21. Dưới Gốc Mai Vàng

29/11/201115:17(Xem: 6400)
21. Dưới Gốc Mai Vàng
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(21)

Dưới Gốc Mai Vàng


Ngày xưa có vợ chồng Rùa

Sống trong hang đá bốn mùa thảnh thơi

Hang như tổ ấm cuộc đời

Bên dòng sông mộng nước trôi xanh mầu.

*

Một ngày Rùa Vợ ốm đau

Chạy thầy, chạy thuốc đã lâu chẳng lành

Rùa Chồng thương vợ bò quanh

Thở dài! Nhìn đám mây xanh than trời.

*

Chú Tôm thường lệ rong chơi

Bơi ngang hang đá nghe lời rên la

Hỏi thăm Rùa, rõ chuyện nhà

Tôm bèn lên tiếng thiết tha cứu người:

"Bệnh này cũng dễ chữa thôi

Cứ tìm gan khỉ về phơi ít ngày

Gan khô đưa vợ ăn ngay

Ăn xong bệnh khỏi! Thuốc hay vô vàn!".

*

Vợ chồng Rùa lặng lẽ bàn

Nghĩ mưu tính kế kiếm gan khỉ về

Nhớ ra ở đảo hoang kia

Giữa con sông vắng nước chia đôi dòng

Có đàn khỉ nọ thật đông

Quây quần nhảy nhót bên sông hàng ngày

Mỗi khi Rùa lội qua đây

Anh chàng Khỉ chúa thường hay rỡn đùa

Nhăn mày nhăn mặt trêu Rùa,

Phen này cho hết giở trò khinh khi!

*

Rùa từ biệt vợ ra đi

Tính toan chước quỷ, nghĩ suy mưu thần

Làm sao lừa Khỉ đến gần

Để rồi giết Khỉ lấy gan đem về.

Rùa bơi đến đảo nửa khuya

Vầng trăng mười sáu bốn bề sáng soi

Ánh vàng phô sắc trên trời,

Rùa bò lên đảo đến nơi Khỉ ngồi

Hỏi thăm. Gợi chuyện. Rỡn cười.

Khỉ chuyền cây xuống đùa chơi, tâm tình:

"Những đêm trăng sáng lung linh

Tôi ưa thức trễ, một mình ngắm trăng!"

Rùa bàn: "Thú vị chi bằng

Nếu nghe thêm cá tưng bừng hòa ca!"

*

Tò mò Khỉ hỏi thêm ra

Chàng Rùa tán tỉnh: "Gần nhà chúng tôi

Sáng ra lúc tỏ mặt trời

Cá đều hòa nhạc đón mời bình minh

Nhạc âm vang rất hữu tình

Hòa cùng tiếng sóng dập dình biển khơi

Nghe như giai điệu tuyệt vời

Du dương từ chốn Thiên Thai vọng về!"

*

Khỉ nghe, lòng dạ đê mê

Vội than: "Tôi chẳng có hề biết bơi!"

Chàng Rùa dụ dỗ đỡ lời:

"Lưng tôi rước bạn thảnh thơi cứ ngồi

Tôi đưa tới chốn tới nơi

Sợi lông không ướt! Xin mời đi ngay!"

Khỉ nghe đẹp dạ lắm thay

Lưng Rùa leo vội, nào hay bị lừa.

*

Sông trôi. Sóng cuộn. Gió lùa

Rùa bơi chở Khỉ, lòng Rùa sướng vui

Phục mình mưu mẹo hơn người,

Nửa đường đã thấy chân trời hừng đông.

Khỉ mơ mộng, giọng reo mừng:

"Gió đưa tiếng nhạc nghe chừng đâu đây!"

Rùa cười chú Khỉ thơ ngây:

"Nhạc nào mà có, mà say lòng người!

Tôi cần gan bạn mà thôi

Gan khô chữa bệnh vợ tôi mau lành!"

Khôn lanh Khỉ vội chối quanh:

"Gan nào mà có! Thôi anh lầm rồi!

Nhớ rằng loài khỉ chúng tôi

Mỗi khi đi tới một nơi chẳng lành

Thường treo gan lại trên cành

Nhẹ người, nhảy nhót cho nhanh đó mà!

Lá gan tôi để lại nhà

Về mang tặng chị làm quà được thôi

Tôi làm việc thiện quen rồi!"

Rùa nghe tưởng thật, tin lời thiệt hơn,

Ngượng ngùng khẽ nói: "Cám ơn!"

Bơi vòng trở lại, mừng rơn trong lòng.

*

Khỉ về tới đảo vui mừng

Nhảy lên, leo vội tuốt tầng cây cao

Nhắm lưng Rùa liệng mạnh vào

Một hòn đá lớn, miệng gào: "Gan đây

Đem về cho vợ ăn ngay

Vợ ăn mau khỏi! Chú mày khôn thêm!"

*

Rùa tuy đau đớn, lặng im

Chợt bừng ánh đạo! Thoắt chìm cơn mê!

Trong lòng hối hận tràn trề

Vội than: "Hiểm độc mọi bề là Tôm

Xúi bày ra chuyện ác ôn

Khiến ta mù quáng, đáng buồn lắm thay!"

Rùa ăn năn khẽ tỏ bày:

"Xin anh tha thứ, tôi đây lỡ lầm!"

Khỉ nghe Rùa nói thật tâm

Hết buồn. Hết giận. Ra ân cứu người:

"Kể nghe bệnh chị đầu đuôi

Tôi rành nghề thuốc. Tôi thời giúp anh!"

Rùa nghe, nước mắt long lanh

Bệnh tình của vợ ngọn ngành kể ra.

Khỉ bàn: "Quanh quất đâu xa

Lá cây làm thuốc chúng ta mau tìm!"

Cả hai vội vã đi liền

Kiếm ra đủ thuốc quanh miền đảo hoang.

*

Thế rồi Rùa trở về hang

Chở chàng Khỉ chúa nhẹ nhàng trên lưng

Lòng Rùa mở hội tưng bừng

Mưu mô xảo quyệt chẳng vương chút nào.

Bồng bềnh sóng nước nhẹ chao

Đưa Rùa và Khỉ trôi vào trong hang

Vợ Rùa nằm liệt, mơ màng,

"Ông thầy thuốc" Khỉ vội vàng ra tay

Trổ tài chữa bệnh thật hay

Bệnh nhân uống thuốc khỏi ngay tức thì,

Vợ chồng Rùa sướng kể chi

Cúi đầu lạy tạ. Nguyện ghi ơn này.

*

Khỉ mời Rùa, lúc chia tay:

"Có Tăng thuyết pháp tối nay bên rừng

Mời anh chị tới nghe cùng

Gây nền công đức, thoát vùng tử sanh

Hẹn nhau dưới bóng trăng thanh

Gốc cây mai đẹp trên cành đầy hoa!"

*

Rùa bơi chở Khỉ về nhà

Lên bờ Khỉ hái cành hoa mai vàng

Đưa Rùa, giọng nói dịu dàng:

"Mùa Xuân đã đến hương ngàn ngất ngây

Tặng anh chị cánh hoa này

Chúc luôn hạnh phúc vui vầy yêu thương!"

Ngậm hoa Rùa trở về hang

Tiếng lòng hòa nhịp sóng vàng reo vui.

(phỏng theo bản văn xuôi của Bảo Liên)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 830)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 945)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2206)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1434)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1883)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1332)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1887)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3716)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4886)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4620)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S