Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

23. Cây Táo Thiết Sơn

29/11/201115:17(Xem: 1462)
23. Cây Táo Thiết Sơn
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(23)

Cây Táo Thiết Sơn

Thiết Sơn núi thẳm xa xưa

Có cây táo nọ rất ư lâu đời

Thân to, tán lá rợp trời

Chưa hề có quả, tứ thời cành trơ.

*

Gần chân núi có tiều phu

Tên là Chí Hiếu, ốm o, thân gầy

Chuyên nghề lên núi lượm cây

Mang về làm củi, bán ngày kiếm ăn

Quanh năm sinh sống khó khăn

Một mình nuôi Mẹ nhọc nhằn sớm trưa.

Mẹ chàng bệnh hoạn, già nua,

Thuốc thang nào có tiền mua vì nghèo

Dần dần bệnh nặng thêm nhiều

Trở thành tê bại Mẹ yêu liệt giường,

Chàng buồn số phận đau thương

Thở dài, than ngắn mãi vương muộn phiền.

*

Một đêm hầu cạnh Mẹ hiền

Mẹ đà an giấc. Ngoài hiên sáng trời

Chàng bèn nhẹ bước ra chơi

Say sưa ngắm ánh trăng nơi đầu ghềnh,

Núi rừng sương phủ bồng bềnh

Ðọng trên ngọn cỏ, đầu cành như hoa

Như muôn ngàn ánh sao sa

Long lanh suối vắng, thướt tha đêm trường.

*

Tiều phu đang phút mơ màng

Chợt đâu trước mặt hào quang sáng lòa

Một tiên ông bỗng hiện ra

Chòm râu trắng bạc, nước da hồng hào

Dáng uy nghi, vẻ thanh cao

Phất phơ áo trắng, gậy đào cầm tay.

Tiều phu phách lạc, hồn bay

Tiên ông khẽ nói: "Ta đây! An lòng!

Ta là Hòa Thượng trên non

Ở ngay trong dãy Thiết Sơn lâu rồi

Vì con hiếu thảo ở đời

Cho nên động tới đất trời linh thiêng

Hôm nay hội đủ cơ duyên

Ta về chữa bệnh Mẹ hiền giúp con!".

Tiều phu mừng rỡ trong lòng

Vội quỳ bái tạ vô cùng trang nghiêm.

*

Xua tay, Hòa Thượng nói thêm:

"Con mau sửa soạn leo lên núi này

Tìm cây táo quý lâu ngày

Hái ngay một trái về đây cứu người

Dâng lên cho Mẹ con sơi

Mẹ dù bệnh nặng ăn thời khỏi luôn!".

*

Tiều phu nghe lệnh phân vân

Xưa nay cây táo xa gần đều hay

Chưa hề có quả một ngày

Lấy chi để hái? Lệnh này trớ trêu!

Nhưng Hòa Thượng nói: " Làm theo

Ðúng lời ta dặn chớ nhiều nghĩ suy!

Hãy lên hái táo ngay đi

Giờ cây có trái cũng vì cảm thông

Thương con hiếu đễ một lòng

Bà con quý mến khắp vùng Thiết Sơn!"

Tiều phu sụp lạy tạ ơn

Ngẩng lên Hòa Thượng biến luôn mất rồi.

*

Suốt đêm trằn trọc mãi thôi

Tiều phu lên núi khi trời hừng đông

Sương lam còn phủ mênh mông

Rừng hoang, núi vắng chập chùng êm ru

Chỉ riêng dòng thác vô tư

Rì rào khe núi vọng đưa khúc tình

Như chờ đón ánh bình minh

Dịu dàng soi tỏ tâm linh con người.

*

Thân vất vả, lòng an vui

Cỏ cây rậm rạp, núi đồi cheo leo

Tiều phu cương quyết cố trèo

Ðầu non vừa tới, nắng theo ngang đầu

Ngẩng nhìn cành táo trên cao

Thấy ngay một quả. Xiết bao lạ lùng,

Chàng reo lên rất vui mừng

"Tạ ơn Hòa Thượng mở đường cứu con!".

Táo thần bỗng hiện nhiều hơn

Quả to, chín đỏ như son trĩu cành

Chàng leo lên hái thật nhanh

Mê mờ che lấp biến thành máu tham

Hái nhiều đầy ắp một làn

Nhét thêm đầy túi mới mang về nhà.

*

Ðầu đuôi kể lại Mẹ già

Tiều phu dâng táo mời bà Mẹ sơi

Ngạc nhiên Mẹ đến nghẹn lời

Chắp hai tay lại vái trời trên cao

Miệng luôn niệm Phật thì thào

Tạ ơn trời, Phật dạt dào lòng nhân

Tạ ơn Hòa Thượng vô ngần

Mẹ ăn táo quý lòng thầm sướng vui.

Táo thần thật quả lạ đời

Mẹ ăn xong táo bệnh thời khỏi luôn

Ðôi chân cử động bình thường

Chẳng còn tê bại liệt giường như xưa

Bước lần theo cánh liếp thưa

Lâm râm khấn nguyện ơn vừa được ban.

*

Tin đồn phép lạ truyền lan

Bà con kéo đến rộn ràng khắp nơi

Nhờ tay Chí Hiếu giúp đời

Kẻ thời bệnh nặng. Người thời kinh niên

Tiều phu chia táo giúp liền

Táo thần như có phép tiên chữa lành.

*

Tháng ngày lần lượt trôi nhanh

Tiều phu chợt nghĩ công mình khó khăn

Lên non hái táo nhọc nhằn

Nên đòi con bệnh trả phần tiền công.

Bạc tiền theo táo chất chồng

Lòng tham theo bạc càng nồng hơi tanh!

Tiền công ngày một tăng nhanh

Thẳng tay vơ vét mau thành phú ông

Màng chi con bệnh tay không

Bạc tiền nếu thiếu đừng mong cậy nhờ!

*

Thời gian thấm thoắt thoi đưa

Tiều phu Chí Hiếu xác xơ thuở nào

Giờ đây rạng mặt phú hào

Khắp vùng nổi tiếng sang giàu nhất thôi,

Lâu đài tráng lệ tuyệt vời

Quân hầu, xe ngựa cuộc đời lên hương.

*

Một hôm có gái đáng thương

Phương xa lặn lội tìm đường ghé sang

Khẩn cầu mắt lệ dâng tràn

Nàng cần táo quý xin chàng giúp cho

Mẹ nàng hấp hối nằm chờ

Trên giường tử biệt mong nhờ táo tiên!

Ngặt vì nàng chẳng có tiền

Phú ông Chí Hiếu đuổi liền thẳng tay,

Gái nghèo van khóc tội thay

"Không tiền không táo!". Ðành quay trở về.

*

Ðêm hôm đó dưới trăng thề

Một trời vằng vặc, bốn bề nên thơ

Ðứng trên đỉnh núi mộng mơ

Phú ông Chí Hiếu say sưa ngắm nhìn

Táo thần giúp hái ra tiền

Trong lòng đắc ý nên liền cười vang.

Chợt đâu một đạo hào quang

Vụt ngang hiện trước mặt chàng: "Người ơn"

Ðó là Hòa Thượng Thiết Sơn

Giọng Ngài nghiêm nghị, đâu còn như xưa

Trước kia vui vẻ có thừa

Giờ đầy quở trách, lại vừa uy nghiêm:

"Nghe đây Chí Hiếu ham tiền

Tham lam che lấp tâm hiền thuở xưa

Chẳng còn có chút lòng từ

Ðừng mong hưởng lộc giống như ngày nào!

Những gì ngươi đã thu vào

Tan mau như bọt sóng chao biển này!"

Nói xong Hòa Thượng vung tay

Nhổ luôn cây táo lên ngay tức thì

Nhắm ra biển Ngài ném đi,

Bóng Ngài biến mất. Bốn bề lặng yên.

Tiều phu sợ hãi vô biên

Ra về lủi thủi, muộn phiền xiết bao

Nhưng lòng yên trí phần nào

Nghĩ mình chất chứa sẵn bao bạc tiền

Dù cho chẳng có táo tiên

Vẫn còn vui hưởng của riêng đã đầy.

*

Tới nhà chàng sững sờ thay

Rõ ràng chốn cũ: "Lâu đài còn đâu?"

Tưởng chừng đang giấc chiêm bao:

Lều tranh nghèo khó thuở nào hiện ra,

Trên mình quần áo xa hoa

Biến thành cũ nát như là trước kia.

Tiều phu nước mắt đầm đìa

Tiếc thương cơ nghiệp biến đi mất rồi

Hai tay trắng khẽ buông xuôi

Thở dài hối hận, ôi thôi muộn màng!

*

Mây mờ che phủ trăng vàng

Thiết Sơn gió vẳng cung đàn hư không!

(phỏng theo bản văn xuôi
của Phạm Ngọc Khuê)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/07/202003:39(Xem: 466)
Hồi tháng Giêng năm nay, ông Mohan Paswan, một tài xế xe thồ tuk-tuk, bị thương trong một tai nạn giao thông. Ông tạm trú ở Gurugram, ngoại ô thủ đô New Delhi, nơi ông suốt ngày hành nghề chở khách bằng chiếc xe cà tàng có gắn máy. Tiền kiếm được ông gửi về quê nuôi vợ con ở Bihar, tiểu bang miền đông Ấn Độ, cách xa đến 700 dặm (trên 1.100 km.) Sau tai nạn, ông Paswan không thể tiếp tục chạy xe để kiếm tiền, không những thế ông cần sự săn sóc. Cô con gái ông, Jyoti Kumari, 15 tuổi, nghe tin liền nhảy lên tàu lửa đi tìm cha rồi ở cạnh ông để chăm lo. Thế rồi cơn đại dịch xảy ra.
02/07/202004:39(Xem: 348)
- Chú An ơi, chú còn pin không cho tôi xin với? - Ô, hết rồi Cụ ơi, con cũng không có tiền để mua pin mới! Thôi Cụ chịu khó nghỉ nghe tin tức vài hôm nha, có tiền con sẽ mua cho Cụ! Ông Cụ mắt nhìn vào chiếc radio buồn buồn, cúi đầu xuống rồi lại ngước lên, trông thật tội! -Thì cũng đành vậy thôi. Cám ơn Chú! Cụ có chiếc radio đã cũ lắm rồi, khổ cỡ của nó bằng cuốn vở học trò, cái cần ăng ten đã sứt từ lâu, ông tự chế lại bằng cọng căm xe đạp khiến tiếng nói nghe khàn khàn, thỉnh thoảng ông phải đập đập vào tay nó mới có âm thanh; màu sơn bây giờ cũng phai gần hết, lốm đốm, thay vào đó, mồ hôi tay, nhiều chỗ dính chút xi măng, lấm tấm đất…và thời gian đã làm chiếc radio của ông trông thật tội! Ngày nào cũng vậy, cứ hai lần sáng tối, ông nhìn chiếc đồng hồ treo trên vách đất, đến giờ đài phát thanh thời sự là ông mở radio. Thời gian đầu, mấy Chú lo lắng, vì theo sự quy định của Sư Phụ thì tất cả những chú Tiểu mới vào chùa đều không được phép sử dụng bất cứ loại máy thu
29/06/202018:00(Xem: 199)
Cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc còn lưu lại một câu đối đậm thiền vị tại ngôi chùa cổ Hội Khánh, nơi đặt Trụ sở Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Bình Dương: “Đại đạo quảng khai thố giác khuê đàm để nguyệt Thiền môn giáo dưỡng, qui mao thằn thụ đầu phong” Tạm dịch: Mở rộng đạo lớn như sừng thỏ như mò trăng đáy nước Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa như cột gió đầu cây. Chùa xây dựng từ thế kỷ XVIII (1741), 1861 chùa đã bị chiến tranh tàn phá thiêu hủy. Đến năm 1868, chùa được xây dựng lại ở vị trí hiện nay với khuôn viên trên 1.200m2.
28/06/202018:15(Xem: 552)
Bức tượng được sơn son thếp vàng, tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen nằm đè lên.
25/06/202004:55(Xem: 471)
Thầy tôi là Giáo Thọ về môn Lịch Sử Phật Giáo và Cổ Đại Hán Ngữ trường Cao- Trung Phật Học Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu. Thầy có trí nhớ rất tốt, ngoài lĩnh vực chuyên môn thì hầu như “bỏ túi” nhiều bộ tiểu thuyết Lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc như Đông Chu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử .v.v…Và đây là những viên kẹo tinh thần mà Thầy tôi thường thưởng cho huynh đệ chúng tôi trong lúc làm việc. Tưởng chừng những câu chuyện đó đã trôi vào dĩ vãng theo những năm tháng đầy biến động của cuộc đời, nhưng thật kỳ diệu tất cả dường như đều được sắp xếp lại gọn gàng trong ký ức của tôi như những món quà tâm linh và cùng lớn dần với dòng đời. Thời gian qua, thế giới đang oằn mình giữa cơn đại dịch Covid-19.
18/06/202013:04(Xem: 423)
Phiên đại triều của Thiên Đình cứ trăm năm một lần kỳ này diễn ra trong bầu không khí thật hoang mang, mệt mỏi. Thái Bạch Kim Tinh nay đã già yếu lắm rồi. Cụ tâu trình quên trước quên sau khiến Ngọc Hoàng Thượng Đế chau mày rồi cũng phải thông cảm, khoát tay ra hiệu cho qua. Nam Tào, Bắc Đầu tai đã nghễng ngãng, gầy ốm hom hem, vầng trán nhăn nheo vì quá căng thẳng với chuyện của trần gian. Bà Lê Sơn Thánh Mẫu có lẽ nhờ Vườn Đào và biết sửa sang sắc đẹp cho nên trông vẫn trẻ. Thiên Lôi tuy còn khoẻ nhưng kể từ khi loài người chế ra cột thu lôi thì ông chỉ còn “ vớ ” được một vài người ngu ngơ chẳng may lang thang ngoài đồng ruộng trong lúc trời mưa gió. Ngoài ra uy quyền của ông còn bị sứt mẻ vì Ngọc Hoàng Thượng Đế vừa bổ
17/06/202004:46(Xem: 480)
- Hai Chú đói bụng lắm phải không? Mặt mày xanh lè, tái mét hết rồi! Con có cơm của Ông Bà Chủ đem ra để chút nữa ăn. Con chia hai chú một miếng nha. Tôi quay nhìn, Dũng Đen chạy đến gần tôi nói giọng líu ríu, Nó chăn đàn vịt thuê cho Ông Bà Chín trong xóm, nghe nói nó quê Miền Tây nhưng không biết chính xác ở nơi nào, chỉ nghe nó kể nhà nghèo, anh em đông, Dũng là con trai lớn, dù thương lắm nhưng Ba Mẹ nó đành bấm bụng cho nó đi giữ vịt thuê lấy tiền để nuôi gia đình. Mỗi năm Dũng chỉ về nhà được một lần trong dịp tết. Dũng Đen nhỏ hơn tôi hai tuổi nhưng trông mạnh khỏe và lanh lợi, mọi người kêu Dũng Đen vì ngoài cặp mắt ra thì cả người nó đen nhánh. Không biết vì da nó đen hay là vì từ nhỏ đến giờ ở ngoài đồng ruộng nên mới đen như vậy?
15/06/202016:17(Xem: 809)
Thuở ấy nơi thành Ca Tỳ La Vệ của xứ Ấn Độ nhiều tín ngưỡng, nhiều giai cấp và nhiều bất công, đấy là nơi lý tưởng cho họ sinh ra và gặp nhau để nối mối lương duyên kết thành vợ chồng trong kiếp cuối cùng. Chàng là Thái tử phước báu đầy người với 32 tướng tốt, sức khỏe phi thường. Nàng là công chúa nước nhỏ láng giềng, dung mạo đoan trang và diễm kiều, lúc nào cũng là đối tượng thu hút cho các vương tôn công tử con nhà quyền quý đến tuổi kén vợ. Nhưng duyên trời đã định sẵn cho họ thành vợ chồng, nên cho dù anh chàng Đề Bà Đạt Đa có ba đầu sáu tay đến đâu, có mưu mô giành giật tới đâu cũng không chiếm được trái tim nàng công chúa khả ái này. Tuy nhiên để cho công bằng và theo đúng luật lệ của hoàng gia, các chàng phải thi đấu trong tất cả các bộ môn từ cung cho tới kiếm, ai chiến thắng sẽ được làm phò mã.
04/06/202004:45(Xem: 684)
- Nhanh chân lên các con, vào chòi tránh mưa thôi! Tiếng Thầy gọi, huynh đệ chúng tôi mỗi người cùng phụ nhau đem giỏ thức ăn và mấy đồ lặt vặt đi làm vào trong chòi. Gọi cái chòi chứ thật ra đây chỉ là chuồng Bò cũ của ông Sáu già gần chùa đã bỏ vài năm nay, trống trơn, chỉ còn phần mái che ở trên nhưng tranh cũng đã sắp mục rồi! Giữa bốn bề đồng ruộng trống trơn không có bóng cây thì cái chòi tranh là nơi duy nhất để tạm lánh những lúc nắng mưa.
03/06/202016:49(Xem: 466)
Sau 26 năm lưu đày biệt xứ với 2 bản án Chung thân của người tù trải qua hơn một phần tư thế kỷ, tôi trở về từ cõi chết được bình an, trong sự chào đón hân hoan vui mừng của mọi người thân ruột thịt cốt nhục gia đình của quý chư Tôn Đức Pháp quyến. Đặc biệt các Tổ chức Nhân quyền LHQ, Hội Ân xá Quốc tế, Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam tại Hải ngoại, Phòng Thông tin Phật Giáo Quốc tế tại Paris, các Đài Truyền thông Quốc tế loan tải phổ biến tin vui. Nhiều đồng bào Phật Tử xa gần trong và ngoài nước, đã gửi điện thư, điện thoại, đến đất Bạc nơi mái tranh nghèo tôi đang tạm trú,