Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

3. Bổn Tôn, Phật Tượng Và Pháp Cụ

12/04/201107:13(Xem: 3584)
3. Bổn Tôn, Phật Tượng Và Pháp Cụ

THIỀN TÀO ĐỘNG NHẬT BẢN
Nguyên tác: Azuma Ryushin (Đông Long Chơn) - Việt dịch: Thích Như Điển
Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc và quý Phật Tử tại Mỹ Châu – Úc Châu ấn tống 2008

Chương hai:
Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ

III. Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ

III.3 Bổn Tôn, Phật Tượng Và Pháp Cụ

III.3.1 Già Lam và Bổn Tôn

Trong Già Lam tự viện của Tông Tào Động, an trí tôn tượng Phật ngay chính giữa Chánh Điện, tất nhiên cách phối trí sao cho phù hợp với không gian và hoàn cảnh, để người lễ Phật và khách tham quan dễ nhìn, hẳn nhiên không đơn thuần cho việc lễ bái, mà còn ẩn tàng cả một triết lý cao siêu nữa. Bởi vì, như trước đã nói, Bổn Tôn của Tào Động Tông là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Thích Tôn).

Thật không sai nếu cho rằng Điện Phật là Trung Tâm của Già Lam, tất nhiên phải thờ tượng Phật ở tại Bổn Đường (Chánh Điện). Ở Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự, tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Hiện tại) thờ ở giữa, hai bên trái và phải thờ Phật A Di Đà (Phật quá khứ) và Phật Di Lặc (Phật vị lai). Tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự thờ Phật ở chính giữa và hai bên thờ Tôn Giả Ca Diếp và Tôn Giả A Nan. Tại Đại Thừa Tự, huyện Ishinakawa, phố Kanezawa thờ Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền ở hai bên. Tại Chùa Vĩnh Quang, Ishikawa, phố Hakui thờ Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Hư Không Tạng ở hai bên.

Các tự viện thuộc Tông Tào Động vốn thờ tôn tượng Phật song không hầu hết như thế. Tại Phật Điện chỉ an trí Bổn Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Tam Tôn, tại Sơn Môn thờ tượng Nhân Vương, La Hán v.v... tại Tăng Đường thờ Bồ Tát Văn Thù, tại chỗ tắm thờ Bạt Đà Bà La Tôn Giả, tại Đông Ty (nhà xí) thờ Điểu Sô Sa Ma Minh Vương v.v... đại loại như thế để phân biệt rõ đâu là Chánh Điện, không phải là Pháp Đường hoặc liêu xá, hoặc nhà Từ Đường. Những tôn tượng Phật và các tượng khác v.v... cũng đổi thay tùy theo lịch sử và điều kiện của tự viện nữa, từ đó các loại Điện Đường thành hình ngày càng trở nên đa dạng như vậy.

Song dù sao đi nữa, ý nghĩa tôn thờ Tôn Tượng không có gì khác ngoài sự biểu lộ tâm thành của người lễ bái. Khi thành tâm lễ bái, ta phải hiểu rằng, những tôn tượng Phật trở nên sống động đối với người lễ và những tôn tượng Phật hàm dung một ý nghĩa vô cùng quan trọng.

III.3.2 Tượng Phật

Tôn tượng Phật thật tế có nhiều loại như tượng Như Lai (Phật), tượng Bồ Tát, tượng Minh Vương, tượng Thiên Thần, về hình thức, có nhiều hình dáng khác nhau, có nhiều tượng đứng, tượng ngồi mỗi tượng hàm chứa ý nghĩa mỗi khác.

Tôn tượng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, vị Giáo Chủ, khai Tổ của Phật Giáo, tọa Thiền tay bắt ấn kiết già luôn luôn thờ chính giữa trên Phật Điện hay trong Bổn Đường. Ngoài ra, ngày lễ Phật Đản (mồng 8 tháng 4 gọi là Hanamatsuri) và lễ Nhập Niết Bàn (nhằm ngày 15 tháng 2), thường treo thêm tranh họa Phật đản sanh hay cảnh nhập Phật Niết Bàn.

Tôn Tượng A Di Đà Như Lai, vị Giáo Chủ của cõi Tây Phương Cực Lạc tượng trưng Phật trong quá khứ, thờ một bên Đức Thích Ca Mâu Ni trong Phật Điện Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự.

Còn tôn tượng Thập Tam Phật gồm Đức Thích Ca, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền
Bồ Tát là 3 vị ở chính giữa và 10 vị Phật khác phối trí thờ thêm vào, song đa phần tượng tranh, được tôn thờ vào các ngày cầu siêu như:

• Tượng Bất Động thờ vào ngày cúng sơ thất
• Tượng Thích Ca thờ vào ngày cúng nhị thất
• Tượng Văn Thù thờ vào ngày cúng tam thất
• Tượng Phổ Hiền thờ vào ngày cúng tứ thất
• Tượng Địa Tạng thờ vào ngày cúng ngũ thất
• Tượng Di Lặc thờ vào ngày cúng Lục thất
• Tượng Dược Sư thờ vào ngày cúng chung thất
• Tượng Quan Âm thờ vào ngày cúng bách Nhật
• Tượng Thế Chí thờ vào ngày cúng giáp năm
• Tượng Di Đà thờ vào ngày cúng 3 năm
• Tượng A Súc Phật thờ vào ngày cúng 7 năm
• Tượng Đại Nhật thờ vào ngày cúng 13 năm
• Tượng Hư Không Tạng thờ lễ cúng 33 năm.

Bồ Tát Văn Thù biểu trưng trí tuệ của Phật, hình dáng là một vị Tăng cỡi Sư Tử đang nằm, thờ tại Tăng Đường, như một vị Bổn Tôn.

Bồ Tát Quán Thế Âm biểu tượng cho trí tuệ và từ bi của Phật, mà đặc biệt mọi người ai ai cũng biết đến Ngài, thờ tại liêu chúng xuất gia như một vị Bổn Tôn.

Bồ Tát Hư Không Tạng biểu trưng cho công đức trí tuệ và từ bi của Phật vô cùng rộng lớn và cao cả như hư không, thờ tại liêu của chúng Tăng như một vị Bổn Tôn.

Bồ Tát Phóng Quang chỉ cho Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát hợp thành, mà không phải riêng Bồ Tát nào. Còn Bồ Tát Địa Tạng, có thệ nguyện rộng sâu, có hạnh nguyện quảng đại siêu việt an định đại địa. Trên lầu Sơn Môn của Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, có thờ hai tượng Bồ Tát Quan Âm và Bồ Tát Địa Tạng. Còn tại Phóng Quang Đường ở Tổ Viện, thờ vị Bồ Tát Phóng Quang, là Địa Tạng Bồ Tát. Còn tại Phóng Quang Đường của Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, thờ tôn tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Tại Thường Chiếu Điện, thờ tượng Bồ Tát Quan Thế Âm như vị Bổn Tôn. Vả lại, các tự viện địa phương thuộc Tông Tào Động, thờ Bồ Tát Địa Tạng, bởi vì có nhiều người tin và thường đến đó để lễ bái nguyện cầu.

Bồ Tát Di Lặc, còn gọi là Phật Vị Lai bởi vì Bồ Tát sẽ hạ sanh thành Phật, sau Đức Thích Tôn nhập diệt vào khoảng 56 triệu bảy ngàn vạn năm, nơi thế giới nầy một lần nữa. Tại Phật Điện Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự, thờ bên cạnh Đức Thích Ca Tam Tôn.

