13-Nghiệp báo

28/01/201109:41(Xem: 11172)
13-Nghiệp báo

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Nghiệpbáo

I.-MỞÐỀ

Mọiviệckhổ vui trong kiếp hiện tại của chúng ta đều do nghiệpquá khứ và hiện tại chi phối. Nghiệp lành thì được vui,nghiệp ác thì chịu khổ, chúng ta chỉ biết sợ khổ, cầuvui mà không biết tránh nghiệp ác, tạo nghiệp lành. Thếchẳng khác nào kẻ sợ bóng mà cứ đứng ngoài trời nắng,muốn nghe nhạc mà bịt lỗ tai. Một khi nghiệp quả đến,chúng ta dù muốn dù không, tất nhiên cũng phải chịu. Bởinó là kết quả do hành động của chính mình đã tạo. Mìnhlàm, rồi mình chịu, đó là lẽ công bằng hợp lý của kiếpngười.

II.-ÐỊNH NGHĨA

Nghiệpbáo nói đủ là nghiệp quả báo ứng. Bởi vì nghiệp nhânchúng ta đã gây thì nghiệp quả phải đến. Sự báo đápthù ứng cân xứng nhau giữa nghiệp nhân và nghiệp quả. Trướctiên chúng ta cần biết chữ nghiệp.

a)Nghiệp: là dịch nghĩa chữ Karma tiếng Phạn, chỉ hành độngtạo tác theo thói quen của mỗi người. Nghiệp có nghiệpthiện, nghiệp ác, định nghiệp, bất định nghiệp... Nghiệpthiện là hành động lành đem lại sự an lạc cho chúng sanh.Nghiệp ác là hành động dữ làm đau khổ chúng sanh. Ðịnhnghiệp là hành động hoặc lành hoặc dữ có cộng tác vớiý thức tạo thành nghiệp quyết định. Bất định nghiệplà hành động hoặc lành hoặc dữ không cộng tác với ýthức nên thành nghiệp không quyết định.

b)Báo: là đền trả một cách công bằng, không sai chạy, khôngtiêu mất. Chúng ta có hành động lành hay dữ, kết quả củahành động ấy sẽ đến, hoặc sớm hay muộn thôi. Thí dụchúng ta mắng chửi người là hành động dữ, người ấysẽ mắng chửi lại ngay khi đó, hoặc thời gian khác, khótránh khỏi. Sự thù đáp cân xứng gọi là báo. Báo có chiaba thứ: hiện báo, sanh báo và hậu báo. Hiện báo là quảbáo hiện tại, những hành động lành hay dữ ngay trong đờinày chịu quả báo. Sanh báo là quả báo đời sau, hành độngtốt xấu của ba nghiệp, đến đời sau mới chịu quả báo.Hậu báo là về sau lâu xa mới chịu quả báo. Ví như vàođầu mùa mưa, chúng ta đồng thời gieo trồng hạt đậu phộng,trồng cây chuối, trồng cây mít. Ðến ba tháng sau, chúng tađược kết quả có đậu phộng. Sang năm, chúng ta mới kếtquả có chuối. Song ba bốn năm sau, chúng ta mới được kếtquả có mít. Như thế, hành động đồng thời mà kết quảsai biệt, tùy loại khác nhau. Nếu chúng ta đòi hỏi ba thứphải kết quả đồng thời là ngu xuẩn.

III.-TỪ ÐÂU TẠO THÀNH NGHIỆP?

Nghiệptừ thân, miệng, ý chúng ta tạo nên. Bởi thân miệng ý chúngta làm lành, nói lành, nghĩ lành nên tạo thành nghiệp lành.Thân miệng ý chúng ta làm dữ, nói dữ, nghĩ dữ tạo thànhnghiệp dữ. Thế nên, chúng ta chủ nhân tạo nghiệp cũng chínhchúng ta là chủ nhân thọ báo. Ngang đây chúng ta hãnh diệnđã thoát khỏi mọi quyền lực thiêng liêng ban họa xuốngphước. Chúng ta cũng hiên ngang thọ nhận tất cả quả khổvui, mà không có một lời oán hờn than trách. Chúng ta khônngoan biết chọn lựa nghiệp nhân nào mình thích mà làm, khôngcòn mù quáng làm càn bướng. Ðây là sự trưởng thành, khirõ nghiệp từ đâu có.

IV.-TỪ ÐÂU CÓ BÁO ỨNG?

Sựbáo ứng cũng chính nơi mình hiện ra. Mỗi khi chúng ta tạonghiệp lành hay dữ, mắt chúng ta thấy cảnh ấy, tai chúngta nghe tiếng ấy, hạt giống lành dữ ấy đã rơi vào tàngthức chúng ta. Kẻ đối tượng bị chúng ta làm khổ vui cũngthế, do mắt thấy, tai nghe nên hạt giống biết ơn hay thùhằn đã rơi vào tàng thức của họ. Khi nào đó, cả hai gặplại nhau thì hạt giống ân oán ấy trỗi dậy, khiến hai bêntạo thêm một lần nghiệp lành dữ nữa. Cứ thế tạo mãikhiến nghiệp càng ngày càng dầy, ân oán càng ngày càng lớn.Như khi chúng ta gặp một người đang mắc phải cảnh khốnđốn cơ hàn, hình ảnh buồn thảm khổ đau của họ hiệnbày đầy đủ. Chúng ta trong tay có đủ phương tiện, liềngiúp họ qua cơn khốn đốn, lúc đó trên gương mặt khổđau đã ngả sang gương mặt vui tươi, sáng sủa. Chứùng kiếnhiện tượng ấy, hạt giống vui tươi đã rơi vào tàng thứcchúng ta. Nếu mỗi ngày chúng ta đều gieo vào tàng thức nhữnghạt giống vui tươi, đến khi thân này sắp hoại, chúng takhông còn đủ nghị lực làm chủ, những hình ảnh vui tươiấy sẽ hiện đến với chúng ta, mời chúng ta đến cảnhvui tươi. Ngược lại, mỗi ngày chúng ta cứ gieo rắc khổđau cho người, những hạt giống khổ đau chứa đầy trongtàng thức chúng ta, đến khi hơi tàn, lực tận những hìnhảnh đó sống dậy, đuổi bắt đánh đập chúng ta, khiếnchúng ta phải chạy chui vào cảnh khổ. Ðó là nghiệp báokhổ vui của mai kia. Nghiệp báo không phải từ đâu đến,mà chính từ tàng thức chúng ta hiện ra. Người xưa thầnthánh hoá khả năng chứa đựng của tàng thức bằng ông thầnđộ mạng. Bảo rằng ông thường theo dõi chúng ta, và ghichép hết mọi hành động thiện ác của chúng ta, để báocáo với Thiên đình hay Diêm chúa. Hoặc cụ thể hóa tàngthức chứa đựng bằng Ðài gương nghiệp cảnh. Bảo rằngchúng ta làm lành hay dữ, sau khi chết đến chỗ Diêm vương,ở trước sân triều có cái gương lớn, người làm lành làmdữ dẫn đến trước gương đều hiện rõ ràng đầy đủ,không thể chối cãi được.

V.-NGHIỆPBÁO KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

Sựgóp nhặt gieo vào tàng thức là một lẽ thật, không phảiviệc huyễn hoặc, do không tưởng bịa ra. Ðây thử cử mộtthí dụ, khi chúng ta muốn học thuộc lòng một bài thơ. Chúngta đọc một lần, hai lần, cho đến nhiều lần tự thấynó thuộc. Cái thuộc ấy là do đâu, chẳng qua mỗi lần chúngta đọc, hạt giống ấy rơi vào tàng thức, đọc nhiều lần,hạt giống ấy càng trưởng thành mạnh mẽ, đây gọi làthuộc. Thuộc xong chúng ta không đọc nữa, thỉnh thoảng trongtàng thức nó trỗi dậy, mỗi lần trỗi dậy, chúng ta ônlại đôi ba phen, thế là thuộc lại càng thuộc. Từ miệngchúng ta đọc, hạt giống thơ rơi vào tàng thức gọi hiệnhạnh huân chủng tử. Từ tàng thức thơ trỗi dậy, gọi làchủng tử khởi hiện hạnh. Chúng ta ôn lại đôi ba lần,gọi là hiện hạnh huân chủng tử. Thế là sự huân khởikhông thể nghĩ bàn. Nếu cả đời chúng ta huân chủng tửnào nhiều nhất, đời sau sanh ra hạt giống ấy sống dậysớm nhất. Bởi thế mới có các vị thần đồng, xuất hiện,như Mạc Ðĩnh Chi ở Việt Nam mười hai tuổi đã thông suốtthi pháp, Bạch Cư Dị ở Trung Hoa chín tuổi đã làm thơ, Pascalở Pháp mười hai tuổi đã thông Kỷ hà học..., cho đếncùng học một lớp mà mỗi đứa bé đều có khả năng riêng.

Khitrong kho tàng thức còn chứa chủng tử thì sự huân khởikhông thể nghĩ bàn. Vì thế nó có sức mạnh lôi kéo chúngta đi thọ sanh trong lục đạo không có ngày dừng. Thế nên,nói đến nghiệp báo là nói đến sự luân hồi sanh tử.

VI.-LÀM SAO HẾT NGHIỆP?

Nghiệpđã do chúng ta gây tạo biến chủng tử huân vào tàng thức.Muốn hết nghiệp cũng do chúng ta khéo loại hết những chủngtử nghiệp ở trong tàng thức ra. Khi kho tàng thức sạch chủngtử thì sức mạnh lôi vào sanh tử không còn. Khi chủng tửcòn trong kho ấy, gọi là tàng thức, là nhân sanh tử. Khi chủngtử trong kho ấy sạch hết, gọi là không Như Lai tàng, làkho Như Lai trống, tức là dứt mầm sanh tử. Vì thế muốnhết nghiệp sanh tử, chúng ta phải ứng dụng những phươngpháp tu để tiêu diệt các hiện hạnh từ chủng tử dấykhởi. Ví như khi chúng ta học thuộc lòng một bài thơ, songmỗi lần nhớ lại, chúng ta đều bỏ qua, thời gian lâu bàithơ ấy sẽ quên bẵng. Những chủng tử khác cũng thế, mỗikhi khởi hiện hạnh, chúng ta đều thông qua chẳng cho hìnhảnh sống lại, lâu ngày tự nhiên nó mất. Phương pháp niệmPhật, Trì chú, Tọa thiền đều nhắm vào mục đích này.

VII.-KẾT LUẬN

Thấurõ lý nghiệp báo, chúng ta cố gắng tạo điều kiện thuầnthiện để được quả báo toàn vui, nếu còn chấp nhận ởtrong sanh tử. Sự chọn lựa khổ vui là quyền sở hữu củachúng ta, không phải Thần thánh, cũng không phải ai khác, cóquyền ban khổ vui cho chúng ta. Quyền năng sắp đặt một cuộcsống mai kia, đều do bàn tay chúng ta gây dựng. Nếu một khinào đó, chúng ta không chấp nhận cuộc sống luân hồi nữa,cũng chính chúng ta loại bỏ những mầm sanh tử đang chứachấp trong tàng thức của chúng ta. Thế là, chúng ta đã giànhquyền với tạo hóa, đã tước bỏ quyền lực của thầnlinh và độc tôn trong việc thoát ly sanh tử.


















Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/01/2015(Xem: 6110)
Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội bồ đề, thời gian đầu Ngài chần chờ không muốn truyền bá giáo pháp. Đến khi chư Thiên xuống đảnh lễ, cầu xin Ngài nên vì chúng sanh mà lập bày phương tiện giáo hóa. Lúc trước đọc sử tới đoạn này tôi hơi ngạc nhiên. Vì Đức Phật phát thệ nguyện lớn, thị hiện nơi đời để độ chúng sanh, sao bây giờ thành Phật rồi, Ngài không chịu đi truyền bá Chánh pháp, đợi năn nỉ mới chịu thuyết pháp.
15/01/2015(Xem: 17610)
Con xin thành kính đảnh lễ và tri ân: -Đức Đạt Lai Lạt Ma,và Hòa Thượng Lhakor cùng Thư Viện Tây Tạng đã hoan hỷ cho phép con được chuyển dịch nguyên tác “The Way to Freedom” từ Anh Ngữ sang Việt Ngữ.
05/01/2015(Xem: 23807)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
22/11/2014(Xem: 45710)
Có người khách mang đến cho tôi một gói quà. Bên trong là hai quyển sách: Đất nước Cực lạc, Ánh sáng và bóng tối. Tác giả: Liên Hoa Bảo Tịnh. Khoảng thời gian sau này, tôi có rất ít điều kiện để đọc thêm được những sách mới, nên không ngạc nhiên nhiều lắm với tác giả lạ. Dẫu sao, trong tình cảnh ấy mà được đọc những sách lạ, nhất là được gởi từ phương trời xa lạ, thì cũng thật là thú vị. Rồi càng đọc càng thú vị. Một phần vì có những kiến giải bất ngờ của tác giả, về những điểm giáo lý mà mình rất quen thuộc. Quen thuộc từ khi còn là một tiểu sa-di. Nhưng phần khác, thú vị hơn, khi biết rằng Liên Hoa Bảo Tịnh cũng là Đức Hạnh – đó là chú XUÂN KÝ, một thời ở Già-lam cùng với chú Sỹ.
20/10/2014(Xem: 56646)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ và những khai triển của Trung Hoa. Người Ấn vốn có thái độ coi thường lịch sử; “bởi vì chư thiên yêu thương cái gì tăm tối”*, họ đẩy tất cả những gì xảy ra lui vào bóng tối mịt mù của thần thoại. Riêng Phật tử Ấn cổ thời, với lý tưởng cứu cánh là Niết Bàn, mọi biến cố lịch sử cũng không bận tâm cho lắm. Ngược lại, người Trung Hoa có thái độ lịch sử một cách xác thiết.
18/08/2014(Xem: 74919)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
16/06/2014(Xem: 18930)
Tam quy và Ngũ giới là nền tảng xây dựng đạo đức nhân bản vững chắc trong tiến trình tu tập tiến đến Phật quả của người Phật tử. Bất cứ ai muốn trở thành một người Phật tử chơn chánh, điều kiện trước tiên là phải quy y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm. Đây là cánh cửa khai thông đầu tiên để người Phật tử bước chân vào đạo Phật. Muốn thực tập con đường "Hiểu" và "Thương" cho có hiệu quả thiết thực, thiết nghĩ, ngoài con đường "Tam quy và Ngũ giới" ra, hẳn là không có con đường nào khác để chúng ta chọn lựa. Có hiểu và thương thì chúng ta mới có thể tiến đến xây dựng hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội. Là con người không ai lại không muốn đời mình luôn được an vui và hạnh phúc. Không ai muốn đời mình phải chịu nhiều đắng cay hệ lụy đau khổ bao giờ. Sự chọn lựa một lối đi cho thích hợp với đời sống tâm linh của mình thật hết sức quan trọng.
21/01/2014(Xem: 32525)
Đọc bản dịch Cảnh Đức Truyền Đăng Lục của anh Lý Việt Dũng, tôi không khỏi thán phục khi biết sức khỏe anh rất kém mà vẫn phấn đấu kiên trì để hoàn thành dịch phẩm khó khăn này một cách đầy đủ chứ không lược dịch như ý định ban đầu.
21/12/2013(Xem: 8346)
Đây là danh từ Phật học nên không thể tìm thấy trong những từ điển thông thường thuộc các ngành khoa học tự nhiên hay cũng không thể tìm thấy trong các từ điển thuộc về khoa học xã hội, Kinh tế , văn học, triết học, tôn giáo học… Trong tự điển tiếng Việt của Viện Khoa Học Xã Hội và Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam vẫn không tìm thấy từ nầy.
20/12/2013(Xem: 51716)
THIỀN, được định nghĩa, là sự tập-trung Tâm, chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ về một vấn đề nào khác. Tôi chia THIỀN làm hai loại, Thiền giác ngộ (Meditation for Enlightenment) và Thiền sức khỏe (Meditation for Health). Tập sách nầy chỉ bàn về Thiền sức khỏe mà thôi.