13. Con trâu

29/11/201115:17(Xem: 5614)
13. Con trâu
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(13)

Con trâu

Bác nông phu vác cày lên

Giắt trâu thong thả đi bên ruộng đồng

Trong lòng sung sướng vô cùng

Được mùa lúa tốt vui chung năm này.

*

Màn sương vén nhẹ đó đây

Vừng đông ló dạng chân mây mỹ miều

Cánh đồng màu mỡ phì nhiêu

Trải dài xa tắp uốn theo chân đồi

Lùa trâu xuống ruộng, Bác vui

Lấy chân ấn mạnh lên nơi lưỡi cày

Trâu già vẫn kéo khỏe thay

Đất màu xẻ rãnh chia hai lượn vòng

Đùn lên cao, uốn cong cong

Trông như sóng lượn mặt sông dập dình

Như thuyền rẽ nước lướt nhanh,

Trâu già giúp cả gia đình nông dân

Mỗi ngày khá giả làm ăn

Nhìn trâu trìu mến Bác thầm cám ơn,

Đôi khi tiếc việc ham công

Cả hai phí sức ngoài đồng biết bao.

*

Mặt trời giờ đã lên cao

Nắng gay gắt rọi, gió xào xạc bay

Bỗng trời cuồn cuộn giăng mây

Cánh đồng tối sẫm phủ đầy gió mưa

Người và trâu vẫn cày bừa

Đồng lao cộng khổ chờ mùa đẹp sang.

*

Đến khi trời tạnh mây quang

Nhà nông mệt mỏi vội vàng nghỉ tay

Tìm vào bóng mát nằm ngay

Ngả lưng đánh một giấc say đã đời.

*

Một con cọp đói trên đồi

Mon men đi xuống tìm mồi dưới nương

Trâu tuy khổ nhọc trăm đường

Sức tàn, lực kiệt vẫn thương chủ mình

Chạy bay lại cứu nhiệt tình

Gặp trâu hung dữ cọp đành bỏ đi.

*

Nhà nông chợt tỉnh cơn mê

Tưởng lầm trâu mệt nên chi húc mình

Thế là nổi trận lôi đình

Bẻ cây rượt đánh. Tội tình chú trâu

Ba chân bốn cẳng chạy mau

Tới khi chủ mệt, gục đầu gốc cây

Ru hồn vào giấc ngủ say,

Trâu ngừng chân thở, thương thay thân mình!

*

Cọp trong bụi rậm vẫn rình

Lại mon men xuống, mắt tinh liếc mồi

Trâu nhìn cọp sắp vồ người

Vội quên đi những vết roi trên mình

Lòng can đảm, dạ trung thành

Lao vào cứu chủ, phủ nhanh che người

Cọp kia thấy khó ăn rồi

Bỏ đi về phía núi đồi thẳm sâu.

*

Nhà nông say ngủ hay đâu

Giật mình tỉnh dậy tưởng trâu đè mình

Tưởng trâu hãm hại. Thất kinh!

Vác cây tới tấp nỡ đành quất trâu

Im lìm trâu chịu đớn đau

Hai hàng lệ tủi, lệ sầu tuôn rơi.

*

Vừa khi Đức Phật tới nơi

Biết trâu cứu khổ, biết người nghi oan

Ngài bèn bước đến cản ngăn

Đưa tay xoa nhẹ vết hằn lưng trâu

Xoa lằn roi rớm máu đầu

Ghé tai trâu nói đôi câu ôn tồn:

"Ta đây biết nỗi lòng con

Ta từng bị vậy. Chớ buồn làm chi!

Ta từng đau khổ ê chề

Nỗi niềm chua chát khác chi cảnh này"

*

"Con ơi! cũng chính ta đây

Vì thương nhân loại đọa đầy khổ đau

Ra đời tỏa ánh đạo mầu

Rắp tâm xoa dịu nỗi sầu thế nhân

Vậy mà nhiều kẻ hiểu lầm

Lắm phen chửi bới, bao lần cản ngăn

Phá ta, gây chuyện khó khăn

Ta đâu nản chí chùn chân bao giờ

Chỉ khi nào bản thân ta

Không tròn phận sự mới là đáng chê

Nếu không mang lợi ích chi

Không mang an lạc chút gì cho ai

Mới là đáng nhục mà thôi

Con nên tiếp tục giúp người chủ đây!"

*

Phật quay qua phía người này

Chỉ vào vết cọp in đầy xung quanh,

Chuyện trâu cứu chủ trung thành

Đầu đuôi kể lại ngọn ngành trước sau.

*

Nhà nông hối hận lòng đau

Ôm trâu nức nở, cúi đầu ăn năn

Đồi xa rực rỡ ánh dương

Phật bèn từ giã lên đường khoan thai

Nẻo về tịnh xá còn dài

Người và trâu mắt u hoài nhìn theo.


(phỏng theo bản văn xuôi

của Châu Đức)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 561)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 793)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1932)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1275)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1636)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1216)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1823)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3385)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4207)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S