Bồ Tát Phổ Hiền, vị Bồ Tát có bổn nguyện biểu trưng cho đức của Phật. Nếu Bồ Tát Văn Thù biểu trưng cho Trí Tuệ, Bồ Tát Phổ Hiền chỉ cho Hạnh Nguyện. Tại Phật Điện chùa Đại Thừa, huyện Ishikawa, thờ bên cạnh Thích Ca Tam Tôn.

Bồ Tát Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý là Thần Hộ Pháp thờ tại chùa A Dục Vương Quảng Lợi Tự, núi Chiêu Bảo Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa cho nên có tên như vậy. Truyền thuyết kể rằng lúc Thiền Sư Đạo Nguyên về lại Nhật sau thời gian du học ở Trung Hoa, có một người tùy tùng theo hộ trì giúp đỡ cho Phật pháp phát triển và bảo hộ thân mạng cho Thiền Sư, cho nên đối diện với bàn thờ Bổn Tôn trên Phật Điện hoặc Bổn Đường, an trí tôn tượng vị Bồ Tát nầy, với y phục của bậc Đế Vương, tay phải đưa lên ngang trán, nhìn lên, mặt hướng vào bên trong, xoay lưng ra bên ngoài.
Bồ Tát Bạt Đà Bà La (Tôn Giả) ngộ đạo khi đi tắm cho nên trở thành Bổn Tôn của phòng tắm.

Bồ Tát Điểu Sô Sa Ma Minh Vương là bậc Minh Vương nguyện diệt trừ dơ nhớp nên trở thành Bổn Tôn của Đông Ty (nhà xí). Còn Bất Động Minh Vương tùy tùng Đại Nhật Như Lai, giải trừ những việc ác. Không phải chỉ riêng vị Minh Vương nào đó có duyên với Tông Tào Động song hầu như tất cả các tự viện thuộc Tông Tào Động đều thờ vị Bất Động Minh Vương.
Vi Đà Thiên vốn là vị Thần trong Thần Thoại Ấn Độ, về sau được Phật Giáo nhập chung vào trở thành vị Thần hộ pháp Già Lam, lo phụng sự, bảo hộ giữ gìn thực phẩm cho chư Tăng. Truyền thuyết kể rằng Ngài mặc áo giáp, đeo kiếm báu trên vai, hai tay chấp lại, rất hảo tướng, hộ trì Phật Pháp, đánh dẹp tà ma chạy về cõi Trời Vi Đà. Thường thường tôn tượng của Ngài an trí tại nhà Kho. Sáng mồng năm mỗi tháng, có hồi hướng kinh văn cho Ngài Vi Đà Thiên nầy trong thời tụng Kinh.

Long Thiên là những vị Long Thiên Hộ Pháp, còn Đại Thiện Thần là những vị Thần bảo hộ Phật pháp. Chư Tăng và những vị Thầy cúng thường viết trên bài vị hai hàng: “Phụng Thỉnh Long Thiên Hộ Pháp Đại Thiện Thần – Bạch Sơn Diệu Lý Đại Quyền Hiện”, rồi để trên sàn nhà trong phòng ở, khi lễ bái đọc Kinh xong thường cầu nguyện mong Phật sự thành tựu viên mãn.
Biện Tài Thiên nói tắt là Biện Thiên, vị Thần trong thần thoại Ấn Độ trong hình thức người nữ, giỏi âm nhạc, giỏi biện thuyết, tài phước, trí tuệ và Phật pháp.

Trà Chỉ Ni Thiên cũng là vị Thần trong thần thoại Ấn Độ, về sau được thờ chung với con cáo trắng và Thần Lúa, gọi là Thần Đạo Hà. Khi Thiền Sư Đạo Nguyên về quê hương vị Thần Đạo Hà của Nhật hiện ra, được truyền tụng chữa được nhiều bệnh hiểm nghèo. Ở chùa Diệu Nghiêm Tự (Myogonji), huyện Aichi, phố Phong Xuyên có thờ và trên toàn nước Nhật ai cũng biết Thần Phong Xuyên Đạo Hà nầy.

Tứ Thiên Vương là những vị Thần từ cõi trời đến để hộ trì Phật Pháp ở khắp bốn phương, vốn cũng là vị Thần trong thần thoại Ấn Độ.

Phương Đông có vị Trì Quốc Thiên.
Phương Nam có vị Tăng Trưởng Thiên.
Phương Tây có vị Quảng Mục Thiên.

Phương Bắc có vị Đa Văn Thiên hay còn gọi là Tỳ Sa Môn Thiên.

Đặc biệt, không có tượng Tứ Thiên Vương để thờ, nhưng khi lễ Vu Lan, trong Trai Đàn Đại Thí Cô Hồn, thấy tên của bốn vị Thiên Vương nầy viết lên trên lá phang treo phía trước.

Đại Hắc Thiên, vị thần hộ trì việc ăn uống và phước đức, cũng là vị Thần theo truyền thống thần thoại của Ấn Độ. Về sau, được thờ chung với Đại Quốc Chủ Thần, một trong 7 vị thần ban phước và gọi là Phước Thần. Tại Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, thờ vị Đại Hắc Thiên nầy trong Khố Viện.

Tam Bảo Đại Hoang Thần còn gọi là ông Táo, là vị Thần hộ trì Phật pháp, trừ khử việc bất tịnh. Tại chùa Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, vị thần nầy được thờ trong Tổ Viện với Đại Nhật Như Lai, A Di Đà Như Lai, được xem như là hóa thân quyền hiện của Bồ Tát Văn Thù giải trừ bảy nạn và chứng minh gia hộ cho người cầu phước thọ linh nghiệm.

Nhân Vương là vị Thần đứng ngoài cổng Sơn Môn, bên trái là Mật Tích Kim Cang và bên phải là Na La Diên Kim Cang. Mật Tích Kim Cang biểu trưng lý Đức, với hình dáng khuôn miệng của người nữ mở ra (A). Na La Diên Kim Cang biểu trưng trí của Đức với hình dáng khuôn miệng của người nam ngậm lại (Hồng).

Thập Lục Thiên Thần phát xuất từ Kinh Bát Nhã, nguyên do khi Đức Phật Thích Ca giảng Kinh Bát Nhã, có 16 vị Thần hiện ra phát tâm bảo hộ và giữ gìn Kinh Bát Nhã. Tết đến có lễ hội cầu nguyện Bát Nhã, tranh tượng được treo lên và Kinh Bát Nhã được thọ trì. Trong bức tranh đó, Đức Thích Tôn an vị tại chính giữa, hai bên là Bồ Tát Thường Đề và Bồ Tát Pháp Dũng, chung quanh có 16 vị Thiện Thần vây quanh thủ hộ. Khi dịch Kinh Bát Nhã, Pháp Sư Huyền Trang Tam Tạng cho họa và treo thêm hình của Thâm Diệu Đại Tướng nữa.

Thập Bát Thiện Thần: Ngoài 16 vị Thiện Thần, còn có hai vị Phạm Thiên và Đế Thích Thiên, những vị Thần giữ gìn Già Lam và hộ trì Phật Pháp.

Thổ Địa Thần, không nhất thiết là thần giữ gìn đất đai và vườn tược của chùa, song có thể nghĩ là một trong những Chư Thiên Thiện Thần.

Già Lam Thần không nhất thiết là thần bảo hộ những kiến trúc chùa. Như trước đã nói, Có 19 Thiên Thần, sau có Hỏa Đức Thánh Quân đều là một trong những vị Thần Già Lam và là một trong Chư Thiện Thần.

Táo Công Chơn Tể là Thần hộ trì bếp núc chủ yếu là nồi niêu.

Trấn Thủy Thổ Địa Thần cũng giống với Già Lam Thần là Thần giữ gìn hộ trì Già Lam của chùa, như Bạch Sơn Thần Xã bảo hộ Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự. Ở những Tự Đường khác, thờ Ái Đãng Đại Quyền Hiện (Thắng Quân Địa Tạng Tôn); Dũng Tuyền Đạo Hà; Thiên Chiếu Đại Thần Cung; Kim Tỳ La Xã là những Sơn Thần v.v... Tại Tổ Viện Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự thờ Ốc Đại Vương Quyền Hiện Xã v.v...

Thập Lục La Hán là 16 vị A La Hán, hộ trì Phật pháp, thường được thờ trên lầu của gác chuông, hoặc trong Chánh Điện, hoặc thờ riêng trong La Hán Đường. Thông thường, tượng làm bằng gỗ hoặc tranh họa. Có nhiều hình tượng La Hán như 4 vị, 18 vị hay 500 vị, A La Hán được nhiều người sùng bái, cho nên có nhiều chùa thờ các vị A La Hán và tổ chức Lễ Hội La Hán nữa.

Hỏa Đức Thánh Quân, theo truyền thuyết cổ của Trung Hoa, là sự hiển linh của Thần Nông, người đầu tiên chế thuốc có quyến thuộc là những vị Hỏa Bộ Thánh Chúng. Trên điện Phật thường treo những tranh nầy, gọi là vị Thần trừ hỏa tai.

Giám Trai Sứ Giả, còn gọi là vị sứ giả của nhà Trù, Thần giữ gìn và chăm lo việc ăn uống của chư Tăng, thường được thờ trong Khố Viện.

Kiều Trần Như Tôn Giả, gọi tắt là Trần Như Tôn Giả là một trong năm người đệ tử đầu tiên của Phật được nghe Pháp và chứng ngộ, được xưng tán là Đệ Nhứt Ngộ Đạo Phạm Hạnh, cho nên thờ Ngài là một trong những vị Thánh Tăng trong Tăng Đường. (như thờ trong Thiền Đường chùa Đoan Long, huyện Fujisan). Như trong quyển danh sách chư Tăng đệ tử Phật kiết hạ an cư theo thứ tự hạ lạp, tên của Ngài Trần Như Tôn Giả ghi đầu sổ.
Tân Đầu Lô Tôn Giả là một vị trong 16 vị La Hán, đầu bạc mi dài, có nhiều thần thông, thường được thờ trong Tăng Đường hoặc Thực Đường, hoặc thường được thờ ngay cửa vào Chánh Điện, nhiều người tin rằng xoa vuốt tượng nầy sẽ không bệnh hoạn.

Truyền Đại Sĩ người đời nhà Lương (496 – 569) sanh tại tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa, Họ Truyền, tên Hấp là một Phật Tử thuần tín Tam Bảo, lãnh hội rốt ráo những giáo huấn của Tổ Đạt Ma Đại Sư. Ngài cũng còn được xem là hóa thân của Bồ Tát Di Lặc, xây dựng tàng Kinh các, vì thế tôn tượng của Truyền Đại Sĩ thường được thờ trong tàng Kinh các.

Đạo Liễu Đại Quyền Hiện, còn gọi là Đạo Liễu Đại Tát Đỏa, khai sơn Chùa Tối Thừa, huyện Kanagawa, phố Chisada, mà Thiền Sư Liễu Am Huệ Minh đứng hầu. Chùa Ngài có phong cách kiến trúc đặc biệt, phải nói rằng, toát lên một sức mạnh phi thường. Sau khi Thiền Sư viên tịch đã hóa thành Thiên Cẩu, biến vào không trung. Có nhiều người tin và cầu nguyện Ngài gia hộ cho nên ở Nhật ai cũng biết Chùa Tối Thừa và gọi Ngài rất thân thiện là Ông Đạo Liễu.

Tam Xích Phường Quyền Hiện xuất thân ở huyện Nagano, thâm tín Bồ Tát Quan Thế Âm xuất gia năm lên 7, trở thành một trong 12 tu sĩ của Tam Xích Phường, khai sơn Chùa Thu Diệp, huyện Sizuoka vào năm Đại Đồng thứ 4 (809), chứng đắc thần thông cho nên sau khi viên tịch được thờ tại Tạng Vương Đường, huyện Nigata. Năm Minh Trị thứ 6 (1873) Chùa Thu Diệp bị phế bỏ và dời về Thùy Tế (Suisai), huyện Sizuoka. Hầu hết các chùa thuộc Tông Tào Động đều thờ Tam Xích Phường Quyền Hiện, được gọi là Đại Ngư Thần để trừ hỏa tai.

Bạch Sơn Diệu Lý Đại Quyền Hiện, Thần hộ trì cho Phật Pháp Tăng, mà Bạch Sơn vốn là tên của một trong ba danh sơn Nhật Bản, nằm trên 3 huyện Fukui, Ishikawa và Kỳ Phụ. Thời kỳ Nara, Đại Sư Thái Đăng khai sơn thờ Đức Quan Thế Âm 11 mặt. Trước và sau khi Thiền Sư Đạo Nguyên Thiền Sư sang Trung Hoa du học đã từng lưu tại đây được Bạch Sơn Diệu Lý Quyền Hiện hộ trì công việc soạn thảo “Bích Nham Lục”.

Thất Phước Thần tiêu trừ 7 nạn là vị Thần ban cho 7 loại phước đó là: Thần Huệ Tỉ Tu, Đại Hắc Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên, Biện Tài Thiên, Phước Lộc Thọ, Thọ Lão Thiên, Bố Đại Tôn. Các chùa thuộc Tông Tào Động thờ Thất Phước Thần, được biết như: Chùa Tùy Nguyên, Chùa Long Giác, Chùa Đổng Quang, huyện Simahane, nơi đó gọi là Xuất Vân Quốc Thất Phước Thần Linh Trường, được nhiều người từ nơi khác liên tục đến hành hương chiêm bái.
Ngoài ra, tại Điện Phật, Khai Sơn Đường hay Bổn Đường còn thờ tôn tượng Đạt Ma Đại Sư, Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa, Đại Sư Động Sơn, Tổ của Tông Tào Động Trung Hoa, Thiền Sư Như Tịnh, bổn sư của Thiền Sư Đạo Nguyên, Lưỡng Tổ Đại Sư, Khai Sơn Thiền Sư, Lịch Đại Trụ Chức, Khai Sơn (tất cả đều được thờ ở Khai Sơn Đường) v.v... đôi khi còn phải thích nghi hoàn cảnh đặc biệt của Chùa đó, thờ chư Phật, chư vị Bồ Tát và chư Thiên Thiện Thần v.v....

III.3.3 Pháp Cụ

Pháp cụ còn gọi là Phật cụ là những đồ dùng trong Đạo, mà chư Tăng thường dùng trong khi hành lễ hoặc cử hành nghi lễ trong nhiều phương diện khác nhau, song có mục đích và ý nghĩa phụng sự đạo pháp. Xin được lần lượt giới thiệu như sau:

Tu Di Đàn là Án thờ với hình thức như một đài mang tên ngọn núi Tu Di, Ấn Độ, được thiết kế ngay giữa Bổn Đường hay Phật Điện, trên đó an trí tượng Phật rất trang nghiêm.

Đồ trải là những tấm vải trải trên Tu Di Đàn.

Tiền Ngột là cái án thờ đặt phía trước Đàn Tu Di, kê cao gần sát Đài, trên đó có lò hương đặt chính giữa, hai bên là bình hoa và có một cặp nến, được gọi là ngũ cụ túc. Ngoài ra trước án còn treo những tấm lụa ở ba phương, mà cả ba phương đó đều có lò hương để vị chủ lễ cắm hương vào.

Đả Phu là miếng vải trải lên trên ghế phía trước.

Bái Phu là chỗ ngồi ở chính giữa dành cho vị Chủ Lễ lễ bái.

Tọa Nhục là cái đệm ngồi, trên ấy có để sẵn tràng hạt và cây phất trần dài màu tím để vị sám chủ sử dụng trước khi lễ bái và ngồi xuống.

Lễ Bàn là bục bước lên án cao khi lễ bái.

Dẫn Thủy là hành lang thoáng mát nối từ Bổn Đường đến Đại Điện.

Mộc Ngư là cái mõ chạm hình rồng hoặc cá bằng gỗ tròn, để báo hiệu giờ tụng kinh trên Phật Điện hay Bổn Đường bằng nhiều hồi.

Khánh Tử là cái chuông để gần mõ, hình tròn làm bằng kim loại, cũng có khi treo trên giá gần chỗ ngồi, dùng để báo hiệu bắt đầu tụng kinh hay kết thúc một câu kinh. Chuông lớn gọi là Đại Khánh Tử, còn Tiểu Khánh dùng như ra lệnh tiếng mõ khi đọc kinh. Cũng có khánh cầm tay để hướng dẫn chúng. Tất cả khánh, chuông đều có chung công dụng báo hiệu nhịp uyển chuyển trong chúng khi tụng kinh, cũng dùng để đi cúng đám cầu siêu ở ngoài mộ hoặc ở nhà thí chủ.

Kiến Đài là bàn dành riêng cho vị Trụ Trì hay Bổn Sư xem sách, xướng lễ, giảng Kinh v.v... Thông thường những kinh sách, giảng dạy cần thiết và những sớ cầu an, cầu siêu, phục nguyện hồi hướng v.v... của những thời thuyết pháp, giảng dạy hay tụng kinh sáng trưa tối đều để ở đây. Án không cao cũng không thấp cho nên dù ngồi hay đứng đều đọc được.

Thiên Cái là lọng lớn che treo trên tượng Phật ở Pháp Đường hay Bổn Đường thường làm bằng gỗ mạ vàng để trang nghiêm Phật, gọi là Phật Thiên Cái. Nếu treo tại Pháp Đường, trên chỗ ngồi của Chư Tăng gọi là Nhơn Thiên Cái. Ngoài ra, còn có lọng nhỏ dùng để che khi cung thỉnh chư Tôn Đức hay vị Trụ Trì quang lâm Chùa hoặc đi đám tang.

Điện Chung là quả chuông treo cố định tại nơi nào đó trong Bổn Đường hay Phật Điện để báo hiệu cho đại chúng biết lúc hành lễ hoặc nhóm họp. Khi Đạo Sư đăng đàn, thường gõ lên bảy hồi chung.

Phạm Chung cũng gọi là Đại Hồng Chung treo trong lầu chuông, gần như chùa nào cũng có. Phạm nghĩa là Thanh Tịnh.

Cổ Bạt là Trống và Phèng La. Trống dùng để báo giờ khắc, điểm giờ bắt đầu những pháp sự như báo hiệu giờ uống trà chẳng hạn. Trống là một pháp cụ dùng trong nhiều pháp sự khác nhau, còn Phèng La thường làm bằng đồng có dáng hình tròn sử dụng trong phạm vi nghi lễ cùng với trống nhỏ, lúc đi đám tang hay khi chẩn tế ngạ quỷ.

Bảng (Mộc Bảng) là bảng gỗ treo trước Tăng Đường hay Phương Trượng Đường dùng để báo hiệu bắt đầu tọa thiền hay thuyết giảng.

Vân Bảng là khánh đồng, trên đó có hình mây cuộn, thường cột treo tại nhà kho hay Lầu Chuông Trống, để báo hiệu giờ thọ trai.

Hoán Chung là chuông nhỏ mà Thiền Sư hay thị giả của Thiền Sư dùng để báo gọi từng thiền sinh vào phòng tham vấn, khi tham một mình.

Bang Ngư Cổ là cái mõ gỗ chắc, cứng dài có hình đầu rồng thân cá, treo ngoài chỗ trống trước Tăng Đường, để thông báo thọ trai. Ngày xưa chữ Bang có nghĩa là mõ Mộc Ngư (Mõ bằng gỗ).

Điển Lục là ghế kiểu Trung Hoa, chỗ ngồi nghĩ của Đạo Sư, khi thay đổi nghi lễ.

Cao Tọa là cái đài bằng gỗ có dựa và chỗ gác tay ở hai bên, dùng để ngồi thiền, thuyết pháp hay cử hành những nghi lễ khác.

Trà Dương Khí là những chén trà nhỏ bằng gỗ, để châm trà hay nước cúng dâng cúng Phật. Thỉnh thoảng cũng dùng tiếp khách quý.

Tửu Thủy Khí là chén đồng, mạ vàng, dùng đựng nước sái tịnh để Đạo Sư chú nguyện và tẩy tịnh trong những lễ: Thọ Giới, Chẩn Tế, Hằng Thuận v.v...
Tam Phương là khay bằng gỗ sơn màu dùng dâng đồ cúng Phật như hương hoặc những vật khác. Khay nầy cũng dùng vào việc tiếp nhận đồ cúng của khách thập phương viếng Chùa.

Phất Tử là cái phất trần có đuôi làm bằng lông thật là dài và mịn, dùng trong các đàn tràng lớn.

Như Ý như bàn tay bằng gỗ sơn son, cũng có loại bằng trúc, kim loại, bằng xương v.v... chiều dài thường là 30 cm đến 50 cm, vị Đạo Sư dùng trong nhiều nghi lễ. (chú thích của dịch giả. Việt Nam gọi là cái hốt, các vị Đạo Sư thường cầm trên tay khi không cầm phất tử).

Hốt là pháp khí bằng gỗ sơn son, hay bằng trúc, cũng có khi bằng xương giống như ngón trỏ, vị Đạo Sư hay Sư Cụ cầm trên tay khi tham thiền hay chỉ đạo những Phật sự quan trọng khác.

Trụ Trượng là cây gậy bằng gỗ, trúc, kim loại, xương v.v... dùng trong lúc quang lâm, khi nhận trách nhiệm trụ trì, khi đi hành cước, lúc thuyết pháp hoặc giáo giới cho giới tử. Trên đó, thường khắc những lời Kinh hay lời dạy của Tổ Sư.

Số Chu là tràng hạt 108 hạt, bằng gỗ hoặc nhựa, hình tròn, cứng hoặc mềm, dùng để niệm Phật, hoặc đeo trên cổ hoặc cầm trên tay, khi lễ bái, tụng Kinh, đốt nhang. Thiền Sư Đạo Nguyên dạy mang tràng hạt mà lễ lạy người khác là không nên, vì thế tu sĩ Tông Tào Động ít khi sử dụng đến hoặc tránh không lễ người khác lúc mang tràng hạt.

Xích còn gọi là thủ xích hay giới xích làm bằng gỗ dùng trong những đàn tràng thọ giới, tang lễ hoặc thọ trai, khi Đạo Sư sai bảo chư Tăng hay chỉ thị công việc lúc đọc Kinh. Khi vỗ thủ xích xuống mặt bàn vang lên âm thanh mạnh mẽ nên gọi là giới xích (răn bảo, dạy khuyên).

Tích Trượng là một loại gậy, bên trên đầu trượng bọc kim loại, để khi dộng xuống đất những vòng tròn của khoen kêu leng keng dùng để xua đuổi côn trùng, đề phòng việc sát sanh khi hành cước hoặc để báo cho tín chủ biết khi đi khất thực.

Trung Khải là cái quạt sơn son hai mặt.

Thủ Cân là dây nịt thường cột trong tay, ngày nay đeo ở ngón tay, thật ra đeo nơi lưng.

Ngũ Kiết Linh là chuông (linh) kim loại dùng vào lúc đi khất thực, lúc cầu nguyện.

Chấn Linh là chuông báo thức cho chư Tăng và những người đang hành trì, thường để ở trong Tăng Đường hay chỗ thờ Thánh Tăng.

Cảnh Sách là một thước bảng bằng gỗ cứng mỏng, dài một mét, phần trong hình trụ tròn đường kính khoảng bốn centimet để cầm tay, phần ngoài dát mỏng bề ngang cũng khoảng bốn centimet. Nếu bằng nửa loại nầy gọi là Đoản Sách.

Kinh Ngột là cái giá để Kinh có bốn chân, cũng gọi là Kinh Trác (kệ để Kinh).
Ứng Lượng Khí bình bát dùng cơm của chư Tăng. Có năm lớp lớn nhỏ bằng thiếc hoặc bằng gỗ sơn son chồng lên nhau bằng thiếc.

Cà Sa Văn Khố là cái đảy đựng hành lý như Cà Sa và quyển Kinh, thường đeo trên cổ thòng xuống đến ngực khi đi hành cước, còn bình thường để đầu giường.

Tọa Bồ là bồ đoàn để dùng khi ngồi Thiền, đường kính chừng 34 cm, cao chừng 10 cm hình tròn, bên trong nhồi bông cho cứng.

Toại Châm là cái chày có cán treo hình bát giác lớn chừng 1 xích (33,33 cm), cao chừng 3 đến 4 xích (~ 99,99 cm), đường kính chừng 5 đến 6 thốn (~ 16,65 cm), đặt trong Tăng Đường gần tượng của Thánh Tăng dùng để gọi lúc ăn cơm hay lúc cần liên lạc.

Bi là tấm bảng thông báo dựng hoặc treo trước Phương Trượng Đường, Tăng Đường hay hành lang.

Bảng là tấm bảng hình thức giống như tấm Bi nhưng dùng dán những thông báo nhân sự và những việc làm trong ngày hoặc ngày mai như phân công lo việc ẩm thực.

Ngạch là bức hoành dùng để treo những bức tranh họa, sách, giấy, bảng v.v... trên đầu cửa vào hoặc cửa phòng.

Liễn là câu đối treo nơi cửa hoặc chỗ ra vào, thường một cặp liễn nhỏ dài có viết chữ khắc tranh treo dọc theo cột của hai bên trái phải, trên đó ghi, chạm khắc công phu văn thơ rất đối nhau về ý nghĩa cũng như văn tự, mà gần như chùa nào cũng có, thường treo chung với Hoành Phi.

III.2 Thất Đường Già Lam

III.2.1 Sự Thay Đổi Kiến Trúc Của Tự Viện

Già Lam, nguyên ngữ bằng tiếng Sanscrit cổ, Ấn Độ là Shangarama, còn gọi là Tinh Xá, Chùa, Tự Viện. Kiến trúc Tự Viện Nhật Bản ảnh hưởng trực tiếp từ bán đảo Triều Tiên, gián tiếp từ Trung Hoa. Từ thời Bình An (Heian), mỹ thuật kiến trúc Nhật Bản mô phỏng theo hai dạng mỹ thuật kiến trúc Triều Tiên có từ thời Phi Điểu, và mỹ thuật Trung Hoa từ thời nhà Đường. Đến thời Kamakura, lối kiến trúc đó bị loại bỏ đi thay bằng lối kiến trúc thời Tống (Trung Hoa) hòa với lối kiến trúc thời Thất Đinh. Đến thời Đào Sơn mỹ thuật kiến trúc trở nên đẹp vô cùng, tạo nên phong cách mỹ thuật đặc biệt của thời đại nầy. Còn thời đại Giang Hộ (Edo), lại theo phong cách đơn giản, hiện đại và độc lập, theo lối phong cách Âu Châu.

Kiến trúc Chùa, đặc biệt vào thời Kamakura thể hiện trọn vẹn phong cách Thiền ảnh hưởng mô thức Trung Hoa thời Đường, còn gọi là phong cách Thiền Tông, có nhiều điểm giống Lâm Tế Tông, Hoàng Bích Tông, Tào Động Tông, hẳn nhiên cũng không thiếu nhiều điểm khác biệt đặc thù.

III.2.2 Già Lam Của Tào Động Tông Là Nơi Chính Để Tu Hành

Thiền Sư Đạo Nguyên phối hợp những phiên bản Tự Viện Trung Quốc và Ấn Độ, suy nghĩ kiến tạo đạo tràng trang nghiêm của Tông Tào Động. Chùa Vĩnh Bình kiến tạo mô phỏng theo Chùa Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức ở tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa (bây giờ gọi là Thiên Đồng Tự). Tông Tào Động vẫn sử dụng từ “Thất Đường Già Lam“ có lẽ từ thời Giang Hộ (Edo), không có căn cứ nào chỉ cho nguyên thỉ của chữ nầy. Song cũng có thuyết cho rằng Tông Tào Động gọi là Thất Đường Già Lam cho những ngôi Chùa đầy đủ 7 gian như: Sơn Môn, Phật Điện, Pháp Đường, Khố Viện, Tăng Đường, Dục Thất và Đông Ty. Ngoài ra, Chùa còn có tháp 3 tầng, tháp 5 tầng hay Đa Bảo Tháp, Xá Lợi Tháp v.v... những tháp nầy không gồm chung trong Thất Đường Già Lam. Chùa Thiền hay đặc biệt là Chùa của Tào Động Tông không có Tháp, nếu có, tháp được xây sau hoặc là xây với lý do nào đó, còn Chùa thuộc Tông Pháp Tướng và Tông Chơn Ngôn có xây tháp.

Hình thức Thất Đường Già Lam của Tông Tào Động theo thứ tự từ bên ngoài đi vào là: Sơn Môn, Phật Điện, Pháp Đường, bên mặt là Khố Viện, trước có Dục Thất (phòng tắm rửa), bên trái là Tăng Đường, trước có Đông Ty (nhà vệ sinh). Tất cả đều có hành lang bao bọc xung quanh trở thành một hình vuông vức. Ngoài Thất Đường còn có những tòa nhà liên quan được xây dựng thêm. Càng về sau, ở những ngôi chùa nhỏ Thất Đường đơn giản chỉ còn Bổn Đường (Chánh Điện), Khố Lý (nhà kho), Khai Sơn Đường (Chỗ Thờ Tổ), Vị Bia Đường (nơi thờ vong). Cũng có nhiều hình thức biến dạng khác như thêm lầu chuông hay cổng tam quan, song chỉ là những trường hợp riêng biệt mà thôi. Nói chung các chùa đều giống nhau như thế, bởi trước nhất phải hợp với khả năng cho nên phải đơn giản, sẽ giải thích rõ về Thất Đường Già Lam dưới đây.

III.2.3 Sơ Lược Về Thất Đường Già Lam

Sơn Môn vừa chỉ cho cổng chính vào Chùa, vừa chỉ cho thế giới thanh tịnh, không có phiền não khổ đau. Cổng chùa thường có ba cửa, cửa lớn ở chính giữa, hai cửa nhỏ ở hai bên, còn gọi là Cổng Tam Quan, cũng gọi là Tam Môn. Ngoài ra, còn có những tên khác là: Quán Mộc Môn, Dược Y Môn, Anh Môn, Nhị Trọng Môn v.v... Tông Tào Động thường dùng Anh Môn và Nhị Trọng Môn. Ở phần hai bên trước cổng, thường an trí các vị Nhơn Vương. Trên Anh Môn (lầu) thường đặt tượng Phật, Bồ Tát hay các vị La Hán. Trên cao, treo một Phạn Chung (Đại Hồng Chung). Nếu chùa lớn, ngoài Sơn Môn còn có Tổng Môn (chỉ có một cửa ra vào), Tam Tùy Quan, Đống Môn, Dược Y Môn và Sắc Sứ Môn còn gọi là Hương Đường Môn.

Điện Phật còn gọi là Đại Hùng Phong Điện, Đại Hùng Điện, Đại Điện v.v... tọa lạc ngay chính giữa, trong đó có Tu Di Đàn thờ Đức Bổn Tôn Thích Ca Mâu Ni ngay trung tâm, hai bên trái phải của Phật, mỗi bên an trí một tượng Bồ Tát. Đa phần, thờ Đức Phật Thích Ca ở giữa (vị khai Tổ của Phật Giáo). Tôn Giả Ca Diếp trưởng tử Phật, Sơ Tổ Thiền Tông. Tôn Giả A Nan đệ tử thị giả của Đức Phật Thích Ca, vị Tổ Sư thứ hai, thị giả hầu Phật được nghe nhiều lời giảng nhất. Ngoài ra, còn thờ Tam Tôn Phật: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (biểu hiện Đức Phật trong hiện tại), Đức A Di Đà Như Lai (biểu hiện Đức Phật trong quá khứ). Đức Di Lặc Như Lai (biểu hiện Đức Phật trong tương lai). Tam Tôn Phật cũng còn được hiểu là: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ Tát Văn Thù (biểu trưng cho trí tuệ Phật) và Bồ Tát Phổ Hiền (biểu trưng hạnh nguyện Phật). Phía đông của Phật Điện (từ ngoài nhìn vào phía bên mặt) thờ Đàn Thổ Địa hay thờ Bồ Tát Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý. Phía Tây (phía trái từ ngoài nhìn vào) là Tổ Sư Đàn, thờ Sơ Tổ Đạt Ma. Thông thường bàn thờ làm bằng gạch hay đá, có chỗ để bày dâng lễ cúng. Đặc biệt, phần nghi lễ được tổ chức tại Phật Điện.

Pháp Đường là nơi vị Trụ Trì thuyết Pháp cho Tăng sĩ đang tu tập. Khi thuyết Pháp vị Trụ Trì được cung kính như đại diện chư Phật, chư vị Tổ Sư có trách nhiệm truyền trao giáo Pháp cho thính chúng, cho nên trong Pháp Đường không thiết tượng Phật nào cả. Tại Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự, có đặt tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biểu trưng tâm từ bi bao la của Phật, một lý do khác, như đã trình bày ở trước, ở Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự, Tổ Đường chính là Pháp Đường, nơi đó là Đại Tổ Đường được xem là một Đạo Tràng thuyết pháp của Tổ khai sơn Thiền Sư Oánh Sơn. Giữa Tổ Đường là Pháp Đường cũng còn có ý nghĩa là tôn trọng giữ gìn lời giáo huấn của Tổ. Tại Đại Tổ Đường nầy, đàn trên cao ở chính giữa, thờ tượng Tổ khai sơn Thiền Sư Oánh Sơn, hai bên trái phải thờ Thiền Sư Đạo Nguyên, Cao Tổ và thờ Thiền Sư Nga Sơn Chiêu Thạc, vị Tổ thứ hai của Tổng Trì Tự. Ngoài ra, các tượng của chư vị Tổ Sư cũng được thờ tại đây. Tại Pháp Đường thường có những thời Kinh sáng, trưa, tối và hầu như tất cả nghi lễ quan trọng đều cử hành tại đây.

Khố Viện hay Khố Lý thờ tượng Vi Đà Thiên và tượng Đại Hắc Thiên còn gọi là Đài Hương Tích, vừa là nơi chứa thực phẩm cho chư Tăng thường trụ và khách Tăng, vừa là nơi thâu nhận thực phẩm cúng dường, cũng là chỗ xay thóc.

Dục Thất, nhà tắm, có thờ tượng Tôn Giả Bạt Đà Bà La. Trong Chùa, Tăng Đường, Đông Ty và Dục Thất là ba nơi cần phải giữ thật trang nghiêm yên tĩnh, tuyệt đối cấm không được cười đùa, nói chuyện riêng tư, không được tạo ra âm thanh ồn ào. Ngay cả, tắm rửa kỳ cọ thân thể cho thanh tịnh cũng quan trọng như những việc tu hành khác.

Tăng Đường có nơi gọi là Vân Đường, cũng còn gọi là Tuyển Phật Trường, mà những chữ nầy được treo ngay ở chính giữa. Thông thường người ta còn gọi nơi nầy là Tọa Thiền Đường nhưng Tông Tào Động không gọi là Tọa Thiền Đường vì gọi như thế nghĩa là phân biệt chỗ hành thiền khác với nơi ăn uống. Tăng Đường là nơi mà chư Thánh Tăng và chư Bồ Tát thường lui tới, vốn gọi là Thánh Tăng Đường. Trong Thất Đường Già Lam của Tông Tào Động cũng có những nơi quan trọng biểu trưng hiện hữu của Thần Thánh, cũng có thể gọi là nhiệm mầu thiêng liêng, mà tuyệt đối không ai, cả người trong Chùa lẫn người ở ngoài tự ý vào được.

Đồng thời, Tăng Đường chia làm hai phần, bên ngoài là nơi dùng cơm, uống nước của chư Tăng, bên trong còn gọi là Nội Đường hay Đường Nội thờ chư vị Thánh Tăng như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Quan Thế Âm, cũng có Chùa thờ Tôn Giả Kiều Trần Như, trên cái Trang ngay chính giữa. Bên dưới thiết kế những chỗ ngồi thiền, gọi là Trường Liên Sàng, là những cái đơn cao chừng một mét, rộng chừng một chiếc chiếu (Tatami), để ngồi Thiền mặt hướng vào tường hoặc cửa sổ.

Còn có những cái Đơn khác gọi là Hàm Quỹ, mặt bằng độ chừng 30 cm làm bằng gỗ, bên trong Hàm Quỹ (cái rương) đựng y áo và bình bát, phía dưới trải ra làm chỗ nghỉ, còn gọi là Tịnh Duyên, bởi vì chỗ nầy, vật nầy cũng dùng để làm nơi ăn uống. Tịnh Duyên có ý là ăn uống trong sạch thanh tịnh. Ngay cả ở bên ngoài cũng có kê những chiếc Đơn như thế.

Bên ngoài còn có những giá treo chuông gọi là Tăng Đường Chuông, Ngoại Đường Chuông và có cả Pháp Cổ (trống) cũng như những pháp cụ khác để báo hiệu khi cần thiết. Những việc như đọc sách, viết lách, cạo tóc, khâu vá v.v.., đều thực hiện trong liêu chúng. Mô hình liêu chúng là giữa liêu đặt tượng Bồ Tát Quan Thế Âm, hoặc tượng Hư Không Tạng Bồ Tát, chỉ có Hàm Quỹ (cái rương) và Tịnh Duyên (chỗ ăn) và liêu chúng gần Tăng Đường.
Đông Ty là Tiện Sở (cầu xí) cũng còn gọi là Tây Tịnh, nhưng chữ nầy bây giờ không còn dùng đến nữa, ở nơi nầy thường để tượng Điểu Sô Sa Ma Minh Vương.

III.2.4 Trường Hợp Những Tự Viện Thông Thường

Tóm lại, các vấn đề xây dựng như thế nào, ai xây, xây ở đâu, khi nào của các chùa thuộc Tông Tào Động lệ thuộc vào vấn đề xã hội địa phương và nguyện vọng của mọi người nữa. Thật ra, mỗi chùa có mỗi điều kiện, mỗi tính cách và mỗi mục đích khác nhau, không thể phán đoán chung chung được, tuy nhiên, có thể phân loại ra như sau:

Thứ nhất, Tu Hành Tự là tự viện như một đạo tràng dùng để tu tập và tọa thiền. Những tự viện nầy vốn có liên hệ với Tông Tào Động từ xưa, như Lưỡng Đại Bổn Sơn, mà dù cho chùa ấy có gì đặc biệt đi chăng nữa, thì vấn đề căn bản vẫn là chỗ để tu hành theo Tông Tào Động

Thứ hai, Bồ Đề Tự là tự viện để lễ bái và phụng thờ Ngài Hoằng Pháp Đại Sư, Ngài Quan Thế Âm, Thất Phước Thần, Linh Trường, thường thấy nơi các chùa thuộc Tông Pháp Tướng, Tông Hoa Nghiêm, Tông Thiên Thai, Tông Chơn Ngôn v.v... về sau dù đã đổi sang Tông Tào Động nhưng vẫn còn giữ tôn phong cũ.

Thứ ba, Kỳ Thọ Tự là chùa thờ Đức Quan Âm, Ngài Dược Sư, Ngài Địa Tạng, Ngài Bất Động, các vị Tổ Sư, Thần Lúa, Thiên Cẩu v.v... vì nhu cầu của mọi người đến tự viện lễ bái cầu nguyện.

Thứ tư, Quán Quan Tự là chùa lịch sử danh lam thắng cảnh, gần gũi mọi người và cảnh trí đẹp, được nhiều người tới lui vãn cảnh.

Tuy nhiên, trừ Lưỡng Đại Bổn Sơn và những tự viện lớn, còn các chùa thuộc Tông Tào Động về hình thức căn bản là những Già Lam theo mô hình: Sơn Môn, Bổn Đường, Khai Sơn Đường, Vị Bi Đường, Khố Lý, Chung Lầu, Tọa Thiền Đường v.v... mà chúng ta lần luợt tiếp xúc với những phần nầy.

Sơn Môn thờ tượng Nhân Vương, trên lầu cao thờ tượng Phật, Bồ Tát, nhưng cũng có nơi không có, bởi vì những chùa nhỏ nhiều khi không có Sơn Môn (cửa ra vào) nữa, đôi khi chỉ khắc tên chùa trên phiến đá thay cho cổng tam quan.

Bổn Đường cũng còn gọi là Phật Điện hay Pháp Đường, bên trong thờ Bổn Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hoặc thờ Tam Tôn, song chính giữa vẫn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng, tùy theo sự thành lập của tự viện, có những đặc thù riêng, không phải hoàn toàn giống nhau, có chùa thờ Đức A Di Đà Như Lai, Đại Nhật Như Lai, Dược Sư Như Lai v.v... có chùa thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Bất Động Minh Vương, Biện Tài Thiên và cũng còn nhiều tượng khác nữa. Tựu trung vẫn là hình tượng chư Phật và chư Bồ Tát mà ở đây có thể rõ thêm rằng đó là đặc trưng Phật tánh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rộng lớn bao la như thế.

Trên bốn bức tường chung quanh Bổn Tôn trong Chánh Điện thường có 18 vị A La Hán. Hai bên tả hữu của Bổn Tôn thường thờ tượng Chiêu Bảo Thất Lang Đại Quyền Tu Lý Bồ Tát và tượng Đạt Ma Đại Sư. Sau Chánh Điện ngăn ra hai bên phải trái thờ linh vị của Tín Đồ Phật Tử.

Tại Bổn Đường (Chánh Điện) sáng, trưa, tối đều có tụng Kinh, nơi đây thường cử hành những nghi lễ cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, lễ hằng thuận v.v...

Khai Sơn Đường tiếp giáp sau Bổn Đường, ở giữa thờ Ngài Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư hay Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư. Ngoài hai vị Tổ Sư, còn thờ tượng bằng gỗ của vị Hòa Thượng khai sơn chùa ấy nữa. Hai bên phải trái thờ tượng của các vị Trụ Trì, linh vị của những người sáng lập chùa, nơi đây cũng thờ linh vị Tín Đồ nữa, miễn sao ở giữa có nơi làm lễ là được. Phía trước còn bàn kinh, có gối để lạy, có chuông mõ hai bên.

Vị Bi Đường là nơi linh vị Tín Đồ. Thông thường có thể thờ ở phía sau Chánh Điện hay Khai Sơn Đường, nhưng tùy địa phương Vị Bi Đường được xây riêng một nơi biệt lập bên ngoài Bổn Đường hay Khai Sơn Đường. Ở giữa, thờ tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Mỗi gia đình có mỗi bàn thờ nhỏ và tự quản lý, cúng dường và tự mỗi gia đình đến chùa chăm sóc lấy.

Khố Lý được xây dựng ở bên phải Chánh Điện và mặt hướng về Chánh Điện. Nơi đây gồm có hành lang, phòng tiếp lễ vật, phòng khách, phòng ở của vị Trụ Trì, phòng ở của gia đình Trụ Trì, phòng sinh hoạt, phòng chuẩn bị, phòng ăn, phòng tắm, nhà vệ sinh v.v... Tùy theo chùa, Khố Lý lớn hay nhỏ, có chùa Khố Lý còn lớn hơn Chánh Điện nữa.

Tọa Thiền Đường được xây dựng phía bên trái hướng về Chánh Điện, đối diện tương xứng với khố lý. Cũng tùy điều kiện đất đai, đôi khi được thiết lập ngay tầng dưới của Khai Sơn Đường, những chùa không có Tọa Thiền Đường, có thể dùng Chánh Điện hay Khai Sơn Đường thay thế.

Lầu Chuông được thiết kế ở một góc vườn. Mỗi sáng tối thỉnh chuông nhứt định vào một thời điểm nào đó. Chùa nào không có lầu chuông, thường treo chuông bên ngoài cửa hay bên trong Chánh Điện.

Ngoài ra, trong vườn còn xây những nơi như: Đại Sư Đường, Trấn Thủ Đường, Đạo Hà Đường (nơi thờ Thần Lúa), Thần Xã, Sáng Khố v.v...

III.2.5 Công Việc Của Các Vị Tăng

Già Lam không phải chỉ thờ Phật, mà với người sống, nơi đây là những Đạo Tràng tu hành để thành Thánh, thành Phật. Già Lam của các chùa tu Thiền, như đề cập ở trên, được tổ chức theo thể thức sinh hoạt cộng đồng với mục đích tu hành. Riêng Thiền Tông, đặc biệt Tào Động Tông, có sự phối trí khác biệt. Chư Tăng ở chùa tu hành, tất cả nhất định phải phân công công việc để làm, không ai không làm việc, những công việc từ thời Lưỡng Tổ Đại Sư cho đến bây giờ vẫn thế. Được gọi là người tu, việc đầu tiên ở chùa, phải có khả năng làm việc hiệu quả. Không những chỉ riêng người tu ở chùa Tu Hành Tự, mà cho tất cả những tự viện lấy chùa Tu Hành Tự làm căn bản. Chư Tăng trong chùa phải làm việc được giải thích như sau:

Trụ Chức nghĩa là viết tắc của Chức Trụ Trì, người có trách nhiệm lớn lao đối với chùa. Với tư cách là “Tôn Giáo Pháp Nhơn” đại biểu cho chùa đó. Nếu chùa lớn, cũng còn xưng là Sơn Chủ thay cho Trụ Trì, đôi khi thay đổi gọi là Đường Đầu Hòa Thượng, mà thông thường gọi là Phương Trượng, Đường Đầu hoặc Hòa Thượng. Có nơi gọi vị Trụ Trì là Ojutsusan và Hòa Thượng là Ossan.

Quản Thủ là Chức Vụ của hai đại Bổn Sơn, cũng còn gọi là Quản Thủ Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự và Quản Thủ Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự. Ở hai Đại Bổn Sơn còn có vị Phó Quản Thủ, vị thứ hai sau Quản Thủ nữa.

Tây Đường là nơi ở của những vị Cao Đức do vị Trụ Trì cung thỉnh đến để chỉ đạo các Phật sự, bình thường vị Tăng nầy đứng sau vị Trụ Chức.

Giám Viện nghĩa là người thay thế vị Trụ Trì, làm Tổng Quản quán sát tất cả những công việc và mọi vấn đề hành chánh của chùa. Trước đây, vị nầy đứng đầu trong bảng Lục Hòa, mà có nơi gọi là Giám Tự. Ngoài ra còn có Phó Giám Viện thay thế việc điều hành mỗi khi vị Giám Viện vắng mặt .

Hậu Đường là chỗ hành trì của vị Tăng trực tiếp chỉ đạo.

Đơn Đầu là ngôi vị thứ hai của vị Tăng ở Hậu Đường đang hành trì và trực tiếp chỉ đạo.

Phó Tự là vị Tăng lo việc chi tiêu của chùa, lo trọn một trong 6 phép hòa kính.

Tri Khố là vị Tăng lo quản lý thức ăn, tiền bạc và giúp đỡ cho vị phó Trụ Trì.

Duy Na là người giúp đỡ cho vị Hậu Đường và Đơn Đầu, chỉ đạo và hướng dẫn chư Tăng tu hành, quản lý Tăng Đường, tụng khai Kinh và hồi hướng mỗi thời tụng Kinh, giữ vững kỷ cương một trong 6 phép hòa kính, tuy nhiên, có chùa xem đây là việc của vị Giám Tự.

Duyệt Chúng là vị giúp đỡ cho Duy Na, phần vụ thủ mõ.

Đường Hành cũng là nhiệm vụ của Duy Na và Duyệt Chúng, phải gõ khánh, tụng khai Kinh và hồi hướng trong mỗi thời công phu tụng Kinh.

Điển Tọa là vị Tăng lo việc ăn uống vâng giữ một trong 6 phép lục hòa.

Phó Điển còn gọi là Phạn Đầu, vị Tăng hổ trợ giúp việc cho Điển Tọa.

Trực Tế là vị Tăng chuyên lo việc chấp tác, trùng tu sửa chữa Già Lam, chữa đường sá, cũng là người vâng giữ một trong 6 phép lục hòa.

Tri Khách là vị Tăng lo việc tiếp đón khách.

Thị Chơn là vị Tăng chăm sóc chỗ thờ Tổ Khai Sơn.

Cúng Chơn là vị Tăng giúp đỡ Thị Chơn, cũng gọi là Truyền Cúng.
Tri Điện là vị Tăng quản lý Phật Điện và Pháp Đường. Người phụ tá gọi là Diện Hạnh.

Thượng Sự là vị Tăng lo việc thư ký, bảo quản văn thơ giấy tờ.

Tri Dục cũng còn gọi là Dục Chủ, vị Tăng quản lý nhà tắm.

Thị Cục Trưởng là vị Tăng thân cận, chăm lo và giúp đỡ vị Trụ Trì. Ở hai Đại Bổn Sơn những vị nầy hổ trợ vị Quản Thủ.

Thị Giả là vị Tăng thân cận hầu hạ vị Trụ Trì và Chư Tôn Đức đến thăm chùa. Có 5 loại Thị Giả chánh thức như:

Thiêu Hương Thị Giả, là người có trách nhiệm lo việc hương đăng và dâng hương cho vị Trụ Trì, mỗi khi có lễ.

Thư Trạng Thị Giả là vị lo vấn đề thư từ cho vị Trụ Trì.
Thỉnh Khách Thị Giả là vị Tăng lo ứng đối tiếp đãi khách của vị Trụ Trì.

Y Bát Thị Giả là vị Tăng lo Pháp Y cho vị Trụ Trì.

Thang Dược Thị Giả là vị Tăng lo thức ăn và thuốc men cho vị Trụ Trì.

Thông thường chỉ hai hay ba vị kiêm nhiệm luôn.

Thị Thánh nghĩa là Thị Giả của chư Thánh Tăng thờ tại Tăng Đường (như Ngài Văn Thù Bồ Tát), lo việc cúng dường nước hoặc trà nóng lên Bồ Tát.
Giảng Sư nghĩa là vị Thầy thường giảng nghĩa và thuyết pháp cho Chư Tăng và Tín Đồ.

Tạng Chủ tức là vị quản lý tạng Kinh và điện thờ có nhiều bảo vật.

Tịnh Đầu là vị Tăng quản lý Đông Ty (nhà xí).

Tấu Giả là vị Tăng có trách nhiệm thông tin cho khách hoặc những liêu xá, khi có những việc cần thiết.

Thủ Tọa là địa vị cao nhất của chư Tăng, còn gọi là Thượng Tọa.

Thư Ký nguyên là chức vụ Thị Giả Thư Trạng, phụ trách những công việc phụ giúp vị Thủ Tọa liêu, thường ngồi ở vị trí thứ hai sau Thượng Tọa.

Biện Sự là vị Tăng còn trẻ luôn ở bên vị Thư Ký, Thủ Tọa, nơi liêu Thủ Tọa.

Hành Giả là vị Tăng còn đang tu học, gần gũi thân cận, làm các công việc.
Ngoài ra, ở Điện Đường, Điện Ty, Đường Ty, Phật Điện, Pháp Đường khi có lễ, vị thỉnh chuông gọi là Chung Ty, vị lo công việc trong Tăng Đường gọi là Trực Đường, vị lo việc dọn dẹp gọi là Thanh Tảo Đương Phiên v.v... nhiều lắm không thể ghi chi tiết ra đây hết. Vả lại, còn có khá nhiều công việc như xuất bản, bố giáo, và nhiều việc không cần có chức vụ ở Lưỡng Bổn Sơn nữa, song tùy theo tính chất quy mô hay đơn giản của chùa, tùy theo địa phương, tùy theo xã hội mà công việc có thể tùy nghi sửa đổi thêm hay bớt.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn