Hương Nhạc Đại Ngàn

09/01/201921:25(Xem: 11395)
Hương Nhạc Đại Ngàn

HƯƠNG  NHẠC  ĐẠI  NGÀN

Ngàn mùi hương, chỉ có hương giới hạnh mới bay ngược làn gió; vạn âm ba, gió rít đại ngàn hay sóng âm biển khơi mới tồn tại miên trường. Âm nhạc đời thường chỉ là cơn sóng xô giạt tiếp nối theo từng thời đại, có lúc chìm lặng lãng quên, có lúc mơ hồ thổn thức.

Riêng tiếng nhạc Trời, tiếng nhạc thẩm thấu vào tâm thức chủng tử giác ngộ của những con người vượt thoát sợi ràng buộc trần tục để biến thành những tơ trời mong manh rung lên từng nốt nhạc tán thán Chân như; âm ba đó du dương theo từng quốc  độ, từng lãnh vực. Đã từng có  âm điệu chư Thiên dâng cúng Đức Thế Tôn, cũng  có kiếp Ngài từng trỗi nhạc làm chìm lặng mọi âm lực đời thường.

Phật giáo Việt Nam thẩm thấu vào đời sống dân tộc không chỉ là giáo pháp, là nếp thoát tục thanh cao, từ những tâm hồn thánh thiện biến thành nhạc âm đi vào lòng người, khắc sâu nghệ thuật qua nhiều lãnh vực.

Một Lê Cao Phan với Đạo ca hành khúc bất hủ,Bửu Bác với nhạc lễ Trầm Hương Đốt thì Hằng Vang với nhạc phẩm Ánh Đạo Vàng bất tuyệt, không thể thiếu trong lịch sử âm nhạc Phật giáo, một trong những cây cổ thụ nhạc Đạo chưa hề nhạt mờ.

Tài sản âm nhạc của Hằng Vang như là tài sản cổ thụ đại ngàn trên miền Tây nguyên, xuyên suốt nhiều thập kỷ chưa từng gián đoạn cũng như chưa từng gián đoạn niềm tin và sự hành trì của nhạc sĩ đối với Phật pháp. Sự xúc cảm và niềm đam mê, Hằng Vang trãi dài từng nốt nhạc trên các chủ đề Đạo và đời như:

Ánh đạo vàng, Ca mừng Phật Đản, Cảm niệm Ca tỳ la thành, Ca mừng Thành đạo, Kính mừng Phật Đản (1957),Ngày đẹp trần gian, Bồ tát Quán thế âm, Mẹ hiền Quán thế âm, Mẹ là suối ngọt từ bi, Mẹ quê hương, Trăng quê tình mẹ, Gia tài của Ba…Tin Loạn Quê Hương,  Lửa Từ bi, Lửa sáng niềm tin, Ánh lửa Quảng Hương, Pháp nạn 1963, Đêm kinh hoàng 20/8/1963, Tin loạn quê hương, Ánh lửa Nhất Chi Mai, Tưởng niệm Quách thị Trang, Tưởng niệm Yến Phi, và rất nhiều tác phẩm qua lời thơ của nhiều thi sĩ nổi tiếng như T.S Nhất Hạnh, Vũ Hoàng Chương, Huyền Linh Tử. Trụ Vũ…

Tuy đam mê đạo, nhưng Hằng Vang nào quên trách nhiệm với cháu con; qua 108 ca khúc được ái nữ THU HẰNG pháp danh NGUYÊN HÀ xuất bản làm món quà tri ân cha mẹ, đó là GIA TÀI CỦA BA.Tác phẩm gửi gấm tình cảm để khuyến nhủ con cháu trên con đường đạo đức, đầy xúc động.

                                              ***

Sau một ngày tổ chức chương trình kỷ niệm 65 năm ca nhạc Phật giáo và 86 năm mừng thọ nhạc sĩ Hằng Vang, ghi dầu công lao của nhạc sĩ đã đóng góp cho Phật giáo, được TT Thích Chánh Tài,(nhà thơ Huyền Lan) tọa chủ tu viện Phước Hoa. Long Thành,  cùng sự hỗ trợ của nhóm Văn hóa văn nghệ PG Nhất Chi Mai, chủ xướng, anh em văn nghệ sĩ Thành phố SG cùng tháp tùng, con cháu đông đủ sum vầy đã có bữa tiệc chung vui trong khoảng sân vừa đủ dưới cái lạnh thoang thoảng của đồi núi Cao nguyên. Hằng Vang cùng con cháu hợp ca Ánh Đạo Vàng, Gia Tài Của Ba, và vài ca khúc nhạc đứt (nhạc không thuộc lời), trong đó, nhạc sĩ  tự hát một nhạc phẩm mà bấy lâu trong Phật giáo chưa hề biết, nói lên tình yêu với văn từ hoa mỹ tràn đầy sức sống: “Ru Tình Ngủ say”.

Mặc dù ca nhạc Phật giáo trước 1975 cũng đã từng được cố HT Viện trưởng VHĐ Thích Thiện Hoa và Cố HT T.Tâm Châu tán dương khen thưởng, nhưng trên 40 năm nay,Giáo hội Phật giáo Việt Nam lặn hụp, trăn trở một cách khó khăn để chứng minh sự tồn tại và trưởng thành, bộ phận âm nhạc và các nhạc sĩ tài danh một thời dường như bị mờ nhạt, trong đó, một số nhạc sĩ Phật giáo trẻ đang vươn lên trong thầm lặng. Trong rừng sâu vẫn có những đóa hướng dương thầm trổ, giữa mênh mông Phật sự, vẫn còn có những ý tưởng cưu mang anh em văn nghệ sĩ  có công đối với Đạo. TT viện chủ tu viện Phước Hoa, không sử dụng phô diễn âm nhạc Phật giáo qua những đêm công diễn đại chúng tốn kém, nhưng thầm lặng tôn vinh những cá nhân thực tài, chính vì vậy,Hằng Vang đã sống lại sau những tháng ngày đơn độc giữa đại ngàn cao nguyên, đơn độc với đồng đạo, đơn độc với gia tộc, nghệ sĩ luôn là kẻ độc hành như nhện giăng tơ, như tằm đúc kén để có những tác phẩm độc và lạ cống hiến cho Đạo và đời. Hằng Vang thật sự rất vui, nhìn quý thầy, nhìn mặt anh em đồng đạo và đồng nghiệp, nhìn mặt cháu con một thời xa cách, để rồi tràn đầy niềm kiêu hãnh với cháu con, niềm tự hào của con cháu, một ngày thật ý nghĩa và một đêm thật vui hòa với gió lạnh đại ngàn.

Có lẽ đây là một kỷ niệm khó quên và là kỷ niệm cuối đời thật xứng đáng cho một nhạc sĩ tài danh như Hằng Vang. Kỷ niệm do nhóm Văn hóa văn nghệ PG Nhất Chi Mai dưới sự hướng dẫn của nhà thơ Huyền Lan cùng góp mặt của anh em văn nghệ sĩ Thành phố, tạo thành cung bậc hòa nhập với âm ba đại ngàn mà một đời nhạc sĩ đã gắn bó với vùng đất lạnh.Khó quên!gió vẫn hú, nhạc vẫn ru trên đại ngàn.

MINH MẪN

08/01/2019
Huong-nhac-dai-ngan-01Huong-nhac-dai-ngan-02Huong-nhac-dai-ngan-03Huong-nhac-dai-ngan-04Huong-nhac-dai-ngan-05Huong-nhac-dai-ngan-06Huong-nhac-dai-ngan-07Huong-nhac-dai-ngan-08Huong-nhac-dai-ngan-09Huong-nhac-dai-ngan-10Huong-nhac-dai-ngan-11

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/11/2025(Xem: 2852)
(1):Long Thần, Hộ Pháp ở quanh ta. Lành, dữ ta làm khó giấu qua. (sưu tầm) Phải nhớ làm gì, dù thật nhỏ. Biết là việc ÁC, phải lìa xa!
04/11/2025(Xem: 2800)
Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay. Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày. Rồi chắc chắn bỏ mặn, ăn chay mấy hồi.
01/11/2025(Xem: 3056)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 3340)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4999)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 4018)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2990)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 3360)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 4336)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3916)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.