11. Bớ người ta! Ăn cướp!

29/11/201115:17(Xem: 5581)
11. Bớ người ta! Ăn cướp!
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(11)

Bớ người ta! Ăn cướp!

Thuở xưa khi mới xuất gia

Ngài Xá Lợi Phất ở nhà còn em

Một trai, một gái lành hiền

Tiếc thay bà Mẹ cửa Thiền chẳng tin.

*

Sợ em trai lúc đủ duyên

Xuất gia sẽ bị Mẹ hiền cản ngăn

Ngài bèn căn dặn Chư Tăng

Xin vui lòng nhận, khó khăn chớ nề!

*

Thời gian thấm thoắt trôi đi

Em trai nay lớn. Mẹ thì lo âu

Sợ con nối gót anh đầu

Bỏ nhà theo ánh đạo mầu Thích Ca,

Mẹ lo cưới vợ về nhà

Em trai chắc hẳn xuất gia hết đường.

*

Rước dâu hôm đó rộn ràng,

Lễ nghi, phong tục xóm làng đặt ra

Chọn người tuổi tác đã già

Vợ chồng đầy đủ, cửa nhà ấm êm

Đứng ra xối nước lên trên

Đôi tay dâu, rể lấy hên bước đầu;

Chọn người nào khó gì đâu

Đó là Bà ngoại cô dâu sẵn rồi,

Bà làm lễ chúc lứa đôi:

"Sống chung hạnh phúc suốt đời bên nhau

Đến long răng, đến bạc đầu

Như Bà các cháu, khác đâu chút gì!"

*

Rể nhìn dâu đẹp đứng kia

Xinh tươi nhan sắc, tràn trề tuổi xuân,

Nhìn qua Bà ngoại ngồi gần

Thân già, tóc bạc, da nhăn, lưng còng

Răng không còn, mắt hết trong

Khiến chàng suy nghĩ mà lòng xốn xang:

"Ôi thời gian thật phũ phàng

Bà xưa cũng đẹp như nàng dâu kia

Rồi đây nàng có khác chi

Tàn đi sắc nước, mất đi hương trời!

Chẳng gì tồn tại trên đời

Đẹp tươi rồi cũng một thời qua mau

Còn gì thú vị nữa đâu

Anh mình thật khéo đã mau tìm đường

Tới bờ giải thoát thơm hương

Nương nhờ Cửa Phật, nêu gương cho mình!"

*

Chẳng còn muốn lập gia đình

Phát tâm chỉ muốn tu hành theo Anh

Rể kia nghĩ kế tinh ranh

Trên đường hai họ linh đình rước dâu

Chàng bèn ôm bụng kêu đau

Xin ngừng giải quyết. Trước sau nhiều lần.

Mẹ vô tình tưởng chuyện cần

Tưởng con ăn uống có phần bất an

Nên ra lệnh cho cả đoàn

Rước dâu về trước. Để chàng tự do

Về theo sau, chớ âu lo

Đừng chờ, đừng đợi khiến cho muộn màng.

*

Thật là dịp quý như vàng!

Chàng mừng, chạy thẳng qua làng kế bên

Vào Chùa xin xuất gia liền,

Chư Tăng không nhận, cửa Thiền chẳng dung

Vì theo luật Đức Thế Tôn

Đi tu cần sự thuận lòng mẹ cha.

Chàng năn nỉ rất thiết tha

Hồi lâu chẳng được bèn la vang trời:

"Bớ người ta! Cướp tới nơi!

Cướp đi của báu của tôi đây này!"

Chư Tăng chặn hỏi: "Im ngay!

Nơi đây cửa Phật, ban ngày, cướp đâu?"

*

Chàng bèn quỳ lạy thật mau

Một lòng thành khẩn cúi đầu khẽ thưa:

"Bạch Chư Tăng! Vốn từ xưa

Luân hồi sanh tử con vừa trải qua

Bọn Ma Vương chúng chẳng tha

Duyên lành chúng cướp biết là bao nhiêu

Tử thần cũng sẽ đến theo

Cướp đi sinh mạng bọt bèo của con

Thế là cơ hội chẳng còn

Buồn đau đời trước, héo hon kiếp này

Làm sao còn có duyên may

Tìm nương cửa Phật ngát đầy thơm hương

Hương chân lý tỏa muôn phương

Và hương giải thoát đưa đường chúng sanh!"

*

Chư Tăng nghe rõ ngọn ngành

Hỏi ra mới biết rõ anh của chàng

Là Xá Lợi Phất thân thương

Đã từng căn dặn mở đường cho em

Xuất gia vào lúc đủ duyên,

Cả chùa bèn chấp nhận liền. Vui thay!

Vừng dương rực chiếu cỏ cây

Đón người thoát tục từ đây tu hành.

(phỏng theo bản văn xuôi

của Thông Kham)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 957)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1161)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2540)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1641)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 2409)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1676)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2207)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4371)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5469)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 5346)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S