Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

26-Thế nào là Phật pháp?

28/01/201109:41(Xem: 9242)
26-Thế nào là Phật pháp?

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT

HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Thếnào là Phật pháp?

Phậtpháp là những điều đức Phật chứng kiến được sau khigiác ngộ, đem chỗ chứng kiến ấy nói lại để cho mọingười hiểu biết để dứt sạch mê lầm và giác ngộ nhưNgài. Chính từ chỗ chứng kiến của Ngài nói ra, không phảido suy tư phỏng đoán như nhiều triết thuyết khác. Vì thế,Phật pháp là những chân lý, tùy trình độ của người, Phậtnói có sai biệt: Chân lý phổ biến, Chân lý tương đối,Chân lý tuyệt đối.

Chânlýphổ biến Chân lý phổ biến là những sự thật hiệnhữu tràn đầy trên vạn vật. Những sự thật ấy đức Phậtchỉ ra, chúng ta chịu khó khảo sát một cách tinh tế sẽthấy hiển nhiên không sai lệch. Trước hết nhìn theo dòngthời gian, Phật nói:

I.Nhân quả:

Tấtcả sự vật có hình tướng, có tác động đều hình thànhbằng nhân quả. Nhân quả trùm khắp cả mọi sự vật, khôngmột sự vật nào có thể thoát ngoài nhân quả được. Songtrong nhân đến quả có chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân,nghịch nhân nên trở thành vấn đề phức tạp. Lại có nhữngtrường hợp vì nhân quá nhỏ nhiệm, nhân xa xôi khiến ngườita không thể thấy, không thể nhớ mà biến thành khó hiểu.Chúng ta thử nhìn từ lãnh vực thực vật, động vật... đểminh chứng lý nhân quả.

1.Về thực vật. Không một thứ cây loại cỏ nào mà chẳngtừ nhân thành quả. Hoặc có thứ nhân của nó là hạt, cóthứ nhân nó là lá, có thứ nhân nó là ngọn, có thứ nhânnó là rễ, là thân. Từ cái nhân ấy nẩy mầm sanh trưởngthành cây, đơm hoa, kết quả. Không có loài thực vật nàongẫu nhiên không nhân thành quả.

Vídụ, hạt cam là nhân, lên thành cây cam có trái cam là quả.Hạt ớt là nhân, lên thành cây ớt có trái ớt là quả...Có nhân ắt phải có quả. Song trong ấy còn tùy thuộc thuậnnhân hay nghịch nhân, mà thành quả hay bất thành quả. Nhưcó hạt cam là chánh nhân, có phân, đất, nước, ánh nắng...là trợ nhân, được săn sóc vun quén là thuận nhân, hạtcam ấy sẽ nẩy mầm sanh trưởng thành cây cam và có tráicam không sai. Ngược lại, có hạt cam mà thiếu phân đấtnước ánh nắng... thì không thể nẩy mầm sanh cây cam, huốnglà có trái cam. Hoặc có hạt cam, có phân đất nước ánhnắng... mà thiếu người săn sóc vun quén thì có thể có câycam mà khó mong có quả cam. Hoặc có hạt cam, có phân đấtnước ánh nắng... có người vun quén, song bị sâu trùng ăngốc, đục trong thân cây - nghịch nhân - thì cây cam ấy sẽbị hoại. Hoặc có trường hợp dường như không nhân màthành quả. Như chúng ta dọn sạch một thửa đất để trồngtrọt. Thửa đất ấy, chúng ta cuốc không còn một gốc cỏ,lượm sạch không sót một cọng cỏ, ta tự cho là đất thậtsạch. Thế mà, qua một vài trận mưa, chúng ta thấy từ lòngđất cỏ vọt lên lấm tấm đều hết. Cỏ này từ đâu đến?Phải chăng đất sanh cỏ? Thật không phải thế, bởi nhữnghạt cỏ li ti đã nằm sẵn trong lòng đất mà mắt chúng takhông thể thấy. Gặp mưa, chúng nẩy mầm lên cây là lý đươngnhiên. Ðây là vì nhân nhỏ nhiệm chúng ta không thấy, nêncó những nhận xét sai lầm.

Lạicó trường hợp khác, một hôm tăng chúng trong chùa chúng tôira thăm vườn, bẻ được hai trái mãng cầu xiêm, từ hai câymãng cầu cách nhau độ bốn thước tây. Khi xẻ ra ăn, cảchúng đều ngạc nhiên, trố mắt nhìn nhau, đặt câu hỏi:Tại sao cùng một loại, chung một thửa đất, mà trái nàyngọt, trái kia chua? Mỗi người đều có giả thuyết khácnhau, riêng tôi chỉ cười thôi. Cuối cùng, tôi giải thíchcho họ nghe: Sở dĩ hai cây cùng một loại, chung một thửađất mà mùi vị khác nhau, do trước kia tôi lấy hạt củahai trái mãng cầu chua và ngọt ương trồng, nên kết quảnhư thế. Ðó là vì nhân xa xôi khiến người ta không thểbiết, nên sanh nghi ngờ. Bởi những lý do trên, nhân quả trởthành tế nhị phức tạp, nếu người nhận xét nông nổiđơn thuần thì khó thấu triệt được.

2.Về động vật. Tất cả loài động vật hình thành cũng từnhân đến quả. Có loài động vật nhân là trứng, có loàiđộng vật nhân từ bào thai, có loài động vật nhân từloài khác hóa ra. Không có loài động vật nào tự nhiên màcó, song có cũng tùy thuộc chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân,nghịch nhân, sự sanh trưởng của nó được hoàn hảo haysuy kém, hoặc hoại diệt chẳng hạn.

Ðâylà nói nhân quả trên vạn vật có hình tướng. Chúng ta cóthể khẳng định rằng "tất cả loài sanh vật trên quả địacầu và cả quả địa cầu này đều nằm gọn trong lòng nhânquả".

3.Về tác động. Chẳng những nhân quả trùm khắp mọi loàimọi vật có hình tướng, mà nhân quả cũng bao gồm mọi tạotác mọi hành động của mọi loài. Ở đây chúng ta chú mụcvào loài người để thấy rõ nhân quả.

Nhữngtác động về thân miệng của chúng ta có tánh cách lợi người,đem lại nguồn an vui cho người, là tác động lành. Nó sẽmang lại cho ta sự an vui ngay hiện tại, hoặc sau này, gọilà quả lành. Những tác động có tánh cách thương tổn khiếnngười đau khổ, gọi là nhân dữ. Nó sẽ chuốc lấy sựđau khổ trở về ta ngay hiện tại, hoặc mai kia, gọi là quảdữ.

Vídụ, chúng ta ra tay cứu giúp người hoạn nạn nguy khốn, quacơn hoạn nạn họ vui vẻ cám ơn ta. Chính khi thấy họ anổn, lòng chúng ta cũng vui lâng lâng. Mặc dù chúng ta khôngmong gì hơn nữa, song người thọ ơn bao giờ cũng nghĩ đếnđền đáp, nếu gặp cơ hội tốt, họ sẽ đền ơn ta. Ngượclại, chúng ta làm thương tổn khiến người đau khổ, họsẽ bực tức oán hờn phản kháng ta. Chính khi ấy lòng chúngta cũng bị bất an. Nếu mai kia họ gặp dịp thuận tiện sẽtrả thù, khiến chúng ta bị khổ đau hơn, họ mới vừa lòng.Ðó là nhân lành gặt quả lành, nhân dữ chịu quả dữ.

Nhưngcũng có những trường hợp dường như ngoại lệ, mà thậtkhông phải. Như chúng ta đã gieo nhân lành hoặc dữ, mà suốtđời không gặt được kết quả; vì nhân chưa chín muồimà báo thân chúng ta đã hoại, nhân ấy sẽ còn tiếp tụctheo thời gian chớ không mất. Hoặc có khi chúng ta không gâynhân lại chịu quả. Vì nhân xa xôi còn lưu lại, chúng takhông nhớ.

Tácđộng của ý còn thầm lặng bên trong chưa phát lộ ra, songnó rất nguy hiểm. Vì thân miệng đều do nó chủ động saikhiến. Nó dấy nhân lành thì thân miệng theo đó tạo nhânlành, nó dấy nhân dữ thì thân miệng theo đó tạo nhân dữ.Cho nên, người hiểu lẽ nhân quả đối với tác đ?ng củaý, phải dè dặt tối đa. Tác động của ý có nhân quả cũngy hệt thân miệng.

Tuynhiên, nhân quả, không phải đơn giản như nhiều người đãhiểu "gây nhân lành được quả lành, tạo nhân dữ bị quảdữ". Vẫn có những trường hợp dường như trái lại. Bởivì nhân quả là một dòng biến động theo thời gian. Thờigian có quá khứ, hiện tại, vị lai thì nhân quả không thểchặn một quãng mà đoán định được. Chúng ta muốn hiểuthấu đáo nhân quả phải căn cứ vào ba thời mà khảo sát.Nắm chắc lý nhân quả, chúng ta sẽ có sức tự tín mãnhliệt, vì không còn lệ thuộc vào sức thiêng liêng bên ngoài.Chúng ta tự nhận là chủ nhân ông toàn cả cuộc đời củamình.

Nhânquả là dòng biến động sanh diệt tiếp nối, nên nó là hiệnthân của Vô thường. Vì vô thường nên mãi lăn lộn trongvòng sanh diệt, cũng là thành quả của luân hồi. Chủ thuyếtnhân quả không phải cố định cứng khằng, mà linh độngthăng giáng, tùy theo sự đủ thiếu các nhân của nó. Ngườihọc Phật nhận chắc lý nhân quả, là đã có căn bản vữngvàng trên đường tiến tu. Ðồng thời cũng gạt phắt nhữngthuyết mê tín vu vơ như: đồng bóng, bói xăm, tướng số,may rủi... Vì biết rõ mọi tác động đẹp xấu của chúngta, sẽ cải tạo xây dựng một cuộc đời vui khổ trong hiệntại và vị lai. Còn băn khoăn trông đợi, thắc mắc điềugì mà phải đi coi bói tướng số? Thế là, chúng ta can đảmnhận chịu mọi trách nhiệm hay dở do mình gây nên, khôngcòn oán hờn kêu than chi cả. Cũng phá tan những bệnh chấp:định mạng, nhất nhân, vô nhân. Vì biết rõ vạn vật trênthế gian không có cái gì cố định, duy nhất, ngẫu nhiên,mà đều do nhân quả hình thành.

II.Duyên sanh:

Nhìnvề mặt không gian, vạn vật đều do các duyên chung hợp thànhhình. Cho nên nói "các pháp từ duyên sanh". Duyên là chỉ chonhiều phần tử tổ hợp thành một vật thể. Vật thể khôngtự có, phải do nhiều nguyên tố hay nhiều phần tử chunghợp. Nói tới duyên sanh là không chấp nhận sự đơn thuần,mà khẳng định là hợp thể. Vạn vật có hình tướng trênquả địa cầu và kể luôn quả địa cầu đều do các duyênchung hợp thành hình. Cho đến những thứ không có hình tướng,chỉ có tác động, cũng thuộc duyên sanh.

Trướckhảo sát những vật có hình tướng gần chúng ta nhất. Nhưcái bàn viết hiện đây của ta, trước nó không tự có, phảicó gỗ, có đinh, có bào, có đục, có cưa... và có ông thợmộc, do sự cưa xẻ bào đục kết ráp của ông, sau mới thànhcái bàn. Những nguyên liệu dụng cụ và ông thợ mộc, đềulà duyên chung hợp thành cái bàn. Nếu có người hỏi: cáibàn này do vật gì làm ra, chúng ta đáp: do ông thợ mộc, hoặcdo gỗ... Ðó là lối đáp đơn thuần, không đúng toàn thểcủa cái bàn. Nếu chấp lối đáp ấy đúng, thì mắc phảibệnh thiên kiến.

Ðếnnhư cái nhà chúng ta hiện ở hoặc nhà lá hay nhà gạch, trướcnó cũng không tự có. Nếu là nhà lá, phải có cột kèo đòntay cây lá rồi, sau chúng ta mới ráp lại thành cái nhà. Nếulà nhà gạch, phải có gạch xi măng cát vôi ngói gỗ và thợhồ, mới xây thành cái nhà. Khi thành hình cái nhà, gọi làduyên hợp; khi cái nhà hư hoại đi, gọi là duyên tan. Chỉdo duyên hợp duyên tan, thật thể cái nhà vốn không thậtcó.

Khảosát như thế qua mọi sự vật, chúng ta không thấy có mộtsự vật nào không phải duyên hợp mà thành. Dù vật nhỏbé như cây kim ngọn cỏ, vật to lớn như núi biển quả địacầu, đều nằm chung trong một thông lệ ấy.

Chođến những thứ không có hình tướng, chỉ thấy tác động,cũng do duyên hợp mà có. Như điện, gió, chúng ta không thấyhình tướng nó, chỉ biết khi tác động dấy khởi. Về điệnthì có điện âm điện dương, phối hợp mới phát khởi hiệntượng. Về gió phải có khí nặng khí nhẹ... mới có hoạtđộng.

Nơicon người, tư tưởng dấy khởi cũng phải có sáu cơ quanlàm chỗ tựa và đối diện với trần cảnh bên ngoài. Nếuba phần - tư tưởng, cơ quan, trần cảnh mà thiếu một thì,không sao dấy khởi được. Thế nên mọi tác động có ra,đều do duyên hợp mà có.

Nóiduyên sanh là nhằm vào hợp thể, choán một khoảng không gian.Ðã là hợp thể thì không có tự thể và thật thể. Tựthể đã không thì, tên đặt cho sự vật cũng rỗng. Ví nhưtên "cái nhà", chúng ta phân tích từng viên gạch, từng miếngngói v.v... ra, tìm xem cái gì là "cái nhà"? Chỉ khi hợp thểthành hình, tạm đặt cho nó một cái tên. Cái tên ấy chỉcó giá trị tạm thời, từ khi hợp thể thành hình, bởi trướcvà sau nó vốn không có. Chính ngay khi thành hình, chúng ta phântích từng đơn vị một, tìm tự thể cái tên chung ấy, vẫnkhông có. Nên nói: "các pháp duyên sanh tự thể là không".Trước không, sau không, giữa cũng chẳng thật, nên sự cómặt của các hợp thể là hư giả huyễn hoá. Do đó, nóiđến lý duyên sanh thì, xem vạn vật đều như huyễn như hoá.

Thôngsuốt lý duyên sanh, chúng ta thoát khỏi hai chứng bệnh: thiênkiến và mê lầm. Nhất là bệnh mê lầm, quả là bệnh trầmkha khó chữa trị. Vạn vật do hợp thể mà có, hư giả khôngthật, lại mê lầm chấp là thật. Vì chấp thật nên theođó có yêu ghét và sanh tham sân. Ðó là nguyên nhân mãi lăntrong vòng luân hồi sanh diệt. Biết rõ duyên sanh hợp thểhư giả là, dứt mê lầm chuyển thành trí tuệ. Ðây là cửangõ của lâu đài giác ngộ.

Trongphần "Chân lý phổ biến", lý nhân quả và duyên sanh là haisự thật, tràn đầy trên vạn vật và mọi tác động củachúng sanh. Sự thật ấy, quá khứ hiện tại vị lai đềukhông thay đổi. Song nó tinh vi khó hiểu, người chịu khónghiền ngẫm phân tích kỹ càng mới nhận ra được. Hai sựthật này nhằm vào hai chiều của vũ trụ, nhân quả chạysuốt chiều dọc thời gian, nhân duyên xuyên tột chiều ngangkhông gian. Do đó, gọi là "Chân lý phổ biến".

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/01/2015(Xem: 5372)
Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội bồ đề, thời gian đầu Ngài chần chờ không muốn truyền bá giáo pháp. Đến khi chư Thiên xuống đảnh lễ, cầu xin Ngài nên vì chúng sanh mà lập bày phương tiện giáo hóa. Lúc trước đọc sử tới đoạn này tôi hơi ngạc nhiên. Vì Đức Phật phát thệ nguyện lớn, thị hiện nơi đời để độ chúng sanh, sao bây giờ thành Phật rồi, Ngài không chịu đi truyền bá Chánh pháp, đợi năn nỉ mới chịu thuyết pháp.
15/01/2015(Xem: 12958)
Con xin thành kính đảnh lễ và tri ân: -Đức Đạt Lai Lạt Ma,và Hòa Thượng Lhakor cùng Thư Viện Tây Tạng đã hoan hỷ cho phép con được chuyển dịch nguyên tác “The Way to Freedom” từ Anh Ngữ sang Việt Ngữ.
05/01/2015(Xem: 18918)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
22/11/2014(Xem: 28108)
Có người khách mang đến cho tôi một gói quà. Bên trong là hai quyển sách: Đất nước Cực lạc, Ánh sáng và bóng tối. Tác giả: Liên Hoa Bảo Tịnh. Khoảng thời gian sau này, tôi có rất ít điều kiện để đọc thêm được những sách mới, nên không ngạc nhiên nhiều lắm với tác giả lạ. Dẫu sao, trong tình cảnh ấy mà được đọc những sách lạ, nhất là được gởi từ phương trời xa lạ, thì cũng thật là thú vị. Rồi càng đọc càng thú vị. Một phần vì có những kiến giải bất ngờ của tác giả, về những điểm giáo lý mà mình rất quen thuộc. Quen thuộc từ khi còn là một tiểu sa-di. Nhưng phần khác, thú vị hơn, khi biết rằng Liên Hoa Bảo Tịnh cũng là Đức Hạnh – đó là chú XUÂN KÝ, một thời ở Già-lam cùng với chú Sỹ.
20/10/2014(Xem: 33024)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ và những khai triển của Trung Hoa. Người Ấn vốn có thái độ coi thường lịch sử; “bởi vì chư thiên yêu thương cái gì tăm tối”*, họ đẩy tất cả những gì xảy ra lui vào bóng tối mịt mù của thần thoại. Riêng Phật tử Ấn cổ thời, với lý tưởng cứu cánh là Niết Bàn, mọi biến cố lịch sử cũng không bận tâm cho lắm. Ngược lại, người Trung Hoa có thái độ lịch sử một cách xác thiết.
18/08/2014(Xem: 58365)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
16/06/2014(Xem: 15849)
Tam quy và Ngũ giới là nền tảng xây dựng đạo đức nhân bản vững chắc trong tiến trình tu tập tiến đến Phật quả của người Phật tử. Bất cứ ai muốn trở thành một người Phật tử chơn chánh, điều kiện trước tiên là phải quy y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm. Đây là cánh cửa khai thông đầu tiên để người Phật tử bước chân vào đạo Phật. Muốn thực tập con đường "Hiểu" và "Thương" cho có hiệu quả thiết thực, thiết nghĩ, ngoài con đường "Tam quy và Ngũ giới" ra, hẳn là không có con đường nào khác để chúng ta chọn lựa. Có hiểu và thương thì chúng ta mới có thể tiến đến xây dựng hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội. Là con người không ai lại không muốn đời mình luôn được an vui và hạnh phúc. Không ai muốn đời mình phải chịu nhiều đắng cay hệ lụy đau khổ bao giờ. Sự chọn lựa một lối đi cho thích hợp với đời sống tâm linh của mình thật hết sức quan trọng.
21/01/2014(Xem: 22182)
Đọc bản dịch Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của anh Lý Việt Dũng, tôi không khỏi thán phục khi biết sức khỏe anh rất kém mà vẫn phấn đấu kiên trì để hoàn thành dịch phẩm khó khăn này một cách đầy đủ chứ không lược dịch như ý định ban đầu.
21/12/2013(Xem: 7076)
Đây là danh từ Phật học nên không thể tìm thấy trong những từ điển thông thường thuộc các ngành khoa học tự nhiên hay cũng không thể tìm thấy trong các từ điển thuộc về khoa học xã hội, Kinh tế , văn học, triết học, tôn giáo học… Trong tự điển tiếng Việt của Viện Khoa Học Xã Hội và Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam vẫn không tìm thấy từ nầy.
20/12/2013(Xem: 36402)
THIỀN, được định nghĩa, là sự tập-trung Tâm, chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ về một vấn đề nào khác. Tôi chia THIỀN làm hai loại, Thiền giác ngộ (Meditation for Enlightenment) và Thiền sức khỏe (Meditation for Health). Tập sách nầy chỉ bàn về Thiền sức khỏe mà thôi.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]