Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

5. Nghi Lễ Của Tào Động Tông

12/04/201107:13(Xem: 3571)
5. Nghi Lễ Của Tào Động Tông

THIỀN TÀO ĐỘNG NHẬT BẢN
Nguyên tác: Azuma Ryushin (Đông Long Chơn) - Việt dịch: Thích Như Điển
Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc và quý Phật Tử tại Mỹ Châu – Úc Châu ấn tống 2008

Chương hai:
Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ

III. Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ

III.5 Nghi Lễ Của Tào Động Tông

III.5.1 Nghi Lễ Nghĩa Là Gì?

Nghi lễ của Tông Tào Động có nhiều loại, bởi vì quan niệm của Tông Tào Động cần phải tùy duyên hòa nhập vào sinh hoạt rộng lớn của cuộc sống người dân, miễn là không đánh mất tính chất thuần túy, hòa hợp và hổ tương để thành tựu con đường giáo hóa hoằng Pháp. Song tựu trung có hai loại nghi lễ đó là loại lâu dài và loại ngắn hạn. Có những nghi lễ cử hành tại chùa chỉ có Tăng sĩ tham dự, cũng có những nghi lễ có tín đồ tham gia nữa. Đặc biệt, có những nghi lễ chỉ có Tăng Sĩ chuyên môn, còn những Tăng Sĩ bình thường không làm được.

Nghi lễ Đàn Tín Đồ đã giải thích ở chương 4. Ở đây chỉ trình bày và giới thiệu những nghi lễ tại chùa viện có tính cách căn bản thường ngày theo “Tào Động Tông Tông Chế” và tham khảo thêm ở phần “Tào Động Tông Nghi Lễ Quy Trình”.

III.5.2 Kinh Được Tụng Và Những Hoạt Động Căn Bản

“Bổn Tôn Thượng Cúng” được cử hành tại Chánh Điện và Phật Điện vào ngày mồng một và rằm mỗi tháng là hình thức Nghi lễ căn bản của Tông Tào Động tuần tự như sau:

• Thỉnh chuông, tất cả chư Tăng và tín đồ lần lượt vân tập vào Chánh Điện, đứng hai bên trái phải của Tôn Tượng Phật Bổn Tôn. Sau đó toàn thể đại chúng nghinh đón vị Đạo Sư từ từ quang lâm thật uy nghi và trang nghiêm vào giữa Chánh Điện. Thị Giả dâng hương cho Đạo Sư niêm hương.

• Dâng Hương, Đạo Sư lạy một lạy quỳ xuống nệm bố, nhận hương từ Thị Giả, niệm hương bạch Phật, sau đó đưa hương lại cho Thị Giả rồi lạy một lạy. Sau đó tiến thêm lên phía trước bàn Phật, không cần chấp tay. Thị Giả mang hương cắm lên lư hương, lạy một lạy rồi đứng bên phải.

• Cùng lạy Tam Bái, Đạo Sư chấp tay lùi trở lại trước chỗ có nệm ngồi, thỉnh phèng la trong Chánh Điện. Tất cả đại chúng và Đại Sư cùng nhau thao tác thật nhịp nhàng và đều đặn: mở tọa cụ ra, cùng lạy năm vóc sát đất 3 lạy. Lạy xong, đại Chúng xếp tọa cụ để lên chiếu bên tay trái, đứng thẳng nghiêm trang. Đạo Sư một lần nữa tiến về chỗ ghế ngồi.

• Hiến dâng quả trà, Đạo Sư từ từ đốt hương, cúng trà, dâng bánh, dâng nước đường (mật) và cúi đầu dâng lên Bổn Tôn. Dâng xong, trở lại vị trí cũ và lạy 3 lạy.

• Đọc Kinh, Trong nội Đường, thanh la trổi lên 3 hồi, thời kinh bắt đầu bằng Duy Na xướng đề Kinh, đại chúng cùng tụng theo nhịp mõ một biến bài kinh Bát Nhã Tâm Kinh. Trong lúc tụng Kinh Đạo Sư tiếp tục thêm nhang bột vào lò, mỗi lần thêm vào xá 3 xá.

• Hồi hướng, Đọc Kinh xong, Duy Na xướng văn kệ hồi hướng, đại loại là đọc kinh xong phải hồi hướng. Đạo Sư bái 3 bái.

• Cùng lạy Tam Bái, Sau khi hồi hướng, tất cả cùng chắp tay và xướng lên như sau:
“Thập Phương Tam Thế Nhứt Thiết Phật,
Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát,
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật”.
Đạo Sư đến trước bỏ thêm bột hương vào lò rồi trở lại chỗ ngồi. Phèng la gióng lên, tất cả cùng lễ 3 lễ.

• Lui ra, Đạo Sư cùng với mọi người xá một xá. Đại chúng chắp tay tiễn Đạo Sư, Thị Giả và Thị Hương ra khỏi Chánh Điện, sau đó Đại Chúng lần lượt rời khỏi Chánh Điện.

Đạo Sư mặc áo tràng đắp y theo màu sắc phẩm vị của mình, mang tọa cụ, bí tất, khăn tay, cầm như ý, thủ xích trên tay. Đại chúng mặc áo tràng, đắp y. Khi tụng Kinh, tay bắt chéo để trước ngực, để tay trái lên tay phải, trông rất thiêng liêng huyền bí. Ngồi tụng Kinh, phải bắt “Pháp Giới Định Ấn”, giống như lúc ngồi thiền. Tụng Kinh tiếng không cao quá, không thấp quá, phải hợp với mọi người.

III.5.3 Tụng Kinh Hằng Ngày

Tụng Kinh hằng ngày là pháp môn tu căn bản của Tăng Sĩ thuộc Tông Tào Động. Mỗi ngày khóa lễ thường cử hành tại Pháp Đường và Bổn Đường ba buổi: sáng tụng thời khóa sáng; trưa tụng thời khóa trưa và tối tụng khóa lễ tối.

Sinh hoạt trong Tăng Đường khởi đầu từ 3 giờ sáng đại chúng đã thức giấc cho đến 9 giờ tối mới đi ngủ. Ngoài 3 thời khóa tụng Kinh, còn có 4 lượt ngồi thiền: 4 giờ sáng, 10 giờ sáng, 4 giờ chiều và 8 giờ tối và những giờ học Phật Pháp, Kinh Điển, Giáo Huấn của Tổ, tham gia những buổi giảng, hội họp, làm việc, đi khất thực, hồi hướng đến Tín Đồ nữa, mà thời khóa biểu nầy gần như không thay đổi được thực hiện trong tất cả mọi tự viện.

