24. Nai Hiền

29/11/201115:17(Xem: 6828)
24. Nai Hiền
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(24)

Nai Hiền

Ngày xưa có chú Nai hiền

Nhởn nhơ vui sống giữa miền hoang sơ

Trong khu rừng rậm ven bờ

Sông Hằng cuồn cuộn sóng mờ nhân gian.

Dáng Nai đẹp đẽ dịu dàng

Sừng trong nước ngọc, thân vàng ánh châu

Nhưng mắt Nai lắng u sầu

Thương cho trần thế nhuốm mầu bi ai,

Nai nghe, nói được tiếng người

Nai là Bồ Tát một thời hiện thân.

*

Bên Nai muông thú quây quần

Coi Nai như Mẹ muôn phần yêu thương

Như Thầy sáng suốt dẫn đường

Một vùng đồi núi ngát hương thanh bình.

Sợ người thấy sẽ hại mình

Nai cùng muông thú sống quanh trong rừng.

*

Một ngày trời đất mịt mùng

Sông Hằng gầm thét sóng dâng ngập tràn

Nai đang thơ thẩn non ngàn

Chợt nghe kêu cứu tiếng vang núi đồi

Nhìn xa Nai thấy một người

Ôm thanh củi mục chơi vơi giữa dòng

Mênh mông sóng nước reo cuồng

Sức người đã yếu, sắp buông trôi rồi

Tâm Bồ Tát bỗng rạng ngời

"Người mà đau khổ, ta thời khổ đau!

Cứu người trước, cứu mình sau!"

Nai lao vội xuống dòng sâu vớt người,

Sá chi sóng gió dập vùi

Dìu người lên được tới nơi an toàn.

*

Nạn nhân tỉnh lại bàng hoàng

Cám ơn công đức vô vàn của Nai

Nguyện xin tạc dạ lâu dài

Khiến Nai sung sướng thốt lời tâm can:

"Mừng Ông còn tấm lòng vàng

Dạt dào ân huệ, chứa chan nghĩa tình!

Hãy về ngay với gia đình

Nhớ đừng nói chuyện chúng mình nơi đây

Người đời nham hiểm chất đầy

Sẽ tìm cách bắt thân này mất thôi!".

Nạn nhân hứa chắc một lời

Khấu đầu lạy tạ. Về nơi thị thành.

*

Người về đoàn tụ gia đình

Ðúng khi Hoàng Hậu tâu trình cùng Vua:

"Ðêm qua thần thiếp nằm mơ

Thấy con Nai đẹp nói ra tiếng người

Nai thần thật quả lạ đời

Trên tòa giảng Pháp lời lời cao sang

Thật là chuyện lạ vô vàn

Nếu ta bắt được Nai vàng về cung

Nhốt Vườn Thượng Uyển vui chung

Ðiềm lành cho nước! Ðiều mừng cho ta!"

Vua nghe thỏ thẻ lời hoa

Chiều lòng Hoàng Hậu, lệnh ra khắp miền:

"Ai mà giúp bắt Nai hiền

Vua ban bổng lộc, bạc tiền, chức cao!"

*

Người mà Nai cứu hôm nào

Nghe Vua trọng thưởng, xôn xao cõi lòng

Nghĩ mình cùng với vợ con

Ðói nghèo kiếp sống, héo hon cuộc đời

Máu tham nổi dậy trong người

Quên ân tình cũ, nuốt lời thề xưa

Y cười phản bội say sưa

Nhưng kìa phép lạ như vừa xảy ra

Mặt người chất phác hôm qua

Giờ đây gớm ghiếc xấu xa vô cùng.

*

Tên gian phản bội vào cung

Tâu Vua chỗ ở trong rừng của Nai.

Vua sai quân lính của Ngài

Bao vây bốn phía bên ngoài rừng hoang

ào ào chó dữ sủa vang

Kèn săn trổi giọng oang oang tiến vào

Thú rừng hoảng hốt lao xao

Nai hiền choàng tỉnh xiết bao ngỡ ngàng

Biết rằng trốn cũng muộn màng

Tay người hung ác bạo tàn xưa nay

Nai đang nghĩ ngợi, loay hoay

Thì bao quân lính tới ngay bên rồi

Vua, Quan cũng đã đến nơi

Vua nhìn Nai đẹp ngây người ngợi khen

Truyền không được bắn cung tên

Làm sao bắt sống Nai hiền về cung.

*

Mọi người chưa kịp vây lùng

Nai hiền tự đến thưa cùng Vua, Quan:

"Ai đưa Ngài đến non ngàn

Nơi tôi trú ẩn chốn hoang vu này?"

Vua nghe kinh ngạc lắm thay,

Chỉ tên phản bội đứng ngay sau Ngài:

"Hỡi Nai thần! Chính tên này

Ham tiền chỉ lối tới đây săn tìm!".

*

Mọi người cùng lúc quay nhìn

Rồi cùng một lúc kêu lên hãi hùng,

Mặt tên phản bội đưa đường

Chỉ trong khoảnh khắc vô cùng gớm ghê

Bao nhiêu máu mủ tràn trề

Khắp nơi lở loét khó bề nhận ra.

Nai thưa: "Mọi việc chẳng qua

Chỉ là quả báo diễn ra thật gần

Tên này bội nghĩa vong ân

Tham lam mờ mắt, bất nhân hại người!"

Rồi Nai kể rõ đầu đuôi

Chuyện mình cứu hắn chết trôi giữa dòng.

*

Nhà Vua nghe hiểu chuyện xong

Mắng tên phản bội: "Mi lòng tanh hôi

Mi làm ô uế danh Người

Mi không đáng sống trên đời làm chi!"

Vua giương cung xử bắn y

Nhưng Nai nhảy vội đứng che tên này

Nai thưa: "Tội hắn ngày nay

Kéo theo quả báo đến ngay đây rồi

Mặt y lở loét tanh hôi

Là điều trừng phạt một đời khó quên

Ngài tha cho hắn một phen!

Phần tôi xin đứng một bên chờ Ngài!".

*

Nhà Vua chợt thấy sáng ngời

Một vùng hỷ xả, một trời từ bi

Vua ban: "Ngươi hãy đi đi

Hỡi tên phản bội! Tha mi phen này

Ði cho khuất mắt ta ngay

Làm Người không đáng! Ðừng quay trở về!"

Tên kia hổ thẹn ê chề

Bước đi lầm lũi, kéo lê thân người

Lưng quay về phía mặt trời

Theo vùng bóng tối, vào nơi bùn lầy.

Vua nhìn Nai khẽ tỏ bày:

"Tự do xin trả từ đây cho Ngài!

Trẫm lòng kính phục lắm thay

Ngài đem chân lý gieo đầy nhân gian

Soi đường giác ngộ thênh thang

Tim này nguyền khắc lời vàng từ bi!".

Vua ra lệnh kéo quân đi

Núi rừng trở lại bốn bề bình yên.

*

Kể từ khi đó đêm đêm

Hiu hiu gió mát, êm đềm trăng thanh

Một bầy muông thú hiền lành

Quây quần trìu mến chung quanh Nai hiền

Như chờ nghe những lời thiền

Nghe lời giảng đạo giữa miền hoang vu.

(phỏng theo bản văn xuôi

của Huyền Thanh)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 773)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1769)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1262)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1620)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1213)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1791)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3367)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4599)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4176)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S