

*

Triều đình, Hoàng Hậu lo âu

Chỉ riêng Công Chúa trước sau mỉm cười

Tỏ ra bình tĩnh khác người

Giã từ nhung gấm, vào nơi bần cùng

Theo chồng rời khỏi Hoàng Cung

Toàn dân nghe chuyện xót thương ngậm ngùi.

*

Bụi đời tơi tả dập vùi

Nhật Quang lê bước buồn vui trên đường

Hỏi thăm gia cảnh của chàng:

"Sao trông diện mạo thuộc hàng thư sinh

Mà nay nghèo khổ cùng đinh?"

Buồn rầu chàng mới tâm tình xót xa:

"Trước kia sống với mẹ cha

Gia đình giàu có, cửa nhà thênh thang

Chơi phóng túng, sống hoang đàng.

Chỉ chuyên cờ bạc, chẳng màng bút nghiên

Đến khi cha mẹ quy tiên

Cửa nhà bán hết! Bạc tiền trôi đi!

Trắng tay chẳng có nghề chi

Đành đi hành khất kéo lê thân tàn

Còn đâu gia sản giầu sang

Chỉ còn một mảnh vườn hoang cỗi cằn

Giờ đây hối đã muộn mằn!".

Nghe xong Công Chúa khẽ an ủi chàng:

"Đôi ta kết nghĩa đá vàng

Từ nay chồng vợ tìm đường làm ăn

Trước tiên kiếm chỗ nương thân

Đành về tạm trú nơi phần vườn hoang"

*

Vầng dương chói lọi ánh vàng

Theo chân Công Chúa mở đường tương lai

Vườn hoang, cây rậm, cỏ dài

Vợ chồng ra sức trong ngoài dọn ngay

Xóm làng cảm mến tiếp tay

Dựng chòi tạm trú qua ngày gian lao.

Đất vườn cằn cỗi cố đào

Cuốc sâu xuống đất ai nào có hay

Tìm ra vàng bạc chất đầy

Mấy chum châu báu chôn đây lâu rồi.

*

Vợ chồng rất đỗi mừng vui

Cùng nhau tạo dựng cơ ngơi chốn này

Ngựa xe, nhà cửa, vườn cây

Khang trang lộng lẫy, phô đầy sắc hoa

Tốt lòng giúp đỡ gần xa

Kẻ nghèo tàn tật, người già neo đơn

Ơn lành chia khắp muôn phương

Từ bi tỏa ngát thơm hương một vùng.

*

Từ khi Công Chúa rời Cung

Nhà Vua nghĩ lại vô cùng ăn năn

Chắc con gian khó nhọc nhằn

Cho nên sai phái cận thần dò la

Phải tìm tung tích cho ra

Rồi về báo lại cho nhà Vua hay.

Cận thần đi khắp đông tây

Tìm ra Công Chúa vội quay về triều

Trước sau trình báo mọi điều

Vua nghe lòng vẫn còn nhiều hồ nghi

Dò la Vua đích thân đi

Mới hay Công Chúa trăm bề an vui.

*

Nhà Vua thắc mắc trở lui

Tìm khu tịnh xá, ghé nơi Phật Đài

Vua từng nghe tiếng tăm Ngài

Tu hành giác ngộ, ít ai sánh cùng

Vua vào đảnh lễ Phật xong

Tỏ bầy thắc mắc nỗi lòng ưu tư:

"Chắc xưa Công Chúa khéo tu

Kiếp này hưởng phước rất ư nhiệm mầu?"

*

Khoan thai Phật kể chuyện sau:

"Lái buôn có kẻ rất giàu trước kia

Chồng thời keo kiệt, chi ly

Vợ thời thành kính chuyên đi cúng dường

Giúp người nghèo khổ thập phương

Tôn thờ Tam Bảo lòng thường thành tâm,

Anh chồng bực bội vô ngần

Nhiều phen la mắng, bao lần cản ngăn,

Vợ bèn từ tốn khuyên răn

Mong chồng nguồn đạo ăn năn tìm về

Mau mau rời khỏi bến mê

Máu tham dẹp bỏ còn chi quý bằng,

Khuyên chồng ròng rã tháng năm

Mãi rồi chồng mới hồi tâm nghe lời.

Lái buôn keo kiệt một thời

Là chàng hành khất nổi trôi kiếp này,

Còn người vợ kiếp trước đây

Kiếp này sung sướng hưởng đầy hồng ân

Chính là Công Chúa Nhật Quang

Xinh tươi nhan sắc, đoan trang tính tình

Lại thêm tột bực thông minh

Đó là tiền kiếp ngọn ngành trước sau!".

*

Nhà Vua suy ngẫm hồi lâu

Lòng riêng chợt ngộ Đạo mầu sáng soi

Cúi đầu đảnh lễ cáo lui

Về triều ra lệnh cho người vội đi

Đón mời Công Chúa trở về

Cùng chồng trọn nghĩa phu thê mặn nồng

*

Ở đời nhân tốt gieo trồng

Quả lành, phước báu ta cùng hưởng thôi.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(Thi hóa Truyện Cổ Phật Giáo)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 559)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 787)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1929)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1272)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1631)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1216)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1808)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3384)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4195)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S