Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

9. Thánh nhân trong kinh điển Pali - Thích Nhật Từ

16/05/201313:36(Xem: 1152)
9. Thánh nhân trong kinh điển Pali - Thích Nhật Từ


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
--- o0o --- 

Phần I

Bản chất và con đường Giác Ngộ

--- o0o ---

THÁNH NHÂN TRONG KINH ĐIỂN PALI

Thích Nhật Từ

Con đường giác ngộ không phân biệt giới tính, giai cấp, màu da, chủng tộc, tu sĩ hay cư sĩ. Bất kỳ ai sống đời đạo đức và trí tuệ theo tinh thần Phật dạy, giải thoát tâm mình khỏi các thác lũ lậu hoặc, chuyển hóa đời sống trở nên toàn diện sẽ có thể chứng đạt giác ngộ ngay đời này và tại thế gian này.

I. DẪN NHẬP

Lội ngược dòng với cuộc đời hay tình trạng của thế giới được gọi là "thánh" (ariy ), trạng thái sống siêu vượt hơn các điều kiện của người phàm phu (assutavant puthujjana). Dòng họ thánh nhân trong Phật giáo nguyên thủy bao gồm những ai đã gia nhập vào gia đình của bậc giác ngộ (gotrabh‰ ). Tất cả những gì được đức Phật giảng dạy chỉ hướng đến sự chấm dứt của thế giới (ti??loke visattikan ti), sự chứng ngộ và giải thoát.

II. PHÂN LOẠI CÁC LOẠI THÁNH NHÂN

Thánh nhân (ariyapuggala / ariyas vaka) được định nghĩa là người đã chuyển hóa hoàn toàn trạng thái của người phàm (puthujjana / anariyapuggala), đã chứng đắc được bốn con đường siêu thế (lokuttaramagga) và bốn quả siêu việt (lokuttaraphala).

Trong một phân loại phổ biến nhất của kinh điển P li, có bốn loại thánh nhân, đó là, bậc vào dòng (Sot panna, dự lưu), bậc trở lại thế gian một lần (Sakad g m? , nhất lai), bậc không còn trở lại (An g m? , bất lai) và bậc A-la-hán (Arahanta). Nếu phân loại chi tiết hơn, số lượng thánh nhân lên đến bảy, tám và chín tùy theo các bản văn khác nhau.

Gia phả bảy thánh nhân bao gồm (1) bậc giải thoát bằng hai cách (ubhatobh gavimutta), (2) bậc giải thoát nhờ trí tuệ (pa– –  vimutto), (3) bậc thân chứng (k yasakkh? ), (4) bậc chứng đạt chánh kiến (diỉ ỉ hippatta), (5) bậc giải thoát nhờ chánh tín (saddh nus r? ), (6) bậc theo đuổi chân lý (dhamm nus r? ) và (7) bậc thành tín (saddh nus r? ).

Gia phả tám thánh nhân thường được gọi là bốn đôi, tám chúng bao gồm: (1) bậc tuệ tri con đường ngược dòng (sot patti-magga), (2) bậc chứng đắc quả ngược dòng (sot patti-phala) hay bậc dự vào dòng thánh (sot panna), (3) bậc tuệ tri được con đường trở lại một lần (sakad g mi-magga), (4) bậc chứng được quả trở lại một lần (sakad g mi-phala) cũng còn gọi là bậc trở lại một lần (sakad g min), (5) bậc tuệ tri con đường không trở lại (an g mi-magga), (6) bậc chứng được quả không trở lại (an g mi-phala) cũng còn gọi là bậc không trở lại (an g min), (7) bậc tuệ tri con đường A-la-hán (arahatta-magga), và (8) bậc chứng được quả A-la-hán (arahatta-phala) hoặc còn gọi là quả thánh nhân.

Gia phả chín thánh nhân bao gồm tám bậc giác ngộ vừa nêu cộng với bậc đã gia nhập vào gia phả thánh (gotrabh‰ ).

Mức độ diệt trừ các trói buộc của tâm (saị yojana) được xem là tiêu chí xác định sự chứng đắc hay gia nhập vào gia phả của các bậc thánh trong Phật giáo. Có mười loại trói buộc (saị yojan ni, kiết sử), đó là, j quan niệm sai lầm về nhân tính (sakk ya-diỉ ỉ hi, thân kiến), k nghi hoặc (vicikicch ), l chấp các giáo điều và nghi thức như là phương tiện giải thoát (s? labbata-par m sa, giới cấm thủ), m khao khát khoái lạc giác quan (k ma-r ga, tham dục), hiềm hận (vy p da), o tham ái cảnh hiện hữu vật chất (r‰ pa-r ga, sắc ái), p tham ái cảnh hiện hữu phi vật chất (ar‰ pa-r ga, vô sắc ái), q cống cao, tự phụ (m na, mạn), r không an định (uddhacca) và s vô minh (avijj ). Năm trói buộc đầu được gọi là "các trói buộc thấp" (hạ phần kiết sử, pancam ni orambh giy ni saị yojan ni), trong khi năm cái sau được gọi là "các trói buộc cao" (thượng phần kiết sử, pancam ni uddhambh giy ni saị yojan ni). Gọi là các trói buộc thấp là vì năm cái đầu trói buộc chúng sanh vào các thế giới thấp kém, như thế giới của khoái lạc giác quan (k ma-loka). Tương tự, gọi là các trói buộc cao là vì năm cái sau trói buộc chúng sanh vào thế giới cao hơn đó là thế giới sắc thể (r‰ pa-loka) và thế giới vô sắc thể (ar‰ pa-loka). Trong các trói buộc này, khoái lạc giác quan (k macchanda), hiềm hận (vy p da), không an định và mê muội (uddhacca-kukkucca), nghi hoặc (vicikicch ), cộng với hôn trầm và thuỳ miên (th? na-middha) tạo thành năm phiền não (n? vara?a).

Tuỳ theo mức độ toàn thiện đạo đức, có hai loại thánh nhân chính (ariyapuggala / ariyas vaka), đó là, bậc còn phải huấn luyện tâm linh (sekha, hữu học) và bậc đã hoàn tất huấn luyện tâm linh (asekha, vô học). Bậc còn huấn luyện tâm linh (sekha) là những hành giả còn phải trau gồi đạo đức, thiền định và trí tuệ, để đạt được quả A-la-hán, trong khi bậc đã hoàn tất sự huấn luyện (asekha) đã đạt được mức độ toàn thiện về ba huấn luyện này (t? su sikkh su sikkhit ). Phối hợp với gia phả bốn thánh nhân, bậc còn phải huấn luyện tâm linh (sekha) bao gồm ba hạng đầu, trong khi trong gia phả tám thánh nhân, bậc còn phải huấn luyện tâm linh bao gồm bảy hạng đầu. Tương tự, bậc đã hoàn tất huấn luyện tâm (asekha) là bậc A-la-hán, bậc thánh theo đúng nghĩa, cả trong gia phả bốn thánh nhân và tám thánh nhân. Đối với bậc A-la-hán, "sanh đã bị phá vỡ, đời sống thánh đã hoàn thành, những gì cần làm đã làm xong và không còn tái sanh nữa."

Do diệt trừ ba trói buộc đầu thông qua con đường của bậc dự vào dòng thánh (Sot patti magga), vị hành giả được gọi là bậc vào dòng thánh nhân (Sot panna), và sự chứng đắc của vị ấy được gọi là quả vào dòng thánh (Sot patti-phala). Tương tự, do diệt trừ ba trói buộc đầu và một vài mức độ của hai trói buộc kế, đó là, khoái lạc giác quan và hiềm hận, thông qua con đường của bậc chỉ trở lại một lần (Sakad g m? magga), vị hành giả trở thành bậc trở lại một lần (Sakad g m? ), và sự chứng đắc của vị ấy được gọi là quả trở lại một lần (sakad g mi-phala). Nhờ diệt trừ toàn bộ năm trói buộc thấp (pancam ni orambh giy ni saị yojan ni), thông qua con đường của bậc không còn trở lại (An g m? magga), vị hành giả trở thành bậc không còn trở lại (An g m? ), và sự chứng đắc của vị ấy được gọi là quả không còn trở lại (An g mi-phala). Nhờ diệt trừ năm trói buộc cao (pancam ni uddhambh giy ni saị yojan ni), tức năm trói buộc cuối cùng, thông qua con đường của bậc A-la-hán (Arahantta magga), vị hành giả trở thành bậc giác ngộ hay bậc A-la-hán (Arahant), và quả chứng đắc của vị ấy được gọi là quả giác ngộ hay quả A-la-hán(Arahatta-phala). Như vậy gia phả của tám thánh nhân được phân thành bốn cặp: đó là bốn quả và bốn hướng. Trong một ẩn dụ đặc biệt, đức Phật đã so sánh bốn bậc thánh với hình ảnh của hoa sen và hành giả. Bậc dự vào dòng thánh được ví với vị hành giả bất động, bậc trở lại một lần với hành giả hoa sen xanh, bậc không trở lại với hoa sen trắng và bậc A-la-hán là bậc thánh cao nhất.

III. BẬC DỰ VÀO DÒNG THÁNH (SOT€ PANNA)

Tình trạng của bậc dự vào dòng thánh

Trong ý nghĩa giải thoát, có hai loại dòng (sota): đó là dòng luân hồi (saị s ra) và dòng niết-bàn (nibb na). Dòng luân hồi còn được gọi trong kinh điển Phật giáo là thác lũ (ogha) của khoái lạc giác quan (k mogha, dục lậu), của tái hiện hữu (bhavogha, hữu lậu), của quan điểm sai lạc (diỉ ỉ hogha, kiến lậu) và thác lũ vô minh (avijjogha, vô minh lậu). Dòng luân hồi sẽ chảy vào các cảnh giới ma quỷ, thú vật và đọa xứ, trong khi dòng pháp(dhammasota) sẽ đưa hành giả thực nghiệm tâm linh đến bờ bên kia (p raị / p raơ gata), hay chảy vào niết-bàn, cũng như nước của trăm sông tuôn về biển cả. Bậc dự vào dòng thánh (Sot panna) là bậc bắt đầu lội vào dòng niết-bàn, lội ngược dòng luân hồi, và được định nghĩa như là bậc đã diệt trừ ba trói buộc đầu, đó là, quan niệm sai lầm về nhân tính (sakk ya-diỉ ỉ hi, thân kiến), nghi hoặc (vicikicch ), và chấp vào giáo điều và nghi thức như là phương tiện giải thoát (s? labbata-par m sa, giới cấm thủ). Nhờ nhổ sạch gốc rễ của ba trói buộc này, vị ấy đã đứng vững trên con đường của bậc thánh, không bao giờ bị thối chuyển, và đã đóng bít các cánh cửa tái sanh vào ngạ quỷ, thú vật, đoạ xứ hay những cảnh giới hiện hữu thấp kém, và chắc chắn sẽ chứng đắc giải thoát.

Quan điểm sai lầm về nhân tính (sakk ya-diỉ ỉ hi) là những chủ trương cho rằng năm nhóm nhân tính tâm vật lý (pa– cakkhandh ), như thân thể (r‰ pa), cảm giác (vedan ), ý niệm hóa (sa– –  ), hoạt động tâm (saơ kh r ) và thức phân biệt (vi– –  ?a), là đồng nhất với một thực tại bản ngã thường hằng, hay cho rằng chúng chứa đựng, hoặc được chứa đựng trong thực tại bản ngã đó. Quan điểm sai lầm này dẫn đến ba hình thái lầm nhận bản ngã khác, đó là, "cái này là của tôi" (etaị mama), "cái này là tôi" (eso’ ham asmi) và "cái này là bản ngã của tôi" (eso me att ). Quan niệm nhân tính sai lầm này bám rễ ở nhận thức đi ngược lại các chân lý "tất cả những gì duyên khởi tương thuộc là không thường còn" (sabbe saơ kh r anicc , chư hành vô thường), "tất cả những gì duyên khởi tương thuộc dẫn đến không thỏa mãn hay đau khổ"(sabbe saơ kh r dukkh , chư hành thị khổ) và "tất cả mọi sự vật hiện tượng là không thực thể, vô ngã" (sabbe dhamm anatt , chư pháp vô ngã).

Nghi hoặc (vicikicch ) bao gồm năm thái độ hoài nghi về đức Phật, giáo pháp giải thoát của Phật, đoàn thể tu sĩ Phật giáo, đời sống đạo đức và sự độ lượng. Chúng được gọi là năm trói buộc hay chướng vật của tâm. Nghi hoặc về đức Phật là thái độ hoài nghi về sự toàn thiện của đức Phật về đạo đức và trí tuệ. Người sống với nghi hoặc này sẽ không tin rằng đức Phật không còn các khổ đau nội tại, đã diệt trừ sạch các dòng chảy bất thiện và bất tịnh của tâm, luôn phát triển tối đa các hành vi thiện ích cho đời, sống với trí tuệ không chấp trước. Hoài nghi về con đường giải thoát của Phật là một thái độ không nhìn thấy được bản chất giải thoát, thiết thực hiện tại, sâu kín thâm diệu của những lời Phật dạy. Hoài nghi về đoàn thể tu sĩ Phật giáo là thái độ không tin vào sự chuyển hóa về đời sống đạo đức và trí tuệ của các hành giả tu sĩ Phật giáo. Hoài nghi về đời sống đạo đức là thái độ cho rằng luân lý và đạo đức không thể hướng đến đời sống thánh thiện hay ý nghĩa. Và hoài nghi về sự độ lượng là thái độ không thừa nhận giá trị đạo đức và xã hội của các hành vi bố thí, cúng dường, giúp đỡ hay ban tặng, nói chung giá trị của các hành vi công đức hay từ thiện xã hội. Nhìn chung các nghi hoặc này không có lợi cho đời sống đạo đức, và ngăn bít con đường phát triển tâm linh và chứng đắc giải thoát.

Phân loại bậc dự vào dòng thánh

Có ba bậc dự vào dòng thánh, đó là, bậc phải trải qua tối đa là bảy lần tái sanh (sattakkhattuị parama), bậc chỉ tái sanh hai ba lần (kolaị kola) và bậc chỉ trở lại một lần rồi chứng thánh quả(ekab? j? ). Có nghĩa là mức độ và cấp bậc phát triển đạo đức, thiền định và trí tuệ trong tỉnh thức và diệt trừ các trói buộc (saị yojaya) sẽ làm cho giai đoạn tu tập trở nên ngắn hay dài. Kinh điển nguyên thủy ghi chép rằng thời gian bảy lần tái sanh không phải là thời gian cố định cần thiết. Tuỳ thuộc vào mức độ nỗ lực và hành trì của hành giả mà thời gian tu tập có thể rút ngắn lại ngay trong đời sống hiện tại này, để chứng được quả A-la-hán. Đó là lý do mà kinh điển ghi bằng cách diệt trừ ba trói buộc, bậc dự vào dòng thánh chỉ phải tái sanh "tối đa" bảy lần trong thế giới chư thiên và loài người để chận đứng hoàn toàn dòng luân hồi. Trong phần lớn các trường hợp, nhờ diệt trừ ba trói buộc, bậc dự vào dòng thánh sẽ tái sanh trong gia đình thiện (kolaị kolo) và chỉ tái sanh một hai lần là có thể chấm dứt toàn bộ đau khổ. Trong các trường hợp khác, bậc dự vào dòng thánh chỉ tái sanh làm người một lần thôi là có thể chứng quả A-la-hán, từ giả vĩnh viễn mọi khổ đau. Nói cách khác, thời gian không phải là yếu tố quyết định sự chứng ngộ. Thay vào đó, nỗ lực thực nghiệm tâm linh qua thiền định là yếu tố chủ não của con đường giải thoát và giác ngộ.

Vị trí đạo đức và trí tuệ của bậc dự vào dòng thánh

Bậc dự vào dòng thánh đã hoàn toàn dứt được năm sợ hãi và sầu bi phát sanh từ các hành vi bất thiện như giết hại mạng sống, trộm cướp, đời sống tình dục, lời nói sai sự thật và rượu cũng như các kích thích tố có hại cho tâm trí và thể chất. Bậc dự vào dòng thánh là người tuệ tri được nguồn gốc duyên khởi và tương thuộc (paỉ iccasamupp da) của thế giới (loka).

Có bốn niềm tin bất động của bậc dự vào dòng thánh (catt ri sot pattiyaơ g ni). Đó là j niềm tin bất động vào đức Phật, k niềm tin bất động vào con đường giải thoát của Phật, l niềm tin bất động vào thánh tăng m niềm tin bất động vào đời sống đạo đức sẽ dẫn đến thiền định (sam dhi). Bốn niềm tin chân chánh này còn được gọi là tấm gương của đạo đức hay chân lý (dhamm d sa). Về đức Phật, bậc dự vào dòng thánh tin tưởng với trí tuệ rằng đức Phật là chủ đề của thiền quán (buddhagu? ramma? a). Bậc dự vào dòng thánh tin đức Phật là j Như Lai (Tath gata), k Bậc A-la-hán đáng tôn kính (arahati) do đã bẻ gẫy (hanati) các gộng (ar ) của bánh xe tái sanh, l bậc giác ngộ viên mãn (Samm sambuddha), m bậc trí tuệ và đạo đức trọn vẹn (Vijj cara?a sampanna), n bậc đã chấm dứt luân hồi (Sugata), o bậc tuệ tri được thế giới (Lokavid‰ ), p bậc huấn luyện loài người (Anuttara purisa damma s rathi), q bậc thầy của thần linh và con người (satth devamanuss naị ), r bậc giác ngộ (Buddha), và s bậc Thế Tôn (Bhagavant).

Về con đường giải thoát của đức Phật, bậc dự vào dòng thánh tin rằng đó là giáo pháp j được giảng dạy một cách thiện xảo (sv kkh ta), k mang lại kết quả thiết thực trong đời (sandiỉ ỉ hika), có giá trị siêu thời gian (ak lika), m mời gọi sự đến và thấy (ehipassika), n hướng đến cao thượng (opanayika), và o và được bậc trí đã kinh nghiệm và công nhận (paccattaị veditabbo vi– – ‰ hi). Bậc dự vào dòng thánh nhận thức được rằng giáo pháp của Phật (dhamma) rất thâm sâu, khó thấy, khó hiểu, siêu tuyệt, vượt khỏi logic, vi diệu, thù thắng.

Giáo pháp của đức Phật được tóm gọn trong 37 yếu tố hướng đến giác ngộ (bodhipakkhiyadhamma), bao gồm 4 cơ sở chánh niệm (catt ro-satipaỉ ỉ h n ), 4 nỗ lực chân chánh (catt ro sammappadh na), 4 thần túc (catt ro iddhip d ), 5 căn (pa– cindriy ni), 5 năng lực (pa– cabal ni), 7 yếu tố giác ngộ (sattabojjhanga) và 8 đường thánh (ariyo atthangiko maggo). Về cộng đồng tu sĩ thánh, bậc dự vào dòng thánh tin rằng đó là cộng đồng có đời sống đạo đức, hành vi trí tuệ, đi trên đường chân chánh, bao gồm tám thánh nhân, xứng đáng được tôn kính và quy ngưỡng và là ruộng phước của đời. Về bản chất của đời sống đạo đức, bậc dự vào dòng thánh tin rằng đạo đức (s? la), không tỳ vết, không gián đoạn chắc chắn sẽ dẫn đến thiền định và trí tuệ và luôn được bậc trí khen ngợi. Về sự độ lượng (c ga), bậc dự vào dòng thánh tin rằng đó là hành vi giúp cho con người cởi bỏ được thái độ tham lam, bỏn xẻn, vị kỷ, hướng đến tâm vị tha, không chấp thủ sở hữu, sẵn sàng ban tặng, giúp đỡ và chia xẻ sở hữu của mình cho người khác. Với những niềm tin (saddh ) đầy trí tuệ này, bậc dự vào dòng thánh (sot panna) được mô tả là bậc đã nắm vững chánh pháp (diỉ ỉ hadhammo pattadhammo viditadhammo pariyog ?hadhammo), vượt khỏi hoài nghi và thiếu niềm tin (ti– – avicikccho vigatakathaị katho) và chắc chắn không còn lui sụt trên đường giác ngộ (niyato sambodhipar ya?o). Trong các bài kinh khác, bốn điều kiện này được lập lại với vài thay đổi, nhất là điều kiện sau cùng. Ở đây, niềm tin về đời sống đạo đức được thay thế bằng sự độ lượng.

Có vài điều kiện nhất định mà bậc dự vào dòng thánh phải thực hiện để dự vào dòng niết-bàn. Đó là thân cận các bạn tri thức thiện (kaly ? amittat ), ứng dụng tâm vào các chủ đề thiền quán liên hệ đến giáo pháp (dhamm nudhamma-paỉ ipatti) và thực hành đường thánh gồm tám yếu tố (ariya-aỉ ỉ haơ gika-magga), như quan niệm chân chánh (samm diỉ ỉ hi), tư duy chân chánh (samm saơ kappa), lời nói chân chánh (samm v c ), hành vi chân chánh (samm kammanta), nghề nghiệp chân chánh (samm - j? va), nỗ lực chân chánh (samm -v y ma), chánh niệm (samm sati) và chánh định (samm -sam dhi).

Ngoài ra, bậc dự vào dòng thánh đang trên đường hoàn thiện đời sống đạo đức và trí tuệ bằng thiền định. Vị ấy tuệ tri nguyên lý duyên khởi tương thuộc (paticcasamupp da) của mọi sự vật (dhamm ). Vị ấy nhận chân rõ bốn chân lý thánh. Vị ấy được gọi là hành giả bất động, một trong tám thành viên của gia phả thánh. Vị ấy làm chủ và không bao giờ vi phạm các nghiệp giết hại, nói láo, trộm cướp, hoạt động tình dục, và rượu chè hút sách.

Bậc dự vào dòng thánh thường thực hiện sáu loại thiền quán (sa– – a) tạo thành trí tuệ (cha vijj bh giye dhamme). Đó là quán tưởng về vô thường (anicca) của các vật hữu vi (saơ kh r ), quán tưởng về khổ (dukkha) trong sự vô thường, quán về sự không thực thể hay vô ngã (anatta), quán về sự từ bỏ, quán về sự xả ly, ly tham và niết-bàn.

Như là kết của sự chứng đắc, bậc dự vào dòng thánh (sot panna) đã vĩnh viễn khép lại các cánh cửa tái sanh vào ma quỷ, thú vật, đoạ xứ, hay các cảnh giới bất thiện. Vị ấy không bao giờ bị thối thất trong con đường giác ngộ, chắc chắn đạt được sự giác ngộ và giải thoát ở đời này hay tương lai. Vị ấy không còn sợ hãi cái chết. Vị ấy chỉ phải tái sanh tối đa 7 lần (sattakkhattu-parama) trong các cảnh giới thiện. Vị ấy được mệnh danh là người được liệt vào gia phả thánh (kolaơ kola) chỉ phải sanh đôi ba lần. Vị ấy chỉ phải tái sanh một lần (ekab? j? ) để chấm dứt mọi đau khổ. Giá trị của quả dự vào dòng thánh là "hơn hẳn các bậc trị vì trái đất, hơn hẳn được sanh về cõi trời và hơn hẳn các bậc chúa tể của các thế giới."

Cần nói thêm rằng giai đoạn tiền dự lưu trong tiến trình chuyển hóa tâm linh dẫn đến niết-bàn được gọi là thành viên của gia phả thánh (gotrabh‰ ). Thành viên của gia phả thánh có thể là người cư sĩ hay vị tu sĩ, sống đời không đam mê khoái lạc thế gian(puthujjana) và đã hoà nhập vào đời sống của các bậc thánh (ariya). Người phàm (puthujjana), có thể trở thành thành viên thánh, nếu vị ấy chịu phát huy các đức tánh đạo đức thiện. Nói cách khác quả vị giác ngộ không phải là đặc ân dành cho đệ tử Phật, mà là thành quả của những ai nỗ lực chân chánh để thành Phật.

IV. BẬC TRỞ LẠI MỘT LẦN (SAKAD€ G€ M… )

Bậc trở lại một lần (Sakad g m? ) được định nghĩa là thành viên thánh, người đã chấm dứt trọn vẹn ba trói buộc đầu (saị yojan ni) và giảm thiểu tối đa hai trói buộc kế tiếp, đó là, đam mê khoái lạc giác quan (k ma-r ga) và hiềm hận (vy p da), và là vị chỉ phải sanh lại đời này một lần nữa là có thể tạ từ sanh tử và khổ đau.

Vị ấy huấn luyện mình trong các nguyên tắc đạo đức. Người như vậy do diệt trừ ba trói buộc sẽ chỉ phải tái sanh tối đa bảy lần nữa trong cõi trời và người và sau cùng sẽ dứt sạch đau khổ. Hoặc người như vậy sau khi diệt trừ bao trói buộc sẽ trở thành người chỉ phải tái sanh một lần [ekab? j? ] là có thể diệt hết đau khổ. Vị ấy nhờ diệt trừ ba trói buộc và làm giảm thiểu tầm hoạt động của tham dục [rago], sân hận [dosa] và vô minh [moha], trở thành vị trở lại một lần để chấm dứt các đau khổ.

Theo đoạn kinh trên, con đường của bậc trở lại một lần bắt đầu bằng sự diệt trừ trọn vẹn ba trói buộc và có những tiến bộ tâm linh và đạo đức nhất định về đam mê khoái lạc giác quan (k mar go) và hiềm hận(vy p do).

Trong quá trình chứng đắc của ba con đường giác ngộ cao hơn, tiến triển và sự tiến hóa tâm linh cũng khởi đầu giống như người chứng được quả dự vào dòng thánh này. Nghĩa là mỗi con đường chứng ngộ cao hơn có thể đạt được một cách thứ tự từ thấp đến cao, để trở thành một bậc thánh thật sự.

V. BẬC KHÔNG CÒN TRỞ LẠI (AN€ G€ M… )

Tình trạng của bậc không còn trở lại

Quả vị thánh thứ ba là bậc không trở lại sanh tử (An g m? ), được định nghĩa như là người đã nhổ sạch gốc rễ của năm trói buộc thấp (pancam ni orambh giy ni saị yojan ni), đó là, quan niệm sai lầm về nhân tính (sakk ya-diỉ ỉ hi), hoài nghi (vicikicch ), cho rằng giáo điều và nghi lễ là phương tiện của giải thoát (s? labbata-par m sa), đam mê khoái lạc giác quan (k ma-r ga), hiềm hận (vy p da). Năm kiết sử này là những phiền não trói buộc con người vào những thế giới thấp kém. Thoát khỏi chúng, vị hành giả sẽ có thể tái sanh cõi trời tịnh cư (suddh v sa) và khi qua đời tại đó, không còn sanh tử trên cõi đời này nữa. Nói cách khác, vị không trở lại sanh tử là bậc thánh không còn trở lại đời sống của thế giới khoái lạc giác quan (k madh tu), giải phóng mình khỏi các đam mê sắc dục (k mayoga) và gần kề với cứu cánh của sự chứng ngