15. Người mù sờ voi

29/11/201115:17(Xem: 7296)
15. Người mù sờ voi
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(15)

Người mù sờ voi

Thuở xưa có một Quốc Vương

Tên là Cảnh Diệp dễ thương, hiền hòa

Chăm lo dân chúng nước nhà

Nhân từ, thuần hậu, gần xa mến Người

Người đem Phật pháp dạy đời

Cho nên thời đó khắp nơi an bình

Ngoài dân chúng, trong triều đình

Đạo mầu nhuần thấm, nghĩa tình chứa chan.

*

Tiếc thay bên cạnh ngai vàng

Vẫn còn vài vị đại thần kém may

Tôn thờ ngoại đạo mê say

Luôn gieo mâu thuẫn, mãi gây bất hòa,

Quốc Vương lòng dạ xót xa

Nghĩ suy tìm cách vạch ra lỗi lầm

Mong sao hoán cải thành phần

Còn xa Cửa Phật, chưa gần Thích Ca.

*

Một hôm lệnh Quốc Vương ra

Ai mà bị tật mù lòa bẩm sinh

Đại thần trong chốn triều đình

Phải ra công kiếm, dẫn trình quốc vương.

Các quan kiếm khắp xóm làng

Gom về một đám người mang tật mù

Dắt nhau cùng bước lần mò

Tay khua gậy trúc, chân dò lối đi.

*

Mọi người chẳng rõ chuyện chi

Vua cười khẽ nói: "Có gì lạ đâu,

Những người mù đã từ lâu

Con voi chẳng biết đuôi đầu ra sao

Đưa voi cho họ sờ vào

Để xem họ tả thế nào mà thôi!

Hãy khuyên họ cố tranh tài

Ai mà tả đúng Trẫm thời thưởng cho!".

*

Vui thay cả đám người mù

Chuồng voi gần đó được đưa ngay vào

Kềm voi kỹ lưỡng trước sau

An toàn, chắc chắn. Đua nhau mà sờ!

Chàng nào cũng nghĩ như mơ:

"Xưa nay mình có bao giờ sai đâu

Tay ta sờ giỏi hàng đầu

Luôn luôn chính xác, từ lâu tinh tường!".

Sờ voi xong họ vui mừng

Kéo nhau trở lại hoàng cung tranh tài.

*

Người sờ đúng cái vòi dài

Nói voi giống chiếu nhà ai cuốn tròn,

Người sờ phải cái ngà thon

Nói voi giống chiếc sừng non trâu làng,

Người sờ tai, cãi oang oang:

"Con voi giống cái quạt nan mùa hè

Quạt sao mát gớm mát ghê!".

Chàng mù kế tiếp vội chê mọi người

Hông voi sờ đúng tận nơi

Chàng bèn lên tiếng: "Voi thời khác chi

Bức tường dài, lại phẳng lì

Chính tay tôi đã ôm ghì nó đây!".

Người sờ chân nói:" Chán thay!

Các anh trật hết! Voi này chẳng qua

Giống như một cái cột nhà

Tôi đây ôm thử khó mà nâng lên!"

Người sờ đuôi vội cãi liền:

"Các anh thật đúng những tên... mù lòa,

Con voi giống chổi quét nhà

Tôi cầm, tôi nắm, tôi chà hồi lâu!".

*

Thế là cả đám gây nhau

Chàng nào cũng nghĩ mình đâu có lầm!

Nói nhao nhao, cãi rầm rầm

Gậy khua lên tưởng như gần phang nhau.

Vua, quan kẻ trước người sau

Nhìn vào hoạt cảnh tránh đâu khỏi cười,

Quốc Vương nói với mọi người:

"Các khanh thấy đó! Trò đời khác chi!

Chỉ riêng hình dáng voi kia

Người mù nào có biết gì rõ đâu

Vậy mà xúm lại cãi nhau

Nghĩ mình tài giỏi hàng đầu kém ai!"

*

"Trong triều đình cũng vậy thôi

Tà ma ngoại đạo lắm người vẫn theo

Tôn thờ chủ nghĩa, giáo điều

Với bao học thuyết mang nhiều lầm sai,

Chỉ hay một, chẳng biết hai

Mười phần chân lý nào ai tỏ tường!

Giữa vùng ánh Đạo thênh thang

Chỉ riêng Đức Phật vô vàn kính yêu

Là người giác ngộ mọi điều

Dạy ta chân lý cao siêu nhiệm mầu!"

*

Các quan hổ thẹn cúi đầu

Kể từ khi đó rủ nhau tu hành

Phụng thờ Tam Bảo chân thành

Ước mong thoát kiếp tử sanh luân hồi!"

(phỏng theo bản văn xuôi

của Hoàng Minh)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 782)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 895)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2099)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1375)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1786)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1284)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1861)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3532)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4727)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4557)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S