• Khóa Tụng Kinh Sáng: Sau buổi tọa Thiền sớm mai, gọi là Hiểu Thiên Tọa, đến 5 giờ sáng, toàn thể đại chúng vân tập lên Pháp Đường hay Bổn Đường.

• Tụng Kinh nơi Phật Điện: Thượng cúng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cúng dường Lưỡng Tổ Đại Sư, đảnh lễ cảm niệm công đức những vị Thần hộ trì Phật Pháp, tụng Kinh cầu an, nguyện cầu mọi nguời đều được an lạc trên hành tinh nầy. Thông thường tụng bài kệ của Phẩm Phổ Môn, Quan Thế Âm, Chú Đại Bi, ba lần Chú Tiêu Tai và Hồi Hướng.

• Tụng Kinh Cúng Dường Khắp: Thượng cúng Tam Bảo Phật, Pháp Tăng và 16 vị A La Hán. Hồi hướng công đức tụng Kinh đến quả vị giải thoát giác ngộ. Cầu bổn tự bình an, thế giới hòa bình, chư tai tiêu diệt. Thông thường tụng Bát Nhã Tâm Kinh và Hồi Hướng.

• Tụng Kinh tại Tổ Đường: Niệm ân đức của chư Phật, chư Tổ. Phát nguyện tụng Kinh để báo đáp ân nầy. Thông thường tụng Tham Đồng Khiết hoặc Bảo Cảnh Tam Muội và hồi hướng.

• Cúng Khai Sơn Lịch Đại Tổ Sư: Cảm niệm ân đức vị khai sơn bổn tự và chư liệt vị Trụ Trì đã viên tịch đã tạo bao nhiêu công đức cho bổn tự. Phát nguyện tụng kinh hồi hướng công đức, cầu nguyện tu hành thành tựu. Thông thường tụng Chú Đại Bi và Hồi Hướng.

• Tụng Kinh ở Từ Đường: Hồi hướng công đức đến chư Tăng Sĩ ở chùa viên tịch, những vị tiên hiền sáng lập chùa, những người có công với đất nước, những anh linh đã hy sinh vì tổ quốc, những bổn đạo tu hành tinh tấn. Phát nguyện tụng Kinh cầu nguyện cho họ được siêu thoát. Thông thường tụng bài Kệ trong phẩm Vô Lượng Thọ và Hồi Hướng.

• Kinh Cúng Táo Công: Sau thời khóa tụng kinh buổi sáng, đại chúng xuống Tự Đường hoặc Khố Đường hoặc Khố Viện thắp hương, đứng trước tượng Táo Công, tụng chú Đại Bi và tán dương công đức nguyện hộ trì Phật Pháp cầu nguyện cho Chư Tăng được bình an và tinh tấn.

• Cúng Vi Đà Thiên: Sau thời khóa tụng Kinh buổi sáng, đại chúng xuống Khố Lý, đứng trước tượng Vi Đà Thiên, hoặc Giám Trai Sứ Giả tụng Kinh cũng hồi hướng đến Vi Đà Thiên, Giám Trai Sứ Giả và hồi hướng đến các vị Thần lửa, nước. Tụng Kinh hồi hướng công đức nầy cầu nguyện cho trong, ngoài chùa được an ổn, không bị lửa cháy, không bị trộm cướp và cầu nguyện cho Đàn Tín Đồ luôn luôn có niềm tin nơi Phật Đạo. Thông thường tụng Bát Nhã Tâm Kinh, Chú Tiêu Tai (hoặc tụng Chú Tiêu Tai hoặc tụng 3 biến Vi Đà Thiên Căn Bản Đà La Ni) và hồi hướng.

(Bữa điểm tâm bắt buộc phải có dưa cải muối, nêm muối vừa, để dùng với cháo, tuyệt đối không dùng thịt cá. Tất cả dùng trong yên lặng tại Tăng Đường).

Thời kinh trưa thường cử hành lúc 11 giờ sáng tại Pháp Đường hay Bổn Đường, trước tôn tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, Lưỡng Tổ Đại Sư, Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, cầu nguyện cho chúng sanh an lạc, Thiền Môn yên tịnh, Tăng chúng an hòa, tu hành tinh tấn, viễn ly tai nạn, sở nguyện thành tựu. Thông thường tụng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni và Hồi Hướng.
(Buổi cơm trưa thường dùng canh tương (Misosuru), dưa cải muối; những đồ được nấu, rau cải, cơm v.v...).

Thời kinh chiều sau 4 giờ chiều tại Pháp Đường hay Bổn Đường hồi hướng cầu nguyện cho tất cả chúng sanh sớm thành Phật đạo. Thông thường tụng Chú Đại Bi, Cam Lồ Môn và Hồi Hướng.

(Buổi tối chỉ dùng nhẹ, bình thường không dùng tối, gọi là dược thực).

III.5.4 Những Nghi Lễ Thông Thường Của Mỗi Tháng

Những nghi lễ thông thường trong tháng như sau:

III.5.4.1 Vào ngày Mồng Một và Rằm

• Tụng Kinh Chúc Nguyện: Nghi thức nầy cử hành trước buổi tụng Kinh sáng tại Phật Điện, Pháp Đường v.v... Cúng dường Tôn Tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Lưỡng Tổ Đại Sư cầu quốc thái dân an, thọ mệnh Thiên Hoàng trường cữu, sở nguyện thành tựu, sở cầu như ý. Khóa lễ buổi sáng được giảm bớt chỉ còn tụng Kinh Bát Nhã và Hồi Hướng.

• Trấn Thủ Già Lam: Tụng tại nhà Từ Đường sau khóa tụng Kinh sáng. Nếu chùa không có Pháp Đường, tụng tại Bổn Đường gồm Đại Bi Chú và Hồi Hướng, cầu nguyện cho những vị Thần linh bảo hộ chùa, những vị thần hộ trì Phật pháp và hồi hướng những vị Thần làm tỏa rạng uy đức trấn thủ chùa nầy để cho việc tu hành của Tăng chúng luôn luôn thăng tiến không bị thối lui, cầu nguyện cho quốc thái dân an, thanh bình thạnh trị.

• Tiểu Tham: Sau thời tụng Kinh sáng, nghi thức Tiểu Tham cử hành tại Pháp Đường để giải đáp những vấn đề nghi vấn giữa vị Trụ Trì hay Sư Gia với cá nhân chư Tăng.

• Tuần Đường Hành Trì: Tiểu Tham xong, tất cả chư Tăng từ Trụ Trì trở xuống vân tập tại Tăng Đường để cử hành nghi thức ăn bánh, uống trà.

• Thượng Cúng Ngọ: Nghi thức nầy đứng cúng tại Bổn Đường hay Pháp Đường vào buổi trưa còn gọi là Cúng Ngọ, chỉ tụng Bát Nhã Tâm Kinh và Hồi Hướng với mục đích cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Lưỡng Tổ Đại Sư, tán dương công đức giác ngộ của Đức Phật, phát nguyện báo ân phụ mẫu, chúng sanh, Tam Bảo, mong giải hết tất cả những khổ não của chúng sanh, cầu nguyện Phật sự thành tựu.

III.5.4.2 Vào ngày mồng 8, 13, 18, 23 và 28

• Niệm Tụng ở Tăng Đường: Những ngày có số 3 và ngày có số 8 được gọi là tụng 3 và 8. Khoảng 4 giờ chiều, tất cả chư Tăng từ Trụ Trì trở xuống cử hành nghi thức tại Tăng Đường, niệm danh hiệu 10 vị Phật cầu cho ánh sáng trí tuệ của Phật chiếu soi gia bị mọi người bình an để tu học, hộ trì Già Lam an tịnh, đại chúng an hòa tất cả Đàn Gia Tín Đồ cát tường như ý. Những hôm đó khóa tụng Kinh buổi tối giản lược bớt, chỉ niệm danh hiệu 10 vị Phật; cầu Phật phóng quang soi sáng cho mọi người được sống an lạc để tu học, hộ trì Già Lam an tịnh, mọi người được yên ổn và tất cả Đàn Gia Tín Đồ được như ý.

III.5.4.3 Vào ngày 9, 14, 19, 24 và 29

• Tịnh Phát: Sau khi dùng cháo xong, quét dọn trong ngoài sạch sẽ, rồi cạo đầu nơi chúng liêu. Đây không gọi là thế phát. Chữ thế phát có nghĩa là lúc xuất gia cạo đầu lần đầu tiên.

• Khai dục: Sau khi dùng trai xong, tắm cho thân tâm được sạch sẽ.

III.5.4.4 Vào ngày Mồng 5

• Tháng giỗ Đạt Ma Đại Sư: Tại Thiền Môn Trung Hoa, vào ngày mồng 5 mỗi tháng đều cử hành nghi thức tưởng niệm ngày viên tịch của Sơ Tổ Đạt Ma Đại Sư. Khoảng 4 giờ chiều tại Phật Điện hay Pháp Đường, Bổn Đường cử hành nghi thức nầy sau thời khóa tụng kinh buổi tối, tụng Chú Đại Bi, niệm Kinh Báo Ân và hồi hướng để tưởng niệm ân đức Tổ Sư Đạt Ma .

• Cúng Vi Đà Thiên: phía trước đã giải thích trong thời khóa tụng buổi sáng, xin lược bớt.

III.5.4.5 Vào ngày 14, 30 hoặc 31

• Đêm Tham Vấn Uống Trà: Khi hoàng hôn buông xuống, chuông chiều gióng lên tất cả đại chúng từ Trụ Trì trở xuống vân tập tại một phòng rộng, cử hành nghi thức uống trà và ăn bánh. Lúc đó, vị Trụ Trì nhắc nhở chư Tăng mọi việc liên hệ đến ngủ nghỉ v.v...

• Bố Tát đơn giản: Mỗi nữa tháng vào ngày bố tát, khoảng sau 4 giờ chiều đại chúng vân tập lên Pháp Đường hoặc Bổn Đường cử hành nghi thức bố tát trước vị Giới Sư (có thể là vị Trụ Trì), phát lồ những sự sai lỗi trong sinh hoạt hằng ngày để sám hối, tỉnh thức và lễ bái. Nếu sai trái, phải lãnh nhận sự xử phân. Có nghi thức do Sư Gia chỉ dạy. Tiếng Phạn gọi là Uposatta, lược dịch nghĩa đơn giản là Bố Tát.

III.5.4.6 Vào ngày 29

Tưởng niệm Lưỡng Tổ Đại Sư được tổ chức hằng tháng vào ngày 29, ngày mất của Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư và Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư. Sau thời Kinh buổi sáng, đại chúng cử hành tại Tổ Đường, tụng Đại Bi Chú và Hồi Hướng, cũng có thể cử hành vào buổi trưa tại Tổ Đường, tụng phẩm Thọ Lượng và phẩm An Lạc Hạnh và Hồi Hướng. Bởi vì tụng Kinh cho Lưỡng Tổ Đại Sư để nhớ nghĩ đến ân đức của Lưỡng Tổ Đại Sư hầu mong báo đáp.
Ngoài ra, mỗi chùa còn lấy ngày mất của những vị khai sơn, ngày mất của những vị khai cơ, tụng Kinh, tán dương công đức và tưởng niệm uy đức, để mong làm tròn ý nghĩa báo ân chư liệt vị Tổ Sư.

III.5.5 Công Việc Thường Kỳ Trong Mỗi Năm

Có nhiều nghi lễ cử hành trong năm tại các tự viện, đặc biệt tại Lưỡng Đại Bổn Sơn rất quan trọng, ở đây chỉ nêu lên những nghi lễ đại biểu như Nhị Tổ Tam Phật Kỵ .

Tụng Kinh Chúc Nguyện: Vào mồng 1 và 15 như đã trình bày.

Lễ Đức Thích Tôn Giáng Sanh: Ngày 8 tháng 4 Lễ Phật Đản.
Lễ Đức Thích Tôn Thành Đạo: Ngày 8 tháng 12 Lễ Phật Thành Đạo, xác chứng tính tự giác cho mọi nguời.
Lễ Đức Thích Tôn Niết Bàn: Ngày 15 tháng 2 Lễ Phật Nhập Niết Bàn.
Giỗ Đạt Ma Tổ Sư: Ngày 5 tháng 10 tưởng niệm Sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa. Nghi thức tưởng niệm Tổ Đạt Ma Đại Sư viên tịch.
Kỷ Niệm Cao Tổ Giáng Sanh: Ngày 26 tháng 1 Lễ Đản Sanh của Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư.
Kỷ Niệm Thái Tổ Giáng Sanh: Ngày 21 tháng 11 Lễ Đản Sanh của Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư.
Giỗ Lưỡng Tổ: Ngày 29 tháng 9 tưởng niệm Cao Tổ và Thái Tổ viên tịch, nguyện tinh tấn báo ân.

Giỗ Khai Sơn: Ghi nhớ sự ra đi của vị khai sơn để báo ân, nguyện tinh tấn tu học. Trường hợp của Lưỡng Đại Bổn Sơn, không gọi là Khai Sơn Kỵ, đặc biệt tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự gọi là Ngự Chinh Kỵ, nhằm ngày 23 tháng 9 đến ngày 29 tháng 9. Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự cũng gọi Ngự Chinh Kỵ, từ ngày 12 tháng 10 đến ngày 15 tháng 10. Hầu như tất cả các vị Trụ Trì và Đàn Tín Đồ trên toàn quốc vân tập về Đại Bổn Sơn để đăng sơn lễ bái, tưởng niệm, nhớ ơn Lưỡng Tổ Đại Sư, nguyện đền đáp thâm ân.

Ngày Lễ Bỉ Ngạn: Lễ Bỉ Ngạn, vào tiết Thanh Minh, mùa Xuân kéo dài 1 tuần lễ nằm giữa những ngày Xuân phân. Mùa thu cũng có Lễ Bỉ Ngạn kéo dài 1 tuần lễ nằm giữa những ngày Thu phân. Nghi thức Bỉ Ngạn cầu nguyện cho những vị Khai Sơn, chư vị Trụ Trì và những vong linh của Đàn Tín Đồ được siêu thoát. Thường có thuyết pháp v.v...

Lễ Vu Lan Bồn: Ngày 15 tháng 7 hoặc là ngày 15 tháng 8. Vu Lan Bồn tiếng Phạn gọi là Ullambana, cũng gọi là Lễ Cô Hồn, tụng Kinh Vu Lan Bồn, bởi vì một trong những vị đệ tử lớn của Đức Thích Tôn là Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả vì muốn cứu mẹ bị đọa vào đường ngạ quỉ, cung thỉnh Đức Thích Tôn, được Phật dạy để cầu siêu cho cha mẹ bảy đời, phải sắm đồ ăn trăm món cúng dường cho Mười Phương Tăng, cha mẹ sẽ thoát khỏi ngạ quỉ và các ngạ quỷ cũng được cứu độ. Kinh nầy vốn xuất phát từ Ấn Độ, Trung Hoa, truyền sang Nhật Bản trở thành nghi thức cúng dường Hương Linh cũng như Thí Thực Hội.

An Cư Kết Chế: Từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 7, cửu tuần (thời gian 90 ngày) gọi là Hạ An Cư. Còn từ 15 tháng 10 đến 15 tháng 1 năm sau gọi là Đông An Cư. Suốt trong hai thời gian nầy gọi là “Chế Trung”, chư Tăng không được phép đi ra ngoài, luôn luôn ở trong Tăng Đường chuyên tu niệm Phật, tọa Thiền .

Nhiếp Tâm Hội: Nhân ngày mồng 8 tháng 12, Lễ Thành Đạo, bắt đầu từ ngày 1 tháng 12 đến ngày 8 tháng 12, chư Tăng hoàn toàn không ngủ, nhiếp tâm tọa thiền và tu hành, gọi là “Lạp Bát Nhiếp Tâm”. Tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự ngoài Lạp Bát Nhiếp Tâm Hội ra còn có Đoạn Tý Báo Ân Nhiếp Tâm Hội vào ngày 9 tháng 12; Báo Ân Niết Bàn Nhiếp Tâm Hội từ ngày 1 tháng 12 đến ngày 7 tháng 2. Tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự có Hạ Mạt Nhiếp Tâm Hội cuối tháng 6 đến 5 ngày sau, Truyền Quang Nhiếp Tâm Hội trong tuần tháng 6, có 5 ngày cởi bỏ những sự ràng buộc, Hạ Kỳ Nhiếp Tâm Hội vào hạ tuần tháng 7, có 5 ngày cởi bỏ những ràng buộc. Tại các Tăng Đường ở tự viện địa phương mỗi tháng 1 tuần lễ, thực hành định kỳ Nhiếp Tâm Hội , rất thực tế.

Lễ Thọ Giới: dành riêng cho Đàn Tín Đồ về lãnh thọ giới pháp từ vị Giới Sư, làm sống lại tánh tự giác của Tín Đồ Phật Giáo tổ chức từ ngày 23 tháng 4 đến ngày 28 tháng 4 tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự, và một tuần lễ từ ngày 10 đến ngày 16 tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự. Hầu hết tất cả Đàn Tín Đồ vân tập về Đại Bổn Sơn cùng tu với chư Tăng, trực tiếp học Phật Pháp với các vị Cao Tăng và nhận sự chỉ dạy đặc biệt từ vị Quản Thủ Thiền Sư.

Nhãn Tạng Hội và Truyền Quang Hội: Mỗi năm, từ ngày mồng một đến ngày 21 tháng 6 tại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự thường tổ chức giới thiệu những vị Sư Gia Cao Đức đương thời trình bày những trước tác của Thiền Sư Đạo Nguyên, Tào Động Tông Tông Điển và Chánh Pháp Nhãn Tạng. Những buổi thuyết trình như thế giảng chung cho thính chúng rất đông người tham dự. Tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, tổ chức từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 6 thuyết trình về Thiền Sư Oánh Sơn ngữ lục, Tào Động Tông Tông Điển và Truyền Quang Lục tại Hậu Đường của Tổng Trì Tự, thỉnh các vị học giả đương thời hoặc các Sư Gia giảng công cộng cho thính giả. Tuy nhiên, vấn đề thời gian, ngày tháng cũng thay đổi trước sau tùy năm, để phù hợp với chương trình chung.

III.2 Thất Đường Già Lam

III.2.1 Sự Thay Đổi Kiến Trúc Của Tự Viện

Già Lam, nguyên ngữ bằng tiếng Sanscrit cổ, Ấn Độ là Shangarama, còn gọi là Tinh Xá, Chùa, Tự Viện. Kiến trúc Tự Viện Nhật Bản ảnh hưởng trực tiếp từ bán đảo Triều Tiên, gián tiếp từ Trung Hoa. Từ thời Bình An (Heian), mỹ thuật kiến trúc Nhật Bản mô phỏng theo hai dạng mỹ thuật kiến trúc Triều Tiên có từ thời Phi Điểu, và mỹ thuật Trung Hoa từ thời nhà Đường. Đến thời Kamakura, lối kiến trúc đó bị loại bỏ đi thay bằng lối kiến trúc thời Tống (Trung Hoa) hòa với lối kiến trúc thời Thất Đinh. Đến thời Đào Sơn mỹ thuật kiến trúc trở nên đẹp vô cùng, tạo nên phong cách mỹ thuật đặc biệt của thời đại nầy. Còn thời đại Giang Hộ (Edo), lại theo phong cách đơn giản, hiện đại và độc lập, theo lối phong cách Âu Châu.

Kiến trúc Chùa, đặc biệt vào thời Kamakura thể hiện trọn vẹn phong cách Thiền ảnh hưởng mô thức Trung Hoa thời Đường, còn gọi là phong cách Thiền Tông, có nhiều điểm giống Lâm Tế Tông, Hoàng Bích Tông, Tào Động Tông, hẳn nhiên cũng không thiếu nhiều điểm khác biệt đặc thù.

III.2.2 Già Lam Của Tào Động Tông Là Nơi Chính Để Tu Hành

Thiền Sư Đạo Nguyên phối hợp những phiên bản Tự Viện Trung Quốc và Ấn Độ, suy nghĩ kiến tạo đạo tràng trang nghiêm của Tông Tào Động. Chùa Vĩnh Bình kiến tạo mô phỏng theo Chùa Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức ở tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa (bây giờ gọi là Thiên Đồng Tự). Tông Tào Động vẫn sử dụng từ “Thất Đường Già Lam“ có lẽ từ thời Giang Hộ (Edo), không có căn cứ nào chỉ cho nguyên thỉ của chữ nầy. Song cũng có thuyết cho rằng Tông Tào Động gọi là Thất Đường Già Lam cho những ngôi Chùa đầy đủ 7 gian như: Sơn Môn, Phật Điện, Pháp Đường, Khố Viện, Tăng Đường, Dục Thất và Đông Ty. Ngoài ra, Chùa còn có tháp 3 tầng, tháp 5 tầng hay Đa Bảo Tháp, Xá Lợi Tháp v.v... những tháp nầy không gồm chung trong Thất Đường Già Lam. Chùa Thiền hay đặc biệt là Chùa của Tào Động Tông không có Tháp, nếu có, tháp được xây sau hoặc là xây với lý do nào đó, còn Chùa thuộc Tông Pháp Tướng và Tông Chơn Ngôn có xây tháp.

Hình thức Thất Đường Già Lam của Tông Tào Động theo thứ tự từ bên ngoài đi vào là: Sơn Môn, Phật Điện, Pháp Đường, bên mặt là Khố Viện, trước có Dục Thất (phòng tắm rửa), bên trái là Tăng Đường, trước có Đông Ty (nhà vệ sinh). Tất cả đều có hành lang bao bọc xung quanh trở thành một hình vuông vức. Ngoài Thất Đường còn có những tòa nhà liên quan được xây dựng thêm. Càng về sau, ở những ngôi chùa nhỏ Thất Đường đơn giản chỉ còn Bổn Đường (Chánh Điện), Khố Lý (nhà kho), Khai Sơn Đường (Chỗ Thờ Tổ), Vị Bia Đường (nơi thờ vong). Cũng có nhiều hình thức biến dạng khác như thêm lầu chuông hay cổng tam quan, song chỉ là những trường hợp riêng biệt mà thôi. Nói chung các chùa đều giống nhau như thế, bởi trước nhất phải hợp với khả năng cho nên phải đơn giản, sẽ giải thích rõ về Thất Đường Già Lam dưới đây.

III.2.3 Sơ Lược Về Thất Đường Già Lam

Sơn Môn vừa chỉ cho cổng chính vào Chùa, vừa chỉ cho thế giới thanh tịnh, không có phiền não khổ đau. Cổng chùa thường có ba cửa, cửa lớn ở chính giữa, hai cửa nhỏ ở hai bên, còn gọi là Cổng Tam Quan, cũng gọi là Tam Môn. Ngoài ra, còn có những tên khác là: Quán Mộc Môn, Dược Y Môn, Anh Môn, Nhị Trọng Môn v.v... Tông Tào Động thường dùng Anh Môn và Nhị Trọng Môn. Ở phần hai bên trước cổng, thường an trí các vị Nhơn Vương. Trên Anh Môn (lầu) thường đặt tượng Phật, Bồ Tát hay các vị La Hán. Trên cao, treo một Phạn Chung (Đại Hồng Chung). Nếu chùa lớn, ngoài Sơn Môn còn có Tổng Môn (chỉ có một cửa ra vào), Tam Tùy Quan, Đống Môn, Dược Y Môn và Sắc Sứ Môn còn gọi là Hương Đường Môn.

Điện Phật còn gọi là Đại Hùng Phong Điện, Đại Hùng Điện, Đại Điện v.v... tọa lạc ngay chính giữa, trong đó có Tu Di Đàn thờ Đức Bổn Tôn Thích Ca Mâu Ni ngay trung tâm, hai bên trái phải của Phật, mỗi bên an trí một tượng Bồ Tát. Đa phần, thờ Đức Phật Thích Ca ở giữa (vị khai Tổ của Phật Giáo). Tôn Giả Ca Diếp trưởng tử Phật, Sơ Tổ Thiền Tông. Tôn Giả A Nan đệ tử thị giả của Đức Phật Thích Ca, vị Tổ Sư thứ hai, thị giả hầu Phật được nghe nhiều lời giảng nhất. Ngoài ra, còn thờ Tam Tôn Phật: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (biểu hiện Đức Phật trong hiện tại), Đức A Di Đà Như Lai (biểu hiện Đức Phật trong quá khứ). Đức Di Lặc Như Lai (biểu hiện Đức Phật trong tương lai). Tam Tôn Phật cũng còn được hiểu là: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ Tát Văn Thù (biểu trưng cho trí tuệ Phật) và Bồ Tát Phổ Hiền (biểu trưng hạnh nguyện Phật). Phía đông của Phật Điện (từ ngoài nhìn vào phía bên mặt) thờ Đàn Thổ Địa hay thờ Bồ Tát Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý. Phía Tây (phía trái từ ngoài nhìn vào) là Tổ Sư Đàn, thờ Sơ Tổ Đạt Ma. Thông thường bàn thờ làm bằng gạch hay đá, có chỗ để bày dâng lễ cúng. Đặc biệt, phần nghi lễ được tổ chức tại Phật Điện.

Pháp Đường là nơi vị Trụ Trì thuyết Pháp cho Tăng sĩ đang tu tập. Khi thuyết Pháp vị Trụ Trì được cung kính như đại diện chư Phật, chư vị Tổ Sư có trách nhiệm truyền trao giáo Pháp cho thính chúng, cho nên trong Pháp Đường không thiết tượng Phật nào cả. Tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự, có đặt tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biểu trưng tâm từ bi bao la của Phật, một lý do khác, như đã trình bày ở trước, ở Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, Tổ Đường chính là Pháp Đường, nơi đó là Đại Tổ Đường được xem là một Đạo Tràng thuyết pháp của Tổ khai sơn Thiền Sư Oánh Sơn. Giữa Tổ Đường là Pháp Đường cũng còn có ý nghĩa là tôn trọng giữ gìn lời giáo huấn của Tổ. Tại Đại Tổ Đường nầy, đàn trên cao ở chính giữa, thờ tượng Tổ khai sơn Thiền Sư Oánh Sơn, hai bên trái phải thờ Thiền Sư Đạo Nguyên, Cao Tổ và thờ Thiền Sư Nga Sơn Chiêu Thạc, vị Tổ thứ hai của Tổng Trì Tự. Ngoài ra, các tượng của chư vị Tổ Sư cũng được thờ tại đây. Tại Pháp Đường thường có những thời Kinh sáng, trưa, tối và hầu như tất cả nghi lễ quan trọng đều cử hành tại đây.

Khố Viện hay Khố Lý thờ tượng Vi Đà Thiên và tượng Đại Hắc Thiên còn gọi là Đài Hương Tích, vừa là nơi chứa thực phẩm cho chư Tăng thường trụ và khách Tăng, vừa là nơi thâu nhận thực phẩm cúng dường, cũng là chỗ xay thóc.

Dục Thất, nhà tắm, có thờ tượng Tôn Giả Bạt Đà Bà La. Trong Chùa, Tăng Đường, Đông Ty và Dục Thất là ba nơi cần phải giữ thật trang nghiêm yên tĩnh, tuyệt đối cấm không được cười đùa, nói chuyện riêng tư, không được tạo ra âm thanh ồn ào. Ngay cả, tắm rửa kỳ cọ thân thể cho thanh tịnh cũng quan trọng như những việc tu hành khác.

Tăng Đường có nơi gọi là Vân Đường, cũng còn gọi là Tuyển Phật Trường, mà những chữ nầy được treo ngay ở chính giữa. Thông thường người ta còn gọi nơi nầy là Tọa Thiền Đường nhưng Tông Tào Động không gọi là Tọa Thiền Đường vì gọi như thế nghĩa là phân biệt chỗ hành thiền khác với nơi ăn uống. Tăng Đường là nơi mà chư Thánh Tăng và chư Bồ Tát thường lui tới, vốn gọi là Thánh Tăng Đường. Trong Thất Đường Già Lam của Tông Tào Động cũng có những nơi quan trọng biểu trưng hiện hữu của Thần Thánh, cũng có thể gọi là nhiệm mầu thiêng liêng, mà tuyệt đối không ai, cả người trong Chùa lẫn người ở ngoài tự ý vào được.

Đồng thời, Tăng Đường chia làm hai phần, bên ngoài là nơi dùng cơm, uống nước của chư Tăng, bên trong còn gọi là Nội Đường hay Đường Nội thờ chư vị Thánh Tăng như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Quan Thế Âm, cũng có Chùa thờ Tôn Giả Kiều Trần Như, trên cái Trang ngay chính giữa. Bên dưới thiết kế những chỗ ngồi thiền, gọi là Trường Liên Sàng, là những cái đơn cao chừng một mét, rộng chừng một chiếc chiếu (Tatami), để ngồi Thiền mặt hướng vào tường hoặc cửa sổ.

Còn có những cái Đơn khác gọi là Hàm Quỹ, mặt bằng độ chừng 30 cm làm bằng gỗ, bên trong Hàm Quỹ (cái rương) đựng y áo và bình bát, phía dưới trải ra làm chỗ nghỉ, còn gọi là Tịnh Duyên, bởi vì chỗ nầy, vật nầy cũng dùng để làm nơi ăn uống. Tịnh Duyên có ý là ăn uống trong sạch thanh tịnh. Ngay cả ở bên ngoài cũng có kê những chiếc Đơn như thế.

Bên ngoài còn có những giá treo chuông gọi là Tăng Đường Chuông, Ngoại Đường Chuông và có cả Pháp Cổ (trống) cũng như những pháp cụ khác để báo hiệu khi cần thiết. Những việc như đọc sách, viết lách, cạo tóc, khâu vá v.v.., đều thực hiện trong liêu chúng. Mô hình liêu chúng là giữa liêu đặt tượng Bồ Tát Quan Thế Âm, hoặc tượng Hư Không Tạng Bồ Tát, chỉ có Hàm Quỹ (cái rương) và Tịnh Duyên (chỗ ăn) và liêu chúng gần Tăng Đường.
Đông Ty là Tiện Sở (cầu xí) cũng còn gọi là Tây Tịnh, nhưng chữ nầy bây giờ không còn dùng đến nữa, ở nơi nầy thường để tượng Điểu Sô Sa Ma Minh Vương.

III.2.4 Trường Hợp Những Tự Viện Thông Thường

Tóm lại, các vấn đề xây dựng như thế nào, ai xây, xây ở đâu, khi nào của các chùa thuộc Tông Tào Động lệ thuộc vào vấn đề xã hội địa phương và nguyện vọng của mọi người nữa. Thật ra, mỗi chùa có mỗi điều kiện, mỗi tính cách và mỗi mục đích khác nhau, không thể phán đoán chung chung được, tuy nhiên, có thể phân loại ra như sau:

Thứ nhất, Tu Hành Tự là tự viện như một đạo tràng dùng để tu tập và tọa thiền. Những tự viện nầy vốn có liên hệ với Tông Tào Động từ xưa, như Lưỡng Đại Bổn Sơn, mà dù cho chùa ấy có gì đặc biệt đi chăng nữa, thì vấn đề căn bản vẫn là chỗ để tu hành theo Tông Tào Động

Thứ hai, Bồ Đề Tự là tự viện để lễ bái và phụng thờ Ngài Hoằng Pháp Đại Sư, Ngài Quan Thế Âm, Thất Phước Thần, Linh Trường, thường thấy nơi các chùa thuộc Tông Pháp Tướng, Tông Hoa Nghiêm, Tông Thiên Thai, Tông Chơn Ngôn v.v... về sau dù đã đổi sang Tông Tào Động nhưng vẫn còn giữ tôn phong cũ.

Thứ ba, Kỳ Thọ Tự là chùa thờ Đức Quan Âm, Ngài Dược Sư, Ngài Địa Tạng, Ngài Bất Động, các vị Tổ Sư, Thần Lúa, Thiên Cẩu v.v... vì nhu cầu của mọi người đến tự viện lễ bái cầu nguyện.

Thứ tư, Quán Quan Tự là chùa lịch sử danh lam thắng cảnh, gần gũi mọi người và cảnh trí đẹp, được nhiều người tới lui vãn cảnh.

Tuy nhiên, trừ Lưỡng Đại Bổn Sơn và những tự viện lớn, còn các chùa thuộc Tông Tào Động về hình thức căn bản là những Già Lam theo mô hình: Sơn Môn, Bổn Đường, Khai Sơn Đường, Vị Bi Đường, Khố Lý, Chung Lầu, Tọa Thiền Đường v.v... mà chúng ta lần luợt tiếp xúc với những phần nầy.

Sơn Môn thờ tượng Nhân Vương, trên lầu cao thờ tượng Phật, Bồ Tát, nhưng cũng có nơi không có, bởi vì những chùa nhỏ nhiều khi không có Sơn Môn (cửa ra vào) nữa, đôi khi chỉ khắc tên chùa trên phiến đá thay cho cổng tam quan.

Bổn Đường cũng còn gọi là Phật Điện hay Pháp Đường, bên trong thờ Bổn Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hoặc thờ Tam Tôn, song chính giữa vẫn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng, tùy theo sự thành lập của tự viện, có những đặc thù riêng, không phải hoàn toàn giống nhau, có chùa thờ Đức A Di Đà Như Lai, Đại Nhật Như Lai, Dược Sư Như Lai v.v... có chùa thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Bất Động Minh Vương, Biện Tài Thiên và cũng còn nhiều tượng khác nữa. Tựu trung vẫn là hình tượng chư Phật và chư Bồ Tát mà ở đây có thể rõ thêm rằng đó là đặc trưng Phật tánh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rộng lớn bao la như thế.

Trên bốn bức tường chung quanh Bổn Tôn trong Chánh Điện thường có 18 vị A La Hán. Hai bên tả hữu của Bổn Tôn thường thờ tượng Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý Bồ Tát và tượng Đạt Ma Đại Sư. Sau Chánh Điện ngăn ra hai bên phải trái thờ linh vị của Tín Đồ Phật Tử.

Tại Bổn Đường (Chánh Điện) sáng, trưa, tối đều có tụng Kinh, nơi đây thường cử hành những nghi lễ cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, lễ hằng thuận v.v...

Khai Sơn Đường tiếp giáp sau Bổn Đường, ở giữa thờ Ngài Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư hay Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư. Ngoài hai vị Tổ Sư, còn thờ tượng bằng gỗ của vị Hòa Thượng khai sơn chùa ấy nữa. Hai bên phải trái thờ tượng của các vị Trụ Trì, linh vị của những người sáng lập chùa, nơi đây cũng thờ linh vị Tín Đồ nữa, miễn sao ở giữa có nơi làm lễ là được. Phía trước còn bàn kinh, có gối để lạy, có chuông mõ hai bên.

Vị Bi Đường là nơi linh vị Tín Đồ. Thông thường có thể thờ ở phía sau Chánh Điện hay Khai Sơn Đường, nhưng tùy địa phương Vị Bi Đường được xây riêng một nơi biệt lập bên ngoài Bổn Đường hay Khai Sơn Đường. Ở giữa, thờ tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Mỗi gia đình có mỗi bàn thờ nhỏ và tự quản lý, cúng dường và tự mỗi gia đình đến chùa chăm sóc lấy.

Khố Lý được xây dựng ở bên phải Chánh Điện và mặt hướng về Chánh Điện. Nơi đây gồm có hành lang, phòng tiếp lễ vật, phòng khách, phòng ở của vị Trụ Trì, phòng ở của gia đình Trụ Trì, phòng sinh hoạt, phòng chuẩn bị, phòng ăn, phòng tắm, nhà vệ sinh v.v... Tùy theo chùa, Khố Lý lớn hay nhỏ, có chùa Khố Lý còn lớn hơn Chánh Điện nữa.

Tọa Thiền Đường được xây dựng phía bên trái hướng về Chánh Điện, đối diện tương xứng với khố lý. Cũng tùy điều kiện đất đai, đôi khi được thiết lập ngay tầng dưới của Khai Sơn Đường, những chùa không có Tọa Thiền Đường, có thể dùng Chánh Điện hay Khai Sơn Đường thay thế.

Lầu Chuông được thiết kế ở một góc vườn. Mỗi sáng tối thỉnh chuông nhứt định vào một thời điểm nào đó. Chùa nào không có lầu chuông, thường treo chuông bên ngoài cửa hay bên trong Chánh Điện.

Ngoài ra, trong vườn còn xây những nơi như: Đại Sư Đường, Trấn Thủ Đường, Đạo Hà Đường (nơi thờ Thần Lúa), Thần Xã, Sáng Khố v.v...

III.2.5 Công Việc Của Các Vị Tăng

Già Lam không phải chỉ thờ Phật, mà với người sống, nơi đây là những Đạo Tràng tu hành để thành Thánh, thành Phật. Già Lam của các chùa tu Thiền, như đề cập ở trên, được tổ chức theo thể thức sinh hoạt cộng đồng với mục đích tu hành. Riêng Thiền Tông, đặc biệt Tào Động Tông, có sự phối trí khác biệt. Chư Tăng ở chùa tu hành, tất cả nhất định phải phân công công việc để làm, không ai không làm việc, những công việc từ thời Lưỡng Tổ Đại Sư cho đến bây giờ vẫn thế. Được gọi là người tu, việc đầu tiên ở chùa, phải có khả năng làm việc hiệu quả. Không những chỉ riêng người tu ở chùa Tu Hành Tự, mà cho tất cả những tự viện lấy chùa Tu Hành Tự làm căn bản. Chư Tăng trong chùa phải làm việc được giải thích như sau:

Trụ Chức nghĩa là viết tắc của Chức Trụ Trì, người có trách nhiệm lớn lao đối với chùa. Với tư cách là “Tôn Giáo Pháp Nhơn” đại biểu cho chùa đó. Nếu chùa lớn, cũng còn xưng là Sơn Chủ thay cho Trụ Trì, đôi khi thay đổi gọi là Đường Đầu Hòa Thượng, mà thông thường gọi là Phương Trượng, Đường Đầu hoặc Hòa Thượng. Có nơi gọi vị Trụ Trì là Ojutsusan và Hòa Thượng là Ossan.

