Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

3. Trước Tác Chủ Yếu Của Hai Đại Tổ Sư

12/04/201107:13(Xem: 3448)
3. Trước Tác Chủ Yếu Của Hai Đại Tổ Sư

THIỀN TÀO ĐỘNG NHẬT BẢN
Nguyên tác: Azuma Ryushin (Đông Long Chơn) - Việt dịch: Thích Như Điển
Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc và quý Phật Tử tại Mỹ Châu – Úc Châu ấn tống 2008

Chương ba:
Tông Chỉ, Giáo Nghĩa và Thánh Điển

IV.3 Trước Tác Chủ Yếu Của Hai Đại Tổ Sư

IV.3.1 Với Tấm Lòng Cung Kính Để Xem

Tăng sĩ và Tín Đồ Tông Tào Động đều biết rõ và không thắc mắc khi nói đến Tông Tổ là nói đến Lưỡng Tổ: Cao Tổ Thiền Sư Đạo Nguyên và Thái Tổ Thiền Sư Oánh Sơn. Tôn kính Lưỡng Tổ Đại Sư là tôn kính những tác phẩm được gọi là Thánh Giáo, mà quý Ngài đã soạn ra. Thật ra, một Thiền Tăng như Thiền Sư Đạo Nguyên có số tác phẩm như thế là nhiều lắm, vả lại nội dung các tác phẩm rất cao siêu bao hàm tính cách siêu việt của con người, rất thật tế cho nên phải nói rằng Ngài là bậc Thánh Tăng trác tuyệt, không riêng được Tăng Tín Đồ Tông Tào Động tôn kính mà những Tông khác nữa. Đối với ngoại quốc, Ngài là Thiền Sư Nhật được nhiều người lưu tâm nhất, bởi vì thế giới của Ngài Đạo Nguyên là tác phẩm Ngài đã viết và chính nhờ những tác phẩm đó mà Ngài trở thành Thiền Sư Đạo Nguyên của nhân loại.

Như Thiền Sư Đạo Nguyên, Thiền Sư Oánh Sơn cũng có nhiều tác phẩm, song những tác phẩm của Ngài hiện còn sót lại không nhiều bằng. Thật ra, tác phẩm của Thiền Sư Đạo Nguyên được nhiều người thích thú nghiên cứu, nhưng trước tác của Thiền Sư Oánh Sơn, dù nói cách nào đi nữa cũng phải thành thật mà nói, không được giới thiệu nhiều. Gần đây, có nhiều điều khá hơn, bởi vì trên thực tế nếu không đọc những trước tác của Thiền Sư Oánh Sơn, khó mà hiểu rõ Thiền Sư Đạo Nguyên. Nói khác, phải nói rằng nếu tôn kính Lưỡng Tổ của Tông Tào Động, không thể không quan tâm về những tác phẩm của Thiền Sư Oánh Sơn được, cho nên, sẽ giới thiệu đơn giản về những trước tác ấy, đặc biệt chỉ trích đoạn mà thôi.

Hơn nữa, những trước tác của Lưỡng Tổ Đại Sư không phải là những tác phẩm văn học, chẳng phải là những văn hiến lịch sử có tính cách lịch sử học, mà là những Thánh Giáo truyền trao cốt tủy Phật Pháp. Thật không sai khi nói rằng quý Ngài viết suốt cả đời người bằng kinh nghiệm tâm linh, hợp chân lý, tâm thanh tịnh, cho nên chúng ta phải đọc một cách cung kính, với tất cả thiện ý, không thể hiểu sai và xem như kim chỉ nam của nội tâm trong cuộc sống hằng ngày.

IV.3.2 Trước Tác Của Thiền Sư Đạo Nguyên
Giải thích những trước tác của Thiền Sư Đạo Nguyên.

IV.3.2.1 Bảo Khánh Ký (Bokyoki)

Thiền Sư Đạo Nguyên viết trong vòng bốn năm khi tu ở các chùa Trung Hoa, từ năm Trinh Ứng thứ 2 , lúc 24 tuổi, đến năm An Trinh nguyên niên lúc 28 tuổi. Khoảng thời gian ấy và suốt cả đời Ngài cung kính Thiền Sư Như Tịnh như bổn sư tại chùa Cảnh Đức, huyện Thiên Đồng, tỉnh Chiết Giang. Tác phẩm gọi là Bảo Khánh Ký hoàn thành từ ký ức Ngài về cuộc đời tu học của Ngài ở Trung Hoa, đa phần thuộc thể vấn đáp, viết bằng Hán Văn diễn tả khi Ngài còn là một Thiền Sư trẻ, có tư duy bao quát và bình luận những điểm chánh yếu trong Phật Pháp trở thành giáo thuyết nhưng cũng có một ít phê phán. Tác phẩm cho biết Thiền Sư Đạo Nguyên đã thọ giáo và có nhiều ảnh hưởng tư tưởng Thiền Sư Như Tịnh, tư tưởng thời nhà Tống năm Bảo Khánh nguyên niên đến năm thứ ba . Có lẽ tác phẩm nầy được viết vào khoảng thời gian đó, dù hôm nay không còn bản chính nữa. Năm Kiến Trường thứ năm Thiền Sư Đạo Nguyên viên tịch, Cao Đệ - Thiền Sư Hoài Tráng tìm thấy di thư nầy bèn yên lặng cho đến năm Khoan Diên thứ ba mới công bố phát hành quyển “Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp – Butsuso Shoden Bosatsukai Saho”. Trong khi lưu học tại Trung Hoa, Thiền Sư Đạo Nguyên còn ghi lại tất cả nghi lễ tác pháp thọ giới từ Giới Sư Như Tịnh Thiền Sư vào ngày mồng 8 tháng 9 năm Bảo Khánh nguyên niên đời nhà Tống lúc Ngài 26 tuổi, thuộc Gia Lục nguyên niên 1225 của Nhật Bản. Đối với Giới Bồ Tát, theo “Tu Chứng Nghĩa” cho biết, ở chương thứ ba việc Thọ Giới Nhập Vị, có nói rõ: Tam Quy, Tam Tụ Tịnh Giới, Mười Giới Trọng của 16 Giới Điều và còn gọi là Phật Giới. Khi Tông Tào Động dạy về Giới thường căn cứ vào tác phẩm nầy và truyền lại cho đến ngày nay. Tác phẩm nầy phát hành năm Bảo Lịch năm thứ tám .

IV.3.2.2 Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi - Fukan Zazengi

Với Tông Tào Động, đây là Tông Điển được dùng hằng ngày. Năm An Trinh nguyên niên Thiền Sư Đạo Nguyên được 28 tuổi từ Trung Hoa trở về bắt đầu dạy Phật Pháp và Tọa Thiền theo Phật Tổ Chánh Truyền cho những người sơ cơ và soạn tác phẩm nầy với nội dung trình bày ý nghĩa Tọa Thiền, Truyền Thống, Tâm Đắc, Phương pháp, Công Đức v.v... Tác phẩm nầy được xem là sách hướng dẫn về Tọa Thiền rất căn bản đầu tiên ở Nhật, được viết bằng Hán Văn theo thể 4 và 6 chữ gọi là Biền Lệ (Benrei). Năm 34 tuổi, nhằm năm Thiên Phước nguyên niên Ngài hoàn thành tác phẩm tại am tranh chùa Hưng Thánh, Kyoto. Hiện nay bản gốc được lưu giữ tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự (tài liệu quý hiếm của quốc gia).

IV.3.2.3 Chánh Pháp Nhãn Tạng – Shoho Genzo

Có tất cả 95 quyển vừa là tác phẩm đại biểu trong những trước tác của Thiền Sư Đạo Nguyên, vừa là Tông Điển của Tông Tào Động. Gần 20 năm dài từ năm Khoan Hỉ thứ ba đến năm Kiến Tường thứ năm Ngài lưu trú tại chùa chùa Hưng Thánh và chùa Vĩnh Bình để biên soạn tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng” nầy. Nội dung của tác phẩm đúng với chân tủy của Phật Pháp. Tên sách liên quan đến phương pháp Tọa Thiền và nội dung hàm chứa những đề tài giảng dạy của Thiền Sư Đạo Nguyên. Dường như, Ngài muốn dừng lại phần cuối ở quyển thứ 100. Tông Chỉ của Tông Tào Động, đặc biệt Giáo Nghĩa vẫn căn cứ theo tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng” nầy. Trong 95 quyển, hoàn toàn là chữ viết tay của Thiền Sư Đạo Nguyên, được mang đi khắp các nơi trên toàn quốc. Năm Nguyên Lục thứ ba người ta viết lại còn 60 quyển, rồi 75 quyển rút gọn từ 95 quyển bằng hai ngôn ngữ Hán và Bình Giả Danh (viết theo lối tiếng Nhật), để truyền thừa cho mọi người khắp nơi.
Hơn nữa, viết thêm bằng thể văn chữ Hán “Chánh Pháp Nhãn Tạng” có ba quyển, sưu tập 301 câu chuyện cuộc đời các Thiền Tăng, được gọi là “Chánh Pháp Nhãn Tạng Tam Bách Trắc”. Nguyên bản nầy không còn nữa. Năm Minh Hòa thứ tư lần đầu tiên đã được công bố. Thật ra, Ngài vừa viết “Chánh Pháp Nhãn Tạng” 95 quyển và vừa tham khảo việc trình bày kiến giải hành trì của Tín Đồ, khi họ nghe giảng.

IV.3.2.4 Vĩnh Bình Quảng Lục – Eihei Koroku, 10 quyển

Đây là ngữ lục của Thiền Sư Đạo Nguyên. Ngữ lục là ghi chép của đệ tử về những điều thông thường, những lời giáo huấn đạo tình ý nghĩa thâm sâu của Bổn Sư, sau khi Bổn Sư viên tịch. Tác phẩm nầy ghi lại những lời giáo huấn của Thiền Sư Đạo Nguyên, không phải do Thiền Sư ghi chép, mà do các Đệ Tử lớn như: Thiền Sư Hoài Tráng, Thiền Sư Thuyên Huệ, Thiền Sư Nghĩa Diễn v.v... biên tập, bao gồm những bài thuyết pháp dành cho Tăng Ni và Tín Đồ tại chùa Hưng Thánh vào ngày 15 tháng 10 năm Gia Trinh thứ hai lúc Ngài 37 tuổi, những pháp ngữ, thơ văn, đề tán ở những năm về già tại chùa Vĩnh Bình.

Năm Văn Vĩnh nguyên niên Cao Đệ, Thiền Sư Nghĩa Y Thiền Sư sang Trung Hoa nhờ Thiền Sư Nghĩa Viễn, vị có uy tín đọc lại, nhuận văn và đặt tên “Vĩnh Bình Đạo Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục”, có thể gọi là Lược Lục so với Quảng Lục. Quảng Lục viết vào năm Khoan Văn thứ 12 và Lược Lục vào năm Diên Văn thứ ba cả hai đã được công bố và xuất bản, còn gọi là Tông Điển của Tông Tào Động, viết bằng văn Hán, bản chánh không còn nữa. So với “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, đây là quyển sách bắt buộc phải đọc để hiểu rõ tư tưởng căn bản của Thiền Sư Đạo Nguyên.

IV.3.2.5 Học Đạo Dụng Tâm Tập – Gakudo Yojinshu

Năm 35 tuổi, Ngài bắt đầu viết tác phẩm nầy vào ngày 9 tháng 3 năm Văn Lịch nguyên niên tại chùa Hưng Thánh ghi chép lại thật cụ thể những tâm đắc trong học đạo, song Ngài đã chấp bút hai ba lần, sau đó các đệ tử gần gũi gom lại thành một quyển. Trước tiên, Ngài viết về Bồ Đề Tâm, sau đó dạy việc thấy nghe chân chánh, bắt buộc thực hành con đường Phật Đạo một cách thực tiễn, tiếp theo cho biết tác phẩm nầy không phải là đối tượng tu hành để giác ngộ, mà là bậc Thầy Chơn Chánh, với ngôn hạnh nhất như, hướng dẫn những điều cần biết để thực hành Thiền. Không thực hành Tọa Thiền, không thể thực hiện việc học đạo. Cuối cùng viết về cuộc đời của những bậc cổ Thánh Tiên Đức, để thấy rằng con đường hướng tới Phật là con đường phải tu hành. Phần giác ngộ được viết trong chương 10. Tác phẩm nầy viết bằng Hán Văn, được xem như là Tông Điển của Tông Tào Động, được phát hành lần đầu tiên vào năm Diên Văn thứ hai hiện nay không còn nguyên bản nữa. Đặc biệt các Tăng lữ của Tông Tào Động bắt buộc phải đọc tác phẩm nầy trong thời gian tu hành.

IV.3.2.6 Vĩnh Bình Thanh Quy – Eihei Shingi - 6 tập

Cũng gọi là “Vĩnh Bình Đại Thanh Quy” và “Vĩnh Bình Đạo Nguyên Thiền Sư Thanh Quy”. Vĩnh Bình chỉ cho chùa Vĩnh Bình của Ngài Đạo Nguyên và Thanh Quy tức là những quy tắc quy định sự sinh hoạt căn bản cho chư Tăng đang tu hành tại Đạo Tràng Tọa Thiền. Tác phẩm nầy có thể xem như Thanh Quy căn bản đầu tiên ở Nhật, ghi lại tất cả nghi lễ của các Tự Viện thuộc Tông Tào Động, những quy phạm sinh hoạt của Tăng lữ, viết theo thể Hán Văn, được xem là Tông Điển của Tông Tào Động, phát hành đầu tiên vào năm Khoán Văn thứ 7, hiện nay không còn bản chính nữa.

IV.3.2.6.1 Điển Tọa Giáo Huấn – Tenzo Kyokun

Tác phẩm nầy được Thiền Sư Đạo Nguyên viết vào mùa Xuân năm Gia Trinh thứ 3 tại chùa Hưng Thánh chỉ lại cho những vị Điển Tọa hay chư Tăng đồng tu những vấn đề ý nghĩa ẩm thực, Phật sự cần thiết v.v..bằng văn phong kể chuyện tâm đắc của Ngài.

IV.3.2.6.2 Đối Đại Kỷ Ngũ Hạ Xà Lê Pháp – Taitaiko Goge Jariho

Tác phẩm nầy còn gọi là “Đối Đại Kỷ Pháp”, viết vào ngày 21 tháng 3 ba năm Khoan Nguyên thứ 2 tại chùa Kiết Phong, Việt Tiền. “Đại Kỷ Ngũ Hạ Xà Lê“ nghĩa là chư Tôn Đức tiền bối sống thọ. Tác phẩm nầy diễn tả tất cả những vấn đề nghi lễ, tác pháp và 62 điều khác nhau giữa một vị Tân Tăng đối với Chư vị Tôn Đức. Về sau tác phẩm nầy được rút gọn lại, tuy nhiên, vẫn còn tác phẩm nguyên thủy với nét bút của Thiền Sư Đạo Nguyên.

IV.3.2.6.3 Pháp Biện Đạo– Bendoho

Tác phẩm được viết vào khoảng tháng 3 năm Khoán Nguyên thứ 3 tại chùa Đại Phật, Việt Tiền, nói về những quy định sinh hoạt chủ yếu và cụ thể của một đạo tràng tu hành như tọa thiền, ngủ nghỉ, rửa mặt, Cách mặc (đắp) Cà Sa (Y), quy định về vải và màu vải y v.v...

IV.3.2.6.4 Thanh Quy Tri Sự – Chiji Shingi

Tác phẩm nầy viết vào ngày 15 tháng 6 năm Khoán Nguyên thứ 4 tại chùa Vĩnh Bình, Việt Tiền. Tri Sự có nghĩa là sáu người có chức vụ quan trọng của tự viện, còn gọi là Lục Tri Sự đó là Đô Tự, Giám Tự, Phó Tự, Duy Na, Điển Tọa và Trực Tuế.

Ngài cũng ghi rõ bằng những câu chuyện tâm đắc đã xảy ra, những nhiệm vụ của Tri Sự và giải thích cặn kẻ những việc hành xử v.v... Đặc biệt, giải thích rõ ràng về Giám Tự, Duy Na, Điển Tọa và Trực Tuế.

IV.3.2.6.5 Pháp Phó Chúc Phạn– Fushuku Hanho

Đây là phương pháp nhiếp phục được tác pháp tại Tăng Đường mỗi khi dọn cháo (buổi sáng) và cơm (buổi trưa) có thứ lớp, vừa ý v.v.. ghi lại rất rõ ràng.

IV.3.2.6.6 Quy Tắc Chúng Liêu Tạng– Shuryo Shingi

Tác phẩm nầy viết vào năm Bảo Trị thứ 3 tại chùa Vĩnh Bình để chư Tăng đọc biết những vấn đề liên quan ở trong phòng chúng như tu bổ phòng ốc, những mẫu chuyện xảy ra hằng ngày như viết thư tại liêu xá. Ngoài ra, còn hướng dẫn 28 điều khoản về tác pháp nghi lễ, quan tâm kẻ khác, việc đáng làm v.v...

IV.3.2.6.7 Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký – Shobo Genzo Yuimonki
Tác phẩm gồm có 6 quyển do Thiền Sư Hoài Tráng ghi lại những lời dạy của Thiền Sư Đạo Nguyên ở chùa Hưng Thánh vào những năm Gia Trinh về sau tóm lược lại. Nói đúng hơn, tác phẩm nầy không do Thiền Sư Đạo Nguyên trực tiếp viết nhưng cũng có thể gọi là Ngữ Lục của Thiền Sư Đạo Nguyên bởi vì tường thuật lại tất cả những kinh nghiệm tu hành của Thiền Sư Đạo Nguyên, những câu chuyện tiểu sử chư cổ đức, những bậc tiền bối, những vấn đáp của Thiền Sư Hoài Tráng, những bài thuyết pháp rất khúc chiết, thể văn viết gọn gàng dễ đọc. Tác phẩm nầy còn được xem là tinh tủy của Phật Pháp, có thể so sánh với Thánh Giáo “Chánh Pháp Nhãn Tạng” song rộng rãi hơn và gần gũi hơn. Tác phẩm viết bằng Hán Văn và Hiragana (Chữ Nhật), nguyên bản không còn nữa, song được công bố vào năm Minh Hòa thứ 6 .

IV.3.2.6.8 Tán Tùng Đạo Vịnh Tập – Sansho Doeishu

Toàn là những bài Đạo Ca và Hòa Ca của Thiền Sư Đạo Nguyên gồm có 64 khúc. Người đời sau sưu tập lại thành một ca tập, tuy nhiên có phải thuộc của Thiền Sư Đạo Nguyên hay không đã sanh ra nhiều tranh luận khác nhau. Tác phẩm nầy được công bố lần đầu tiên vào năm Diên Hưởng thứ 4.

IV.3.3 Trước Tác Của Oánh Sơn Thiền Sư

Giải thích về những trước tác của Oánh Sơn Thiền Sư.

IV.3.3.1 Truyền Quang Lục – Denkoroku.

Thiền Sau Oánh Sơn thay cho Bổn Sư - Thiền Sư Nghĩa Giới, thuyết pháp từ ngày mồng một tháng giêng năm Chánh An thứ 2 đến tháng giêng năm sau cho chư Tăng đang tu tại chùa Đại Thừa, Gia Hạ. Sau đó chư Tăng tập trung lại thành tác phẩm ghi lại những giáo huấn của Thiền Sư Oánh Sơn, không phải là sách do chính Thiền Sư chấp bút. Tác phẩm nầy ghi lại những phương pháp Tọa Thiền căn bản từ Đức Thích Tôn ở Ấn Độ rồi chư Tổ ở Trung Quốc cho đến Thiền Sư Hoài Tráng ở Nhật Bản và 53 vị Tổ Sư, cách truyền thừa như thế nào, đặc biệt đầu mỗi chương đều nêu lên những nhân duyên ngộ đạo, truyện ký, mà chủ đề là sự tỏ ngộ của các Thiền Sư cũng như trích dẫn những câu chuyện tiểu sử các Ngài, mà trong những chuyện ấy, Thiền Sư Oánh Sơn giải thích tường tận cho chư Tăng, thỉnh thoảng đan xem vài bài thơ. Tác phẩm được xem là vừa nối tiếp tác phẩm “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, giáo huấn của Thiền Sư Đạo Nguyên, vừa ghi lại lịch sử của 53 vị Tổ truyền thừa, cho nên không đơn thuần là những câu chuyện của các vị Tăng, mà ở Nhật từ trước ít có những loại tác phẩm có nội dung như thế. Tác phẩm nầy được viết bằng hai loại chữ Hán và chữ Nhật, được tôn trọng như “Chánh Pháp Nhãn Tạng”, Tông Điển của Tông Tào Động, phát hành lần đầu tiên vào năm An Chánh thứ 4, hiện nay không còn nguyên bản nữa.

IV.3.3.2 Tín Tâm Minh Niệm Đề - Shinjinmei Nentei

Trong tác phẩm nầy, Thiền Sư Oánh Sơn giải thích về “Tín Tâm Minh” tại chùa Đại Thừa có lẽ vào khoảng giữa thời Gia Nguyên nguyên niên đến Chánh Hòa năm thứ 5.

“Tín Tâm Minh” là tác phẩm của Thiền Sư Giám Trí Tăng Xán , Tổ thứ ba Thiền Tông Trung Hoa, được xem là cốt tủy với nội dung trình bày niềm tin mạnh mẽ vào Phật Tâm sẵn có trong mọi người. Tác phẩm có 146 câu, mỗi câu 4 chữ, tổng cộng 584 chữ Hán, là Ngữ Lục quan trọng và quyết nghị mang tính lịch sử của Thiền Tông. Thiền Sư Oánh Sơn trích dẫn và giải thích áo nghĩa của Thiền, bằng kiến thức uyên thâm của mình, thật linh hoạt mà từ truớc đó và cho đến bây giờ, chưa có ai sánh kịp. Có thể nói rằng với người Nhật, “Tín Tâm Minh Niệm Đề” là tác phẩm bình luận nổi tiếng và hay nhất từ xưa đến nay, được viết bằng chữ Hán và công bố lần đầu tiên vào năm Hưởng Bảo thứ 19.

IV.3.3.3 Thanh Quy Oánh Sơn Hòa Thượng – Keizan Osho Shinki

Tác phẩm nầy rất đặc sắc gồm có 2 quyển, còn gọi là “Đổng Cốc Thanh Quy – Tokoku Shinki”, có thể cho rằng tác phẩm được biên soạn vào năm Chánh Hòa nguyên niên , khi chùa Vĩnh Bình mới bắt đầu, bởi vì nội dung tác phẩm nói về những quy định sinh hoạt trong lãnh vực tu hành của chùa Đại Thừa và chùa Vĩnh Bình, dựa trên căn bản “Vĩnh Bình Thanh Quy” của Thiền Sư Đạo Nguyên, pháp hành của Thiền Sư Hoài Tráng, Thiền Sư Nghĩa Giới, tham khảo những điểm đặc biệt của chùa Đại Thừa và chùa Vĩnh Bình, những quy tắc sinh hoạt của Thiền Tông Trung Hoa, phối trí phân chia thành ba phần hành sự: mỗi năm, mỗi tháng và mỗi ngày.
Tác phẩm nầy nhấn mạnh phải ưu tiên cho chư Tăng đang tu và Đàn Tín thuần tín Tam Bảo, phải tôn trọng họ, chỉnh đốn lại lễ nghi, tán dương công đức họ, khuyến tấn họ tu hành tinh tấn. Điểm đặc sắc là tuy gọi là “Vĩnh Bình Thanh Quy” nhưng ảnh hưởng nghi lễ của Tông Tào Động rất nhiều. Thật ra, nội dung tác phẩm nầy có thể người đời sau có thêm vào đôi phần, bởi vì nguyên bản không còn nữa và được công bố lần đầu tiên vào năm Diên Bảo thứ 8. Tác phẩm nầy đươc viết bằng Hán văn.

IV.3.3.4 Tọa Thiền Dụng Tâm Ký – Zazen Yojingi

Tác phẩm nầy chỉ có một quyển mà thôi do Thiền Sư Oánh Sơn viết tại chùa Vĩnh Quang, chủ yếu căn cứ theo “Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi” của Thiền Sư Đạo Nguyên. Tác phẩm nầy là sách hướng dẫn rất tinh tế về ý nghĩa tọa thiền, điều tâm, điều hơi thở, điều thân, ẩm thực, y phục, ngoại cảnh v.v... và những điều cần lưu ý như: khi ngồi, lúc bệnh và những sự việc liên quan về sinh lý v.v...

Hơn nữa, tác phẩm còn gọi là “Thuyết Tam Căn Tọa Thiền” gồm có ba phương diện tâm linh căn bản đó là thượng, trung và hạ mà hành giả phải nỗ lực hợp với đó. Tác phẩm cho rằng: “Nếu hành thiền nghiêm mật, có thể đạt đến những cảnh giới cao của Thiền“ ý nghĩa nầy cũng ám chỉ cho chùa Vĩnh Bình. Tác phẩm “Tọa Thiền Dụng Tâm Ký” viết bằng Hán văn, hiện nay không còn bản chính nữa và lần đầu tiên công bố vào năm Diên Bảo Phước thứ 8.

IV.3.3.5 Động Cốc Ký – Tokokugi

Tác phẩm được viết khoảng từ năm Chánh Hòa nguyên niên đến năm Chánh Trung thứ hai tại chùa Vĩnh Quang ghi lại những mẫu chuyện trước và sau khi lập chùa Vĩnh Quang như: nghi lễ, tác pháp, những sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày, các loại văn thư, điệp v.v... ngay cả cảm hứng, hòa ca, kệ tụng, giáo huấn, tự truyện v.v... Tuy nhiên cũng có một số văn thơ liên hệ được người đời sau thêm vào thành tác phẩm vào những năm Ứng Vĩnh . Thật ra, sinh hoạt về Tôn Giáo của Thiền Sư Oánh Sơn là những hình thái của Tăng Đoàn Tông Tào Động thời kỳ đầu ở Nhật. Tác phẩm nầy cũng được xem như tập hồi ký ghi lại sinh hoạt văn hóa tại các địa phương Bắc Lục vào thời kỳ Trung Thế, rất đáng trân trọng. Tác phẩm được viết bằng Hán Văn, hiện nay không còn bản chính nữa và lần đầu tiên xuất bản vào năm Chiêu Hòa thứ 4.

IV.3.3.6 Duyên Khởi Thời Trung Hưng Chùa Tổng Trì – Sojiji Chuyuko Eingi

Tác phẩm nầy chỉ có một quyển, được viết vào năm Ngài 54 tuổi, ngày 17 tháng 6 năm Nguyên Hưởng nguyên niên ghi lại sự phát nguyện và lý do kiến lập sơn môn, khai sáng Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, lãnh nhận trách vụ Quyền Luật Sư Định Giám, khai sơn sáng lập các nơi thờ Đức Quan Thế Âm và chư vị Bồ Tát, tại Năng Chứng Tiết Tỷ Áp, huyện Ishigawa Monmaemachi, cho nên đổi danh hiệu Viện là Chư Nhạc Sơn, tự hiệu là Tổng Trì Tự, một thiền viện phù hợp với giấc mộng của Thiền Sư Oánh Sơn.

Lúc bấy giờ, Ngài nhất tâm cầu nguyện cho việc thành lập được sơn môn chùa Tổng Trì thành tựu viên mãn để an trí tôn tượng Bồ Tát Phóng Quang, đặc biệt nhờ Bồ Tát Quan Thế Âm gia hộ tất cả mọi việc đều linh ứng. Về sau tại đây rất thiêng liêng, ai cầu nguyện đều được, ngay cả người sản mẫu có thai đến ngày sinh, cầu nguyện trước tôn tượng, việc sanh nở dễ dàng. Tác phẩm do chính tay Thiền Sư Oánh Sơn chấp bút bằng Hán Văn. Bản viết tay do Oánh Sơn Thiền Sư viết được lưu giữ tại Tạng Khố của Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự (được chính phủ công nhận là di sản thuộc về văn hóa quốc gia), lần đầu tiên công bố vào năm Chiêu Hòa thứ 4.

IV.3.3.7 Mười Loại Sắc Vấn – Jisshu Chokumon

Tác phẩm cũng chỉ có một quyển, còn gọi là “Thập Chủng Nghi Vấn” cũng còn gọi là “Mười loại nghi ngờ”. Theo lịch sử truyền thừa của chùa Tổng Trì, vào tháng 9 năm Nguyên Hưởng thứ 2, Chùa Tổng Trì được ban thụy hiệu “Nhật Bản Tào Động Tông Sắc Tứ Xuất Thế Chi Đạo Tràng” nhờ Thiền Sư Oánh Sơn nhận sự thỉnh cầu trả lời giải trừ nghi vấn và cho Thiên Hoàng Hậu Đề Hồ biết phong cách, địa vị , lập trường của Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự.

Chùa Vĩnh Quang cũng tương tự như vậy, Thiên Hoàng Hậu Đề Hồ đặt ra câu hỏi và được giải đáp với “Thập Chủng Nghi Trệ”, cho dù cũng có nghi vấn về lịch sử. Nhờ kết hợp với Thiên Hoàng Đề Hòa và chư Tôn Đức Tăng kiệt xuất của Phái Pháp Đăng, Tông Lâm Tế, mà Thiền Sư Oánh Sơn cùng với Thiền Sư Cô Phong kiên định hết lòng duy trì phát triển từ chùa Vĩnh Quang đến chùa Tổng Trì. Việc nầy gián tiếp thừa nhận cho những ai quan tâm về Thiền là “Mười loại Sắc Vấn” có thật trong lịch sử, mà những nghi vấn ấy dù giải đáp thế nào đi nữa vẫn không thể trả lời một cách thỏa đáng. Tác phẩm nầy có thể xem là định hướng trọng yếu thật tiễn cho người học Thiền, được viết bằng Hán văn, hiện nay nguyên bản không còn nữa và phát hành lần đầu tiên vào năm Nguyên Lục thứ 4.

IV.3.3.8 Ngữ Lục Của Oánh Sơn Thiền Sư– Keizan Zenji Goroku

Tác phẩm nầy cũng chỉ có một quyển, nếu nói rõ, phải gọi là “Ngữ Lục Năng Châu Động Cốc Sơn Vĩnh Bình Tự Oánh Sơn Hòa Thượng”, bỏ phần dài phía sau, gọi là “Động Cố Ký”, do các đệ tử Thiền Sư Oánh Sơn ghi lại những thời thuyết pháp của Ngài tại chùa Vĩnh Quang sau mùa hạ năm Chánh Trung nguyên niên . Tuy Thiền Sư Oánh Sơn không trực tiếp biên soạn, nhưng văn mạch rất rõ ràng và ý văn sắc sảo mạnh bạo, thật tế đối với Môn Hạ, Ngài rất khiêm cung, có thể nói tác phẩm nầy tượng trưng cho gia phong. Tác phẩm viết bằng Hán Văn, hiện nay không còn nguyên bản.

IV.3.3.9 Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Giáo Thọ Văn – Butsuso Shoden Bostsukai Kyojumon

Tác phẩm nầy cũng chỉ có một quyển, được viết năm Ngài 56 tuổi, vào ngày 28 tháng 8 năm Nguyên Hưởng thứ 3, tại chùa Vĩnh Quang, nhằm đọc lên trong giới đàn truyền giới cho Đại Tỷ Huệ Cầu thọ giới, bởi vì trước đó, tất cả nghi quỹ đều là khẩu truyền, cho nên tác phẩm là tập sách mở đầu nghi quỹ có tính cách văn chương ghi lại rõ ràng. Tác phẩm nầy căn cứ vào tác phẩm “Phật Tổ Chánh Truyền Bồ Tát Giới Tác Pháp” của Thiền Sư Đạo Nguyên, được viết bằng tiếng Nhật, do Thiền Sư Oánh Sơn viết tay, được lưu giữ tại chùa Hải Ngoại, Huyện Phú Sơn (thuộc về tài liệu văn hóa trọng yếu quốc gia).

Tổng cộng những sách vở của Lưỡng Tổ Đại Sư viết có 33 quyển, được gọi là “Tào Động Tông Toàn Thơ”, do Tào Động Tông Toàn Thơ San Hành Hội phát hành vào năm Chiêu Hòa thứ 53, tại Tào Động Tông Tông Vụ Sảnh, mà có thể tham chiếu thêm để biết rõ những tài liệu nầy.

III.2 Thất Đường Già Lam

III.2.1 Sự Thay Đổi Kiến Trúc Của Tự Viện

Già Lam, nguyên ngữ bằng tiếng Sanscrit cổ, Ấn Độ là Shangarama, còn gọi là Tinh Xá, Chùa, Tự Viện. Kiến trúc Tự Viện Nhật Bản ảnh hưởng trực tiếp từ bán đảo Triều Tiên, gián tiếp từ Trung Hoa. Từ thời Bình An (Heian), mỹ thuật kiến trúc Nhật Bản mô phỏng theo hai dạng mỹ thuật kiến trúc Triều Tiên có từ thời Phi Điểu, và mỹ thuật Trung Hoa từ thời nhà Đường. Đến thời Kamakura, lối kiến trúc đó bị loại bỏ đi thay bằng lối kiến trúc thời Tống (Trung Hoa) hòa với lối kiến trúc thời Thất Đinh. Đến thời Đào Sơn mỹ thuật kiến trúc trở nên đẹp vô cùng, tạo nên phong cách mỹ thuật đặc biệt của thời đại nầy. Còn thời đại Giang Hộ (Edo), lại theo phong cách đơn giản, hiện đại và độc lập, theo lối phong cách Âu Châu.

Kiến trúc Chùa, đặc biệt vào thời Kamakura thể hiện trọn vẹn phong cách Thiền ảnh hưởng mô thức Trung Hoa thời Đường, còn gọi là phong cách Thiền Tông, có nhiều điểm giống Lâm Tế Tông, Hoàng Bích Tông, Tào Động Tông, hẳn nhiên cũng không thiếu nhiều điểm khác biệt đặc thù.

III.2.2 Già Lam Của Tào Động Tông Là Nơi Chính Để Tu Hành

Thiền Sư Đạo Nguyên phối hợp những phiên bản Tự Viện Trung Quốc và Ấn Độ, suy nghĩ kiến tạo đạo tràng trang nghiêm của Tông Tào Động. Chùa Vĩnh Bình kiến tạo mô phỏng theo Chùa Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức ở tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa (bây giờ gọi là Thiên Đồng Tự). Tông Tào Động vẫn sử dụng từ “Thất Đường Già Lam“ có lẽ từ thời Giang Hộ (Edo), không có căn cứ nào chỉ cho nguyên thỉ của chữ nầy. Song cũng có thuyết cho rằng Tông Tào Động gọi là Thất Đường Già Lam cho những ngôi Chùa đầy đủ 7 gian như: Sơn Môn, Phật Điện, Pháp Đường, Khố Viện, Tăng Đường, Dục Thất và Đông Ty. Ngoài ra, Chùa còn có tháp 3 tầng, tháp 5 tầng hay Đa Bảo Tháp, Xá Lợi Tháp v.v... những tháp nầy không gồm chung trong Thất Đường Già Lam. Chùa Thiền hay đặc biệt là Chùa của Tào Động Tông không có Tháp, nếu có, tháp được xây sau hoặc là xây với lý do nào đó, còn Chùa thuộc Tông Pháp Tướng và Tông Chơn Ngôn có xây tháp.

Hình thức Thất Đường Già Lam của Tông Tào Động theo thứ tự từ bên ngoài đi vào là: Sơn Môn, Phật Điện, Pháp Đường, bên mặt là Khố Viện, trước có Dục Thất (phòng tắm rửa), bên trái là Tăng Đường, trước có Đông Ty (nhà vệ sinh). Tất cả đều có hành lang bao bọc xung quanh trở thành một hình vuông vức. Ngoài Thất Đường còn có những tòa nhà liên quan được xây dựng thêm. Càng về sau, ở những ngôi chùa nhỏ Thất Đường đơn giản chỉ còn Bổn Đường (Chánh Điện), Khố Lý (nhà kho), Khai Sơn Đường (Chỗ Thờ Tổ), Vị Bia Đường (nơi thờ vong). Cũng có nhiều hình thức biến dạng khác như thêm lầu chuông hay cổng tam quan, song chỉ là những trường hợp riêng biệt mà thôi. Nói chung các chùa đều giống nhau như thế, bởi trước nhất phải hợp với khả năng cho nên phải đơn giản, sẽ giải thích rõ về Thất Đường Già Lam dưới đây.

III.2.3 Sơ Lược Về Thất Đường Già Lam

Sơn Môn vừa chỉ cho cổng chính vào Chùa, vừa chỉ cho thế giới thanh tịnh, không có phiền não khổ đau. Cổng chùa thường có ba cửa, cửa lớn ở chính giữa, hai cửa nhỏ ở hai bên, còn gọi là Cổng Tam Quan, cũng gọi là Tam Môn. Ngoài ra, còn có những tên khác là: Quán Mộc Môn, Dược Y Môn, Anh Môn, Nhị Trọng Môn v.v... Tông Tào Động thường dùng Anh Môn và Nhị Trọng Môn. Ở phần hai bên trước cổng, thường an trí các vị Nhơn Vương. Trên Anh Môn (lầu) thường đặt tượng Phật, Bồ Tát hay các vị La Hán. Trên cao, treo một Phạn Chung (Đại Hồng Chung). Nếu chùa lớn, ngoài Sơn Môn còn có Tổng Môn (chỉ có một cửa ra vào), Tam Tùy Quan, Đống Môn, Dược Y Môn và Sắc Sứ Môn còn gọi là Hương Đường Môn.

Điện Phật còn gọi là Đại Hùng Phong Điện, Đại Hùng Điện, Đại Điện v.v... tọa lạc ngay chính giữa, trong đó có Tu Di Đàn thờ Đức Bổn Tôn Thích Ca Mâu Ni ngay trung tâm, hai bên trái phải của Phật, mỗi bên an trí một tượng Bồ Tát. Đa phần, thờ Đức Phật Thích Ca ở giữa (vị khai Tổ của Phật Giáo). Tôn Giả Ca Diếp trưởng tử Phật, Sơ Tổ Thiền Tông. Tôn Giả A Nan đệ tử thị giả của Đức Phật Thích Ca, vị Tổ Sư thứ hai, thị giả hầu Phật được nghe nhiều lời giảng nhất. Ngoài ra, còn thờ Tam Tôn Phật: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (biểu hiện Đức Phật trong hiện tại), Đức A Di Đà Như Lai (biểu hiện Đức Phật trong quá khứ). Đức Di Lặc Như Lai (biểu hiện Đức Phật trong tương lai). Tam Tôn Phật cũng còn được hiểu là: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ Tát Văn Thù (biểu trưng cho trí tuệ Phật) và Bồ Tát Phổ Hiền (biểu trưng hạnh nguyện Phật). Phía đông của Phật Điện (từ ngoài nhìn vào phía bên mặt) thờ Đàn Thổ Địa hay thờ Bồ Tát Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý. Phía Tây (phía trái từ ngoài nhìn vào) là Tổ Sư Đàn, thờ Sơ Tổ Đạt Ma. Thông thường bàn thờ làm bằng gạch hay đá, có chỗ để bày dâng lễ cúng. Đặc biệt, phần nghi lễ được tổ chức tại Phật Điện.

Pháp Đường là nơi vị Trụ Trì thuyết Pháp cho Tăng sĩ đang tu tập. Khi thuyết Pháp vị Trụ Trì được cung kính như đại diện chư Phật, chư vị Tổ Sư có trách nhiệm truyền trao giáo Pháp cho thính chúng, cho nên trong Pháp Đường không thiết tượng Phật nào cả. Tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự, có đặt tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biểu trưng tâm từ bi bao la của Phật, một lý do khác, như đã trình bày ở trước, ở Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, Tổ Đường chính là Pháp Đường, nơi đó là Đại Tổ Đường được xem là một Đạo Tràng thuyết pháp của Tổ khai sơn Thiền Sư Oánh Sơn. Giữa Tổ Đường là Pháp Đường cũng còn có ý nghĩa là tôn trọng giữ gìn lời giáo huấn của Tổ. Tại Đại Tổ Đường nầy, đàn trên cao ở chính giữa, thờ tượng Tổ khai sơn Thiền Sư Oánh Sơn, hai bên trái phải thờ Thiền Sư Đạo Nguyên, Cao Tổ và thờ Thiền Sư Nga Sơn Chiêu Thạc, vị Tổ thứ hai của Tổng Trì Tự. Ngoài ra, các tượng của chư vị Tổ Sư cũng được thờ tại đây. Tại Pháp Đường thường có những thời Kinh sáng, trưa, tối và hầu như tất cả nghi lễ quan trọng đều cử hành tại đây.

Khố Viện hay Khố Lý thờ tượng Vi Đà Thiên và tượng Đại Hắc Thiên còn gọi là Đài Hương Tích, vừa là nơi chứa thực phẩm cho chư Tăng thường trụ và khách Tăng, vừa là nơi thâu nhận thực phẩm cúng dường, cũng là chỗ xay thóc.

Dục Thất, nhà tắm, có thờ tượng Tôn Giả Bạt Đà Bà La. Trong Chùa, Tăng Đường, Đông Ty và Dục Thất là ba nơi cần phải giữ thật trang nghiêm yên tĩnh, tuyệt đối cấm không được cười đùa, nói chuyện riêng tư, không được tạo ra âm thanh ồn ào. Ngay cả, tắm rửa kỳ cọ thân thể cho thanh tịnh cũng quan trọng như những việc tu hành khác.

Tăng Đường có nơi gọi là Vân Đường, cũng còn gọi là Tuyển Phật Trường, mà những chữ nầy được treo ngay ở chính giữa. Thông thường người ta còn gọi nơi nầy là Tọa Thiền Đường nhưng Tông Tào Động không gọi là Tọa Thiền Đường vì gọi như thế nghĩa là phân biệt chỗ hành thiền khác với nơi ăn uống. Tăng Đường là nơi mà chư Thánh Tăng và chư Bồ Tát thường lui tới, vốn gọi là Thánh Tăng Đường. Trong Thất Đường Già Lam của Tông Tào Động cũng có những nơi quan trọng biểu trưng hiện hữu của Thần Thánh, cũng có thể gọi là nhiệm mầu thiêng liêng, mà tuyệt đối không ai, cả người trong Chùa lẫn người ở ngoài tự ý vào được.

Đồng thời, Tăng Đường chia làm hai phần, bên ngoài là nơi dùng cơm, uống nước của chư Tăng, bên trong còn gọi là Nội Đường hay Đường Nội thờ chư vị Thánh Tăng như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Quan Thế Âm, cũng có Chùa thờ Tôn Giả Kiều Trần Như, trên cái Trang ngay chính giữa. Bên dưới thiết kế những chỗ ngồi thiền, gọi là Trường Liên Sàng, là những cái đơn cao chừng một mét, rộng chừng một chiếc chiếu (Tatami), để ngồi Thiền mặt hướng vào tường hoặc cửa sổ.

Còn có những cái Đơn khác gọi là Hàm Quỹ, mặt bằng độ chừng 30 cm làm bằng gỗ, bên trong Hàm Quỹ (cái rương) đựng y áo và bình bát, phía dưới trải ra làm chỗ nghỉ, còn gọi là Tịnh Duyên, bởi vì chỗ nầy, vật nầy cũng dùng để làm nơi ăn uống. Tịnh Duyên có ý là ăn uống trong sạch thanh tịnh. Ngay cả ở bên ngoài cũng có kê những chiếc Đơn như thế.

Bên ngoài còn có những giá treo chuông gọi là Tăng Đường Chuông, Ngoại Đường Chuông và có cả Pháp Cổ (trống) cũng như những pháp cụ khác để báo hiệu khi cần thiết. Những việc như đọc sách, viết lách, cạo tóc, khâu vá v.v.., đều thực hiện trong liêu chúng. Mô hình liêu chúng là giữa liêu đặt tượng Bồ Tát Quan Thế Âm, hoặc tượng Hư Không Tạng Bồ Tát, chỉ có Hàm Quỹ (cái rương) và Tịnh Duyên (chỗ ăn) và liêu chúng gần Tăng Đường.
Đông Ty là Tiện Sở (cầu xí) cũng còn gọi là Tây Tịnh, nhưng chữ nầy bây giờ không còn dùng đến nữa, ở nơi nầy thường để tượng Điểu Sô Sa Ma Minh Vương.

III.2.4 Trường Hợp Những Tự Viện Thông Thường

Tóm lại, các vấn đề xây dựng như thế nào, ai xây, xây ở đâu, khi nào của các chùa thuộc Tông Tào Động lệ thuộc vào vấn đề xã hội địa phương và nguyện vọng của mọi người nữa. Thật ra, mỗi chùa có mỗi điều kiện, mỗi tính cách và mỗi mục đích khác nhau, không thể phán đoán chung chung được, tuy nhiên, có thể phân loại ra như sau:

Thứ nhất, Tu Hành Tự là tự viện như một đạo tràng dùng để tu tập và tọa thiền. Những tự viện nầy vốn có liên hệ với Tông Tào Động từ xưa, như Lưỡng Đại Bổn Sơn, mà dù cho chùa ấy có gì đặc biệt đi chăng nữa, thì vấn đề căn bản vẫn là chỗ để tu hành theo Tông Tào Động

Thứ hai, Bồ Đề Tự là tự viện để lễ bái và phụng thờ Ngài Hoằng Pháp Đại Sư, Ngài Quan Thế Âm, Thất Phước Thần, Linh Trường, thường thấy nơi các chùa thuộc Tông Pháp Tướng, Tông Hoa Nghiêm, Tông Thiên Thai, Tông Chơn Ngôn v.v... về sau dù đã đổi sang Tông Tào Động nhưng vẫn còn giữ tôn phong cũ.

Thứ ba, Kỳ Thọ Tự là chùa thờ Đức Quan Âm, Ngài Dược Sư, Ngài Địa Tạng, Ngài Bất Động, các vị Tổ Sư, Thần Lúa, Thiên Cẩu v.v... vì nhu cầu của mọi người đến tự viện lễ bái cầu nguyện.

Thứ tư, Quán Quan Tự là chùa lịch sử danh lam thắng cảnh, gần gũi mọi người và cảnh trí đẹp, được nhiều người tới lui vãn cảnh.

Tuy nhiên, trừ Lưỡng Đại Bổn Sơn và những tự viện lớn, còn các chùa thuộc Tông Tào Động về hình thức căn bản là những Già Lam theo mô hình: Sơn Môn, Bổn Đường, Khai Sơn Đường, Vị Bi Đường, Khố Lý, Chung Lầu, Tọa Thiền Đường v.v... mà chúng ta lần luợt tiếp xúc với những phần nầy.

Sơn Môn thờ tượng Nhân Vương, trên lầu cao thờ tượng Phật, Bồ Tát, nhưng cũng có nơi không có, bởi vì những chùa nhỏ nhiều khi không có Sơn Môn (cửa ra vào) nữa, đôi khi chỉ khắc tên chùa trên phiến đá thay cho cổng tam quan.

Bổn Đường cũng còn gọi là Phật Điện hay Pháp Đường, bên trong thờ Bổn Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hoặc thờ Tam Tôn, song chính giữa vẫn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng, tùy theo sự thành lập của tự viện, có những đặc thù riêng, không phải hoàn toàn giống nhau, có chùa thờ Đức A Di Đà Như Lai, Đại Nhật Như Lai, Dược Sư Như Lai v.v... có chùa thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Bất Động Minh Vương, Biện Tài Thiên và cũng còn nhiều tượng khác nữa. Tựu trung vẫn là hình tượng chư Phật và chư Bồ Tát mà ở đây có thể rõ thêm rằng đó là đặc trưng Phật tánh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rộng lớn bao la như thế.

Trên bốn bức tường chung quanh Bổn Tôn trong Chánh Điện thường có 18 vị A La Hán. Hai bên tả hữu của Bổn Tôn thường thờ tượng Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý Bồ Tát và tượng Đạt Ma Đại Sư. Sau Chánh Điện ngăn ra hai bên phải trái thờ linh vị của Tín Đồ Phật Tử.

Tại Bổn Đường (Chánh Điện) sáng, trưa, tối đều có tụng Kinh, nơi đây thường cử hành những nghi lễ cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, lễ hằng thuận v.v...

Khai Sơn Đường tiếp giáp sau Bổn Đường, ở giữa thờ Ngài Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư hay Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư. Ngoài hai vị Tổ Sư, còn thờ tượng bằng gỗ của vị Hòa Thượng khai sơn chùa ấy nữa. Hai bên phải trái thờ tượng của các vị Trụ Trì, linh vị của những người sáng lập chùa, nơi đây cũng thờ linh vị Tín Đồ nữa, miễn sao ở giữa có nơi làm lễ là được. Phía trước còn bàn kinh, có gối để lạy, có chuông mõ hai bên.

Vị Bi Đường là nơi linh vị Tín Đồ. Thông thường có thể thờ ở phía sau Chánh Điện hay Khai Sơn Đường, nhưng tùy địa phương Vị Bi Đường được xây riêng một nơi biệt lập bên ngoài Bổn Đường hay Khai Sơn Đường. Ở giữa, thờ tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Mỗi gia đình có mỗi bàn thờ nhỏ và tự quản lý, cúng dường và tự mỗi gia đình đến chùa chăm sóc lấy.

Khố Lý được xây dựng ở bên phải Chánh Điện và mặt hướng về Chánh Điện. Nơi đây gồm có hành lang, phòng tiếp lễ vật, phòng khách, phòng ở của vị Trụ Trì, phòng ở của gia đình Trụ Trì, phòng sinh hoạt, phòng chuẩn bị, phòng ăn, phòng tắm, nhà vệ sinh v.v... Tùy theo chùa, Khố Lý lớn hay nhỏ, có chùa Khố Lý còn lớn hơn Chánh Điện nữa.

Tọa Thiền Đường được xây dựng phía bên trái hướng về Chánh Điện, đối diện tương xứng với khố lý. Cũng tùy điều kiện đất đai, đôi khi được thiết lập ngay tầng dưới của Khai Sơn Đường, những chùa không có Tọa Thiền Đường, có thể dùng Chánh Điện hay Khai Sơn Đường thay thế.

Lầu Chuông được thiết kế ở một góc vườn. Mỗi sáng tối thỉnh chuông nhứt định vào một thời điểm nào đó. Chùa nào không có lầu chuông, thường treo chuông bên ngoài cửa hay bên trong Chánh Điện.

Ngoài ra, trong vườn còn xây những nơi như: Đại Sư Đường, Trấn Thủ Đường, Đạo Hà Đường (nơi thờ Thần Lúa), Thần Xã, Sáng Khố v.v...

III.2.5 Công Việc Của Các Vị Tăng

Già Lam không phải chỉ thờ Phật, mà với người sống, nơi đây là những Đạo Tràng tu hành để thành Thánh, thành Phật. Già Lam của các chùa tu Thiền, như đề cập ở trên, được tổ chức theo thể thức sinh hoạt cộng đồng với mục đích tu hành. Riêng Thiền Tông, đặc biệt Tào Động Tông, có sự phối trí khác biệt. Chư Tăng ở chùa tu hành, tất cả nhất định phải phân công công việc để làm, không ai không làm việc, những công việc từ thời Lưỡng Tổ Đại Sư cho đến bây giờ vẫn thế. Được gọi là người tu, việc đầu tiên ở chùa, phải có khả năng làm việc hiệu quả. Không những chỉ riêng người tu ở chùa Tu Hành Tự, mà cho tất cả những tự viện lấy chùa Tu Hành Tự làm căn bản. Chư Tăng trong chùa phải làm việc được giải thích như sau:

Trụ Chức nghĩa là viết tắc của Chức Trụ Trì, người có trách nhiệm lớn lao đối với chùa. Với tư cách là “Tôn Giáo Pháp Nhơn” đại biểu cho chùa đó. Nếu chùa lớn, cũng còn xưng là Sơn Chủ thay cho Trụ Trì, đôi khi thay đổi gọi là Đường Đầu Hòa Thượng, mà thông thường gọi là Phương Trượng, Đường Đầu hoặc Hòa Thượng. Có nơi gọi vị Trụ Trì là Ojutsusan và Hòa Thượng là Ossan.

Quản Thủ là Chức Vụ của hai đại Bổn Sơn, cũng còn gọi là Quản Thủ Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự và Quản Thủ Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự. Ở hai Đại Bổn Sơn còn có vị Phó Quản Thủ, vị thứ hai sau Quản Thủ nữa.

Tây Đường là nơi ở của những vị Cao Đức do vị Trụ Trì cung thỉnh đến để chỉ đạo các Phật sự, bình thường vị Tăng nầy đứng sau vị Trụ Chức.

Giám Viện nghĩa là người thay thế vị Trụ Trì, làm Tổng Quản quán sát tất cả những công việc và mọi vấn đề hành chánh của chùa. Trước đây, vị nầy đứng đầu trong bảng Lục Hòa, mà có nơi gọi là Giám Tự. Ngoài ra còn có Phó Giám Viện thay thế việc điều hành mỗi khi vị Giám Viện vắng mặt .

Hậu Đường là chỗ hành trì của vị Tăng trực tiếp chỉ đạo.

Đơn Đầu là ngôi vị thứ hai của vị Tăng ở Hậu Đường đang hành trì và trực tiếp chỉ đạo.

Phó Tự là vị Tăng lo việc chi tiêu của chùa, lo trọn một trong 6 phép hòa kính.

Tri Khố là vị Tăng lo quản lý thức ăn, tiền bạc và giúp đỡ cho vị phó Trụ Trì.

Duy Na là người giúp đỡ cho vị Hậu Đường và Đơn Đầu, chỉ đạo và hướng dẫn chư Tăng tu hành, quản lý Tăng Đường, tụng khai Kinh và hồi hướng mỗi thời tụng Kinh, giữ vững kỷ cương một trong 6 phép hòa kính, tuy nhiên, có chùa xem đây là việc của vị Giám Tự.

Duyệt Chúng là vị giúp đỡ cho Duy Na, phần vụ thủ mõ.

Đường Hành cũng là nhiệm vụ của Duy Na và Duyệt Chúng, phải gõ khánh, tụng khai Kinh và hồi hướng trong mỗi thời công phu tụng Kinh.

Điển Tọa là vị Tăng lo việc ăn uống vâng giữ một trong 6 phép lục hòa.

Phó Điển còn gọi là Phạn Đầu, vị Tăng hổ trợ giúp việc cho Điển Tọa.

Trực Tế là vị Tăng chuyên lo việc chấp tác, trùng tu sửa chữa Già Lam, chữa đường sá, cũng là người vâng giữ một trong 6 phép lục hòa.

Tri Khách là vị Tăng lo việc tiếp đón khách.

Thị Chơn là vị Tăng chăm sóc chỗ thờ Tổ Khai Sơn.

Cúng Chơn là vị Tăng giúp đỡ Thị Chơn, cũng gọi là Truyền Cúng.
Tri Điện là vị Tăng quản lý Phật Điện và Pháp Đường. Người phụ tá gọi là Diện Hạnh.

Thượng Sự là vị Tăng lo việc thư ký, bảo quản văn thơ giấy tờ.

Tri Dục cũng còn gọi là Dục Chủ, vị Tăng quản lý nhà tắm.

Thị Cục Trưởng là vị Tăng thân cận, chăm lo và giúp đỡ vị Trụ Trì. Ở hai Đại Bổn Sơn những vị nầy hổ trợ vị Quản Thủ.

Thị Giả là vị Tăng thân cận hầu hạ vị Trụ Trì và Chư Tôn Đức đến thăm chùa. Có 5 loại Thị Giả chánh thức như:

Thiêu Hương Thị Giả, là người có trách nhiệm lo việc hương đăng và dâng hương cho vị Trụ Trì, mỗi khi có lễ.

Thư Trạng Thị Giả là vị lo vấn đề thư từ cho vị Trụ Trì.
Thỉnh Khách Thị Giả là vị Tăng lo ứng đối tiếp đãi khách của vị Trụ Trì.

Y Bát Thị Giả là vị Tăng lo Pháp Y cho vị Trụ Trì.

Thang Dược Thị Giả là vị Tăng lo thức ăn và thuốc men cho vị Trụ Trì.

Thông thường chỉ hai hay ba vị kiêm nhiệm luôn.

Thị Thánh nghĩa là Thị Giả của chư Thánh Tăng thờ tại Tăng Đường (như Ngài Văn Thù Bồ Tát), lo việc cúng dường nước hoặc trà nóng lên Bồ Tát.
Giảng Sư nghĩa là vị Thầy thường giảng nghĩa và thuyết pháp cho Chư Tăng và Tín Đồ.

Tạng Chủ tức là vị quản lý tạng Kinh và điện thờ có nhiều bảo vật.

Tịnh Đầu là vị Tăng quản lý Đông Ty (nhà xí).

Tấu Giả là vị Tăng có trách nhiệm thông tin cho khách hoặc những liêu xá, khi có những việc cần thiết.

Thủ Tọa là địa vị cao nhất của chư Tăng, còn gọi là Thượng Tọa.

Thư Ký nguyên là chức vụ Thị Giả Thư Trạng, phụ trách những công việc phụ giúp vị Thủ Tọa liêu, thường ngồi ở vị trí thứ hai sau Thượng Tọa.

Biện Sự là vị Tăng còn trẻ luôn ở bên vị Thư Ký, Thủ Tọa, nơi liêu Thủ Tọa.

Hành Giả là vị Tăng còn đang tu học, gần gũi thân cận, làm các công việc.
Ngoài ra, ở Điện Đường, Điện Ty, Đường Ty, Phật Điện, Pháp Đường khi có lễ, vị thỉnh chuông gọi là Chung Ty, vị lo công việc trong Tăng Đường gọi là Trực Đường, vị lo việc dọn dẹp gọi là Thanh Tảo Đương Phiên v.v... nhiều lắm không thể ghi chi tiết ra đây hết. Vả lại, còn có khá nhiều công việc như xuất bản, bố giáo, và nhiều việc không cần có chức vụ ở Lưỡng Bổn Sơn nữa, song tùy theo tính chất quy mô hay đơn giản của chùa, tùy theo địa phương, tùy theo xã hội mà công việc có thể tùy nghi sửa đổi thêm hay bớt.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn