15. Các cấp độ hạnh phúc - Thích Hiển Chánh

16/05/201314:22(Xem: 4897)
15. Các cấp độ hạnh phúc - Thích Hiển Chánh


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
--- o0o --- 

Phần I

Bản chất và con đường Giác Ngộ

--- o0o ---

CÁC CẤP ĐỘ HẠNH PHÚC

Thích Hiển Chánh

Trong các khoái lạc giác quan, sự ô nhiễm về cảm xúc (upakkiles ), và các lậu hoặc tâm ( sav ) ngày càng phát triển, trong khi trong thiền định, chúng càng ngày càng bị giảm thiểu, và chỉ với hạnh phúc niết-bàn, chúng mới hoàn toàn mất dạng.

Trong đạo Phật, thuật ngữ hạnh phúc được biết đến là sukha. Sukhamang nhiều nghĩa và có thể được dịch là hạnh phúc, an lạc hay cảm giác vui sướng, dù là thuộc giác quan, thuộc tâm, hay giải thoát. Trong kinh điển nguyên thuỷ, có hai loại hạnh phúc là hạnh phúc của khoái lạc giác quan (k ma-sukha), hay còn gọi là năm dục lạc (pa– ca k magu?a) và hạnh phúc của niết-bàn (nibb naị sukhaị ). Một phân loại khác đó là hạnh phúc thế gian hay vật chất ( misa-sukha) và hạnh phúc phi thế gian hay tâm linh (nir misa-sukha). Hạnh phúc thế gian bắt nguồn từ sự thoả mãn các giác quan trong khi hạnh phúc siêu thế gian bắt nguồn từ đời sống thiền định và tâm linh. Hạnh phúc giác quan (k ma-sukha) bao gồm hạnh phúc thuộc về thân (k yika sukha) và hạnh phúc thuộc về tâm (cetasika sukha). Khuynh hướng chung của chúng sanh phàm phu thường xem hạnh phúc giác quan là hạnh phúc cao nhất. Phật giáo bất đồng với quan điểm phổ biến này, trái lại, dạy chúng ta một loại hạnh phúc ở cấp độ cao hơn, bao gồm hạnh phúc của niết-bàn. Chỉ có niết-bàn được người Phật tử xem là thứ hạnh phúc cao cấp nhất (nibb naị paramaị sukhaị ) mà con người có thể đạt được thông qua các nỗ lực cá nhân đúng phương pháp ngay trong đời sống hiện tại này.

Để chi tiết hóa, hạnh phúc có thể được phân thành ba nhóm chính, đó là, (i) hỷ và lạc từ các đối tượng giác quan (s mis p? ti s misaị sukhaị ), (ii) hỷ và lạc thoát khỏi các đối tượng giác quan (nir mis p? ti nir misaị sukhaị ), và (iii) hỷ và lạc vi tế thoát khỏi các đối tượng giác quan (nir misatar p? ti nir misataraị sukhaị ). Loại thứ nhất được gọi là hạnh phúc giác quan, loại thứ hai là hạnh phúc thiền định và loại thứ ba là hạnh phúc niết-bàn. Ba loại hạnh phúc này tương ứng với ba cấp độ hữu tình và được phân loại từ thấp đến cao đó là hạnh phúc cõi người, hạnh phúc cõi trời và hạnh phúc niết-bàn, trong đó, hạnh phúc cõi người là thấp nhất và hạnh phúc niết-bàn là cao nhất. Hạnh phúc cõi người bao gồm các hạnh phúc phát sanh từ các giác quan. Hạnh phúc cõi trời phát sanh từ thiền định. Hạnh phúc niết-bàn phát sanh từ sự thực hành con đường thánh gồm tám yếu tố. Phân loại ba hạnh phúc này được dựa trên mức độ nội dung và phẩm chất của hạnh phúc mà con người có thể có được tùy theo mức độ chuyển hóa tâm linh. Theo đức Phật, hạnh phúc của giác quan và hạnh phúc thiền định chỉ có giá trị bằng 1/16 (phân số biểu tượng một tỷ lệ rất nhỏ và không đáng kể) so với hạnh phúc của niết-bàn, sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ và tham ái.

Hạnh phúc con người, cũng còn gọi là năm dục lạc (pa– ca k magu?a), phát sanh từ sự tiếp xúc của mắt đối với vật thể, tai với âm thanh êm dịu, mùi khả ái với mũi, vị ngon ngọt với lưỡi và thân thể với sự xúc chạm êm ái. Bất kỳ cảm giác dễ chịu hay khoái lạc hay hạnh phúc nào phát sanh từ năm dục lạc trên đều được gọi là hạnh phúc giác quan. Hàng chúng sanh phàm phu thường cho đây là khả lạc, khả ái, khả hỷ, thích thú, đam mê như thể chúng là các hạnh phúc quý nhất trên đời mà con người có thể đạt được. Nhiều người còn cho đó là mục đích tối thượng của cuộc sống, chẳng hạn như những nhà duy vật luận (C v rka hay Lok yatika), không biết đến các giá trị tâm linh, xem vật chất là thượng đế của mọi thứ trên đời.

Để cho thấy giá trị giới hạn của loại hạnh phúc giác quan, đức Phật giới thiệu chín cấp độ của hạnh phúc thiền định. Chín cấp độ này được chia thành ba nhóm, bao gồm, 4 loại hạnh phúc gắn liền với 4 cấp độ thiền định của thế giới sắc thể (r‰ pajjh n ni), 4 loại hạnh phúc gắn liền với 4 cấp độ thiền định của thế giới vô sắc thể (ar‰ pajjh n ni) và hạnh phúc trong trạng thái không còn cảm giác và tưởng tượng (sa– –  vedayitanirodha, diệt thọ tưởng định), như được ghi chép trong kinh Bahuvedaniya-Sutta thuộc Trung Bộ, và trong một số kinh nguyên thủy khác. Theo đức Phật, hạnh phúc giác quan sẽ dẫn đến luân hồi, trong khi đó, hạnh phúc thiền định là những thang bậc hướng ta đến sự chứng đạt hạnh phúc niết-bàn, một thứ hạnh phúc siêu việt hơn nhiều so với hạnh phúc giác quan. Hạnh phúc thiền định chỉ có thể đạt được bằng phương tiện của tuệ tri về bản chất thoả mãn tạm thời và nguy hiểm dài lâu của các giác quan và do nhìn thấy được nhu cầu thoát khỏi chúng. Điều này sẽ từ từ kéo theo sự thay thế lẫn nhau từ hạnh phúc giác quan sang thiền định bằng sự suy nghĩ và hiểu biết chân chánh:

Khi vị thánh đệ tử nghĩ rằng, "khoái lạc giác quan chỉ cung cấp ít thoả mãn nhưng mang lại nhiều đau khổ về lâu về dài, và sự thoát khỏi khoái lạc như vậy là có giá trị," vị ấy liền nhận chân ra được điều này, như chúng thật sự là, thông qua tuệ tri viên mãn, và vị ấy chứng đạt được cảm giác hỷ và lạc vượt khỏi các khoái lạc giác quan, nhờ đó vị ấy không bị các khoái lạc giác quan kích thích và chi phối.

Sự thay thế các khoái lạc giác quan bằng các hạnh phúc thiền định được mô tả rất rõ trong câu kinh sau đây: "Bậc trí thực hành thiền định chỉ và quán, trở nên hân hoan với sự an lạc của giải thoát khỏi các khoái lạc giác quan và các lậu hoặc của tâm."

Trong các khoái lạc giác quan, sự ô nhiễm về cảm xúc (upakkiles ), và các lậu hoặc tâm ( sav ) ngày càng phát triển, trong khi trong thiền định, chúng càng ngày càng bị giảm thiểu, và chỉ với hạnh phúc niết-bàn, chúng mới hoàn toàn mất dạng. Đoạn kinh sau đây mô tả rõ điều nầy: "các hoạt động tâm lý (citta), khi vun bồi một cách trọn vẹn bằng trí huệ (pa– –  ), sẽ thoát khỏi các lậu hoặc của tham ái, tái hiện hữu, quan điểm và vô minh." Nói cách khác, hạnh phúc niết-bàn chỉ đạt được thông qua sự chuyển hóa tâm lý thành tuệ (a– –  ) và trí (pa– –  ), trong khi đó, hạnh phúc giác quan sẽ dẫn đến sự gia tăng các chấp mắc về cảm xúc ( laya/up d na). Kiến thức về diệt tận các tâm lý bất thiện luôn hiện hữu trong trạng thái hạnh phúc của niết-bàn. Đây là điều được mô tả trong kinh Aỉ ỉ hakan gara-suttathuộc Trung Bộ:

"đối với người [đã đạt được hạnh phúc niết-bàn], dù là đi, đứng, nằm hay ngồi, thức hay ngủ, các lậu hoặc đã được dứt sạch, và khi vị này nghĩ đến điều này, vị ấy tuệ tri rõ rằng, "ta đã đoạn tận các lậu hoặc.""

Nói cách khác, khoái lạc giác quan chỉ là nguồn hay điều kiện để phát sanh chuỗi vận hành (saơ k ra-pu– ja) của tâm, miệng và hành vi, có thể làm tổn hại cho mình và người và cả hai. Sự tìm kiếm khoái lạc giác quan (r ga/k ma), tham ái (taơ h ) như là đối tượng khoái lạc cao nhất sẽ ngự trị trong những ai làm nô lệ cho các kinh nghiệm giác quan. Khoái lạc giác quan do đó đã trở thành chướng ngại vật của sự chứng đạt tuệ (a– –  ) và trí (pa– –  ). Thái độ và phản ứng của con người trước các khoái lạc giác quan cho thấy mức độ khác nhau của tâm đã được chuyển hóa hay chưa, nhiều hay ít. Khuynh hướng vướng mắc vào các đối tượng khoái lạc giác quan cũng như những phản ứng xoay lưng lại với những gì không khoái lạc (sukha-k ma hi satt dukkhapaỉ ik‰ l ) được thể hiện một cách khác nhau ở mỗi người, nhất là từ góc độ họ quan niệm, đánh giá và phản ứng chúng. Có thể tin tưởng rằng nhờ vào sự nhận chân sự giới hạn và phản ứng ngược chiều của các khoái lạc giác quan trong việc mang lại nhiều trở ngại và đau khổ cho hiện hữu người, đức Phật đã tầm cầu, phát triển, đạt được và giảng dạy các loại hạnh phúc cao hơn và cao nhất, có thể đem lại cho nhân loại và các chúng sanh khác nhiều giá trị đạo đức và tâm linh.

Đào luyện trong bốn cấp thiền cao cấp của thế giới sắc thể (r‰ pajjh n ni) sẽ tạo nên những bước thang ban đầu để đạt được hạnh phúc cao nhất của niết-bàn. An trụ vào bốn cảnh giới thiền vô sắc thể là một bước tiến cao hơn. Duy trì mình trong trạng thái vắng mặt hoàn toàn các cảm giác và nhận thức (diệt thọ tưởng định) là một bước tiến cao hơn nữa. Theo đức Phật, không chỉ hạnh phúc giác quan không phải là hạnh phúc tối thượng, mà ngay cả hạnh phúc thiền định cũng chưa phải là đích đến cuối cùng, như nhiều người đã lầm tưởng và đánh đồng. Có một thứ hạnh phúc siêu việt hơn, vi diệu hơn các hạnh phúc thiền định đó là hạnh phúc của niết-bàn (nibb naị paramaị sukhaị ), thứ hạnh phúc của giải thoát (vimuttisukha) mà con người có thể đạt được ngay trong kiếp sống này.

Các khoái cảm của Sukha thường giới hạn trong các khoái lạc giác quan thông thường, và trong ba mức độ đầu thiền thứ nhất (r‰ paloka) mà thôi. Khoái lạc giác quan thường tạm bợ, chóng vánh và có thể trở thành đau khổ bất cứ lúc nào, trong khi trong thiền định, hạnh phúc có mặt dưới hình dạng vi tế và siêu tuyệt hơn. Hạnh phúc của thiền thứ ba (tatiya-jh na) được xem là tầm mức cao nhất của các hạnh phúc này. Chứng nhập và an trú trong thiền thứ tư, mặc dù không còn cảm giác (hạnh phúc và khổ đau), nhưng do có trạng thái "xả" (upekkh ), an tĩnh, cũng được xem là loại hạnh phúc vi tế. Nói cách khác, hạnh phúc ở mức độ thông thường chỉ giới hạn trong cảm giác, hay chỉ là vấn đề của cảm giác, trong khi hạnh phúc ở mức độ cao hơn không còn là vấn đề của cảm giác nữa. Điều này có nghĩa là bất cứ cái gì không-đau-khổ đều được xem là hạnh phúc, trong đó, trạng thái "xả" là một loại điển hình. Đây là điều được tôn giả S riputta lập đi lập lại nhiều lần trong kinh Tăng Chi(Aơ guttara-Nik ya): "bản thân sự vắng mặt các cảm giác được xem là hạnh phúc."

Về các cấp độ hạnh phúc khác nhau của thiền sắc giới (r‰ pajjh n ni), kinh điển nguyên thủy trình bày như sau. Điều kiện để vào thiền thứ nhất (paỉ hama-jh na) là tỉnh thức trước các đam mê khoái lạc giác quan, và các trạng thái bất thiện của tâm. Ở đây, đam mê khoái lạc giác quan đã chấm dứt, các tư tưởng dẫn tâm (vitakka, tầm) tư tưởng duy trì tâm (vic ra, tứ) hoạt động, tràn đầy hỷ (p? ỉ i) và lạc (sukha), phát sanh từ đời sống yểm ly. Trong trạng thái thiền thứ hai (dutiya-jh na), với sự niềm tin nội tại (ajjhattaị sampas danaị ) và sự tập trung chuyên nhất của tâm (cetaso ekodibh vaị ), chỉ có hỷ và lạc còn lại trong khi tầm và tứ đã chấm dứt (avitakkaị avic raị ), tại đó, tâm trở nên an tịnh (passaddhi) và chuyên nhất (cittass ekaggat ). Lúc ấy, hỷ và lạc lan tràn toàn thân và trong từng giác quan một. Trong cấp độ thiền thứ ba (tatiya-jh na), với sự không vướng mắc vào hỷ và lạc (pit? y ca vir g ), thiền giả cảm nhận được hạnh phúc của toàn thân với "xả" (upekkh ), chánh niệm (sati) và tỉnh giác (sampaja– – a). Trong cấp độ thiền thứ tư, tất cả các cảm giác như hỷ lạc của tâm (somanassa) khổ đau của tâm (domanassa) cũng như hạnh phúc của thân (sukha) và đau đớn của thân (dukkha) đều mất dạng. Đây là một trạng thái không còn đau khổ không còn hạnh phúc (adukkhamasukha), và theo đó, xả, chánh niệm, tỉnh giác và thanh tịnh (upekkh satip risuddhi) ngự trị. Các trạng thái tâm này được liệt vào nhóm hạnh phúc tương đối cao.

Theo sau sự chứng đạt thiền thứ tư (catuttha-jh na) là bốn trạng thái thiền vô sắc giới (ar‰ pajjh n ni), an tịnh, vượt lên trên các hình thái vật thể (sant vimokkh atikkamma r‰ pe  rupp ). Cấp độ thiền vô sắc thứ nhất là không vô biên xứ ( k sana– c yatana), được mô tả như sau. Với sự khắc phục trọn vẹn các nhận thức về vật chất (sabbaso r‰ pasa– –  naị samatikkam ), với sự mất dạng của các nhận thức về sự kháng cự (paỉ igha sa– –  naị atthagam ), với sự không chú ý về các nhận thức về sự khác nhau (n nattasa– –  naị amanasik r ), ý thức vào không gian vô hạn (ananto  k so), thiền giả bước vào và an trú ở cảnh giới không vô biên xứ. Trong cấp độ thiền vô sắc thứ hai thường được biết đến với tên gọi thức vô biên xứ (vi– –  ?a– c yatana), thiền giả bằng cách vượt qua trọn vẹn cái không gian vô hạn định và ý thức về "ý thức vô cùng," bước vào và an trú ở cảnh giới thức vô biên xứ. Trong cấp độ thiền thứ ba thường được gọi là vô sở hữu xứ ( ki– ca– –  yatana), thiền giả nhờ vượt qua cảnh giới vô hạn của ý thức, và ý thức về cái không hiện hữu (abh va) và rỗng không (su– – ata), bước vào và an trú vào cảnh giới không vô biên xứ. Tiến trình chứng đạt cấp thiền vô sắc giới thứ tư này được mô tả như là sự vượt qua trọn vẹn cảnh giới không vô biên, thiền giả bước vào và an trú cảnh giới không-phải-nhận-thức-không-phải-không-nhận-thức (nevasa– –  n sa– –  yatana, phi tưởng phi phi tưởng xứ).

Sự chứng đạt các cấp thiền cao này đòi hỏi nhiều huấn luyện (saị vara), chẳng hạn như làm chủ các giác quan, thanh tịnh hóa quan niệm về thế giới dưới góc độ không thực thể, thực hành hạnh không chấp mắc (an laya) trước các dữ liệu giác quan, nhìn các sự vật như chúng là, loại bỏ các lậu hoặc ( sava), như tham dục (k ma), [tái] hiện hữu (bhava), quan điểm sai (diỉ ỉ hi) và vô minh (avijj ).

Phá hủy trọn vẹn các lậu hoặc này được gọi là chứng đạt niết-bàn. Đây thật ra là sự chuyển hóa trọn vẹn nhân tính tâm vật lý. Về phương diện vật lý, bậc giác ngộ hay chứng đạt niết-bàn luôn trong trạng thái thư giản và an trú của thân (k ya-passaddhi). Mặc dù phải đối diện với tuổi già, biến hoại và cái chết, bậc giác ngộ thoát khỏi các phản ứng và chấp mắc cảm xúc. Về phương diện tâm lý, bậc giác ngộ thoát khỏi các dòng chảy bất thiện và bất tịnh của tâm.

Chú thích:

Cũng còn có nghĩa là dễ chịu, vui thích, hài lòng, dễ đồng tình, khoái lạc, an lạc, phúc lợi, lý tưởng và thành công. Xem Pali English Dictionary của PTS,mục từ sukha: 726a.

M. I. 85, 92, 398, 454.

S. IV. 231.

M. II. 42-3.

Dhp. 203-4; S. I. 125, S. IV. 371-2; M. I. 508-9; Ud. 10; Thag. 35.

S. IV. 235.

Ud. 11.

Ibid.

M. I. 398.

M. I. 398-400.

Chẳng hạn như D. III. 265, 290; A. IV. 410.

M. I. 91: Yato ca kho Mah n ma ariyas vakassa: appass d k m bahudukkh bahup y s ,  d? navo ettha bhiyyoti evam-etaị yath bh‰ taị sammappa– –  ya sudiỉ ỉ haị hoti, so ca a– – atreva k mehi a– – atra akusalehi dhammehi p? tisukhaị adhigacchati a– – a– ca tato santataraị atha kho so an vaỉ ỉ ? k mesu hoti.

Dhp. 181.

M. I. 36.

D. I. 84.

D. II. 81: Pa– –  paribh vitaị cittaị sammadeva  savehi vimuccati seyyath? daị k m sav bhav sav diỉ ỉ h sav avijj sava.

M. I. 532: . . . tassa carato ceva tiỉ ỉ hato ca suttassa ca j garassa ca satataị samitaị kh? ? v  sav , api ca kho naị paccavekkham no j n ti: kh? ?  me  sav ti.

M. I. 341; S. IV. 172.

Dhp. 203-4; S. I. 125, S. IV. 371-2; M. I. 508-9; Ud. 10; Thag. 35.

S. II. 18, 34, 115; III. 163; IV. 141; M. III. 286.

M. I. 400; S. IV. 228.

A. IV. 415-6: Etadeva khvettha sukhaị yad ettha natthi vedayitaị .. Tham khảo thêm S. IV. 228; Sn. 739.

A. IV. 408-18; D. I. 37, 74-6; M. I. 247-9, 398-400.

Về các ẩn dụ của hạnh phúc của bốn cấp độ thiền, xem D. I. 74-6.

M. I. 33.

D. I. 183-4; A. IV. 415-6.

--- o0o ---


Chân thành cảm ơn Đại Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tuyển tập này.

--- o0o ---

Vi tính: Hải Hạnh - Giác Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/2026(Xem: 239)
Những ngày mùa đông bão tuyết tơi bời, thời tiết khắc nghiệt với cái lạnh cắt da cắt thịt Những ngày tháng nước Mỹ loạn động bất an, lực lượng kiêu binh khủng bố gây sợ sệt, bất an và bất bình trong dân chúng. Sự kiện các nhà sư đi bộ vì hòa bình (Walk For Peace) đã đem lại làn sóng an lạc, yêu thương, hy vọng, hòa bình, giải thoát…cho dân chúng suốt hành trình từ Texas đến Washington và cả những người xem qua mạng xã hội hay các cơ quan truyền thông. Âm hưởng của làn sóng tích cực lan tỏa sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội, vượt khỏi biên giới quốc gia.
26/01/2026(Xem: 1049)
Hơn hai mươi sáu thế kỷ trước, dưới cội Bồ-đề, Đức Thế Tôn thấu triệt ba minh, viên thành tuệ giác, chứng đắc quả vị Tối thượng trong thế gian, khai mở con đường chân lý chấm dứt khổ đau cho nhân loại. Trải qua thời gian hơn hai ngàn sáu trăm năm, giáo pháp của Thế Tôn lưu nhuận khắp các quốc độ, tùy sở trụ xứ mà mang lại an lạc cho muôn loài. Ánh sáng chân lý năm xưa từ nơi Bồ-đề đạo tràng đã soi rọi đến quốc độ của người Việt từ thuở bình minh dựng nước. Trải qua nhiều thế kỷ, ánh sao mai năm nào nơi xứ Ấn đã hóa hiện thành những cành mai sân trước của người Việt. Để từ đó, pháp học, pháp hành của ba đời mười phương chư Phật lợi lạc cho số đông thấm vào tâm hồn của người Việt, hàng ngàn thế hệ con cháu Rồng Tiên đã thu nhiếp và hành trì giáo pháp Phật đà tương ứng với căn tính dân tộc trên nền tảng những tín tâm bất hoại.
23/01/2026(Xem: 805)
Một sáng con quay về Thăm lại cây đại thọ Nơi đây Phật thiền toạ Chứng đạo quả Bồ Đề Ngày ấy của năm nào Nhằm mùng tám tháng chạp Vầng hào quang soi sáng Dẫy sạch bụi trần lao.
23/01/2026(Xem: 972)
Có những nỗi sợ là dấu hiệu của một lương tri còn sống Giúp phân biệt từ bi và dính mắc rất rõ ràng Ranh giới của một vùng trách nhiệm an toàn Không còn vô minh, không muốn quay lại cũ !
23/01/2026(Xem: 1031)
Cuộc đời và con đường giác ngộ của Ngài là minh chứng rõ nét cho việc sử dụng tư duy phản biện để tìm ra sự thật, kết hợp với một đời sống đạo đức mẫu mực. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một hiền triết vĩ đại, người đã dùng tư duy phản biện sắc bén để phá bỏ những định kiến sai lầm, và dùng đạo đức, từ bi vô lượng để xây dựng một con đường giải thoát chân chính cho nhân loại. Ngài là minh chứng sống cho thấy tư duy phản biện và đạo đức cao thượng hoàn toàn có thể song hành với nhau.
23/01/2026(Xem: 927)
Ngày cuối năm, gió lạnh lùa qua mép cửa, những chùm hoa dại rũ mình uống ánh trăng đêm. Mùa của những bình yên, được gọi tên như món quà xoa dịu lòng người, vun vén những giấc mơ còn bỏ ngỏ! Con khẽ với tay nắm lấy nhành lá khô đang mọc những chồi non, trở mình tỉnh giấc sau một năm dài ẩn mình trong sương, gió. Người cũng đưa tay đón chút nắng cuối ngày, vẽ lên đó những mong ước lặng thầm, giữa một chiều trầm mặc!
06/01/2025(Xem: 4166)
Kính lạy bậc kỳ vĩ xuất hiện, từ ngàn năm trong thế giới (1) Gây âm vang chấn động, mở ra một kỷ nguyên Mang ánh sáng đi vào đời, với phương pháp tịnh Thiền Giúp người người tìm về Chánh Pháp mầu nhiệm
22/06/2024(Xem: 4851)
Bộ hành là bước đi của chân. Nơi đây, trong bài này, chỉ có ý nói rằng xin mời gọi bước đi của tâm: khuyến tấn cả nước cùng nhau bộ hành theo dòng Kinh Phật, cùng tập thói quen đọc kinh, suy nghĩ về kinh, để tâm hướng theo lời kinh dạy, và hàng ngày hãy làm như thế trong những điều kiện có thể của từng Phật tử, từng ngôi chùa. Nói theo chữ cổ, hàng ngày hãy tự xem hành động đọc, nghĩ, và làm theo lời Phật dạy cũng là một hạnh đầu đà. Nếu chúng ta đi bộ bằng chân, độ dài chỉ có thể đo bằng kilômét trong lãnh thổ Việt Nam. Trong khi, nếu chúng ta bước đi bằng tâm, hàng ngày mở trang kinh ra, để đọc, để nghĩ và để làm – thì độ dài của kinh và luận sẽ là nhiều ngàn năm, trải rộng cả Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc châu… Và sẽ không làm cản trở giao thông của bất cứ ai, bất cứ nơi nào.
19/06/2024(Xem: 10584)
Khi nói tới chuyện trao truyền y bát, chỉ là sử dụng một kiểu ngôn ngữ ước lệ. Nơi đây, chúng ta muốn nói tới một thẩm quyền sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Nghĩa là, một thẩm quyền tối hậu để nương tựa. Khi dò lại kinh, chúng ta sẽ thấy câu chuyện phức tạp hơn. Vì có nơi Đức Phật nói rằng sau khi ngài nhập Niết Bàn, tứ chúng hãy chỉ dựa vào Chánh pháp. Kinh lại nói rằng tứ chúng chỉ nên dựa vào Kinh và Luật. Mặt khác, Đức Phật nói rằng có những kinh cần giải nghĩa (tức là, hãy nhìn mặt trăng, chứ đừng chấp vào ngón tay, và từ đây mở đường cho các bộ Luận và Kinh Đại Thừa). Có lúc Đức Phật chia đôi chỗ ngồi và trao y cho ngài Ca Diếp. Có kinh ghi lời Đức Phật trao pháp kế thừa cho ngài A Nan. Và có kinh ghi lời Đức Phật ủy thác quyền lãnh đạo cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Thế rồi, một hình ảnh thơ mộng từng được kể qua truyện tích Niêm Hoa Vi Tiếu, rằng Đức Phật lặng lẽ, cầm hoa lên, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Tích này kể lời Đức Phật nói rằng ngài có một pháp môn vi diệu, không dự
06/06/2024(Xem: 3074)
Trong nhà Phật, lời nguyện là một phần có thể gặp ở bất kỳ kinh sách nào. Hầu hết các lời nguyện đều lớn vô cùng, và trải dài vô cùng tận. Trong các chùa Thiền Tông, chúng ta thường nghe tới Tứ hoằng thệ nguyện, nơi câu đầu "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" (Nguyện giải thoát vô số chúng sinh) đã mang tâm lượng vô biên, vô cùng tận. Trong các chùa Tịnh Độ, các bộ Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư đều ghi những lời nguyện lớn của các vị Phật tương ưng. Tới đây, chúng ta có thể gặp một câu hỏi, rằng có lời nguyện nào sẽ thích hợp cho kiếp này thôi. Bởi vì, có những vị tuổi thọ chỉ còn chừng vài năm nữa là sẽ qua kiếp khác. Và Đức Phật đã dạy những gì cho lời nguyện trong một kiếp ngắn hạn này?