Quản Thủ là Chức Vụ của hai đại Bổn Sơn, cũng còn gọi là Quản Thủ Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự và Quản Thủ Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự. Ở hai Đại Bổn Sơn còn có vị Phó Quản Thủ, vị thứ hai sau Quản Thủ nữa.

Tây Đường là nơi ở của những vị Cao Đức do vị Trụ Trì cung thỉnh đến để chỉ đạo các Phật sự, bình thường vị Tăng nầy đứng sau vị Trụ Chức.

Giám Viện nghĩa là người thay thế vị Trụ Trì, làm Tổng Quản quán sát tất cả những công việc và mọi vấn đề hành chánh của chùa. Trước đây, vị nầy đứng đầu trong bảng Lục Hòa, mà có nơi gọi là Giám Tự. Ngoài ra còn có Phó Giám Viện thay thế việc điều hành mỗi khi vị Giám Viện vắng mặt .

Hậu Đường là chỗ hành trì của vị Tăng trực tiếp chỉ đạo.

Đơn Đầu là ngôi vị thứ hai của vị Tăng ở Hậu Đường đang hành trì và trực tiếp chỉ đạo.

Phó Tự là vị Tăng lo việc chi tiêu của chùa, lo trọn một trong 6 phép hòa kính.

Tri Khố là vị Tăng lo quản lý thức ăn, tiền bạc và giúp đỡ cho vị phó Trụ Trì.

Duy Na là người giúp đỡ cho vị Hậu Đường và Đơn Đầu, chỉ đạo và hướng dẫn chư Tăng tu hành, quản lý Tăng Đường, tụng khai Kinh và hồi hướng mỗi thời tụng Kinh, giữ vững kỷ cương một trong 6 phép hòa kính, tuy nhiên, có chùa xem đây là việc của vị Giám Tự.

Duyệt Chúng là vị giúp đỡ cho Duy Na, phần vụ thủ mõ.

Đường Hành cũng là nhiệm vụ của Duy Na và Duyệt Chúng, phải gõ khánh, tụng khai Kinh và hồi hướng trong mỗi thời công phu tụng Kinh.

Điển Tọa là vị Tăng lo việc ăn uống vâng giữ một trong 6 phép lục hòa.

Phó Điển còn gọi là Phạn Đầu, vị Tăng hổ trợ giúp việc cho Điển Tọa.

Trực Tế là vị Tăng chuyên lo việc chấp tác, trùng tu sửa chữa Già Lam, chữa đường sá, cũng là người vâng giữ một trong 6 phép lục hòa.

Tri Khách là vị Tăng lo việc tiếp đón khách.

Thị Chơn là vị Tăng chăm sóc chỗ thờ Tổ Khai Sơn.

Cúng Chơn là vị Tăng giúp đỡ Thị Chơn, cũng gọi là Truyền Cúng.
Tri Điện là vị Tăng quản lý Phật Điện và Pháp Đường. Người phụ tá gọi là Diện Hạnh.

Thượng Sự là vị Tăng lo việc thư ký, bảo quản văn thơ giấy tờ.

Tri Dục cũng còn gọi là Dục Chủ, vị Tăng quản lý nhà tắm.

Thị Cục Trưởng là vị Tăng thân cận, chăm lo và giúp đỡ vị Trụ Trì. Ở hai Đại Bổn Sơn những vị nầy hổ trợ vị Quản Thủ.

Thị Giả là vị Tăng thân cận hầu hạ vị Trụ Trì và Chư Tôn Đức đến thăm chùa. Có 5 loại Thị Giả chánh thức như:

Thiêu Hương Thị Giả, là người có trách nhiệm lo việc hương đăng và dâng hương cho vị Trụ Trì, mỗi khi có lễ.

Thư Trạng Thị Giả là vị lo vấn đề thư từ cho vị Trụ Trì.
Thỉnh Khách Thị Giả là vị Tăng lo ứng đối tiếp đãi khách của vị Trụ Trì.

Y Bát Thị Giả là vị Tăng lo Pháp Y cho vị Trụ Trì.

Thang Dược Thị Giả là vị Tăng lo thức ăn và thuốc men cho vị Trụ Trì.

Thông thường chỉ hai hay ba vị kiêm nhiệm luôn.

Thị Thánh nghĩa là Thị Giả của chư Thánh Tăng thờ tại Tăng Đường (như Ngài Văn Thù Bồ Tát), lo việc cúng dường nước hoặc trà nóng lên Bồ Tát.
Giảng Sư nghĩa là vị Thầy thường giảng nghĩa và thuyết pháp cho Chư Tăng và Tín Đồ.

Tạng Chủ tức là vị quản lý tạng Kinh và điện thờ có nhiều bảo vật.

Tịnh Đầu là vị Tăng quản lý Đông Ty (nhà xí).

Tấu Giả là vị Tăng có trách nhiệm thông tin cho khách hoặc những liêu xá, khi có những việc cần thiết.

Thủ Tọa là địa vị cao nhất của chư Tăng, còn gọi là Thượng Tọa.

Thư Ký nguyên là chức vụ Thị Giả Thư Trạng, phụ trách những công việc phụ giúp vị Thủ Tọa liêu, thường ngồi ở vị trí thứ hai sau Thượng Tọa.

Biện Sự là vị Tăng còn trẻ luôn ở bên vị Thư Ký, Thủ Tọa, nơi liêu Thủ Tọa.

Hành Giả là vị Tăng còn đang tu học, gần gũi thân cận, làm các công việc.
Ngoài ra, ở Điện Đường, Điện Ty, Đường Ty, Phật Điện, Pháp Đường khi có lễ, vị thỉnh chuông gọi là Chung Ty, vị lo công việc trong Tăng Đường gọi là Trực Đường, vị lo việc dọn dẹp gọi là Thanh Tảo Đương Phiên v.v... nhiều lắm không thể ghi chi tiết ra đây hết. Vả lại, còn có khá nhiều công việc như xuất bản, bố giáo, và nhiều việc không cần có chức vụ ở Lưỡng Bổn Sơn nữa, song tùy theo tính chất quy mô hay đơn giản của chùa, tùy theo địa phương, tùy theo xã hội mà công việc có thể tùy nghi sửa đổi thêm hay bớt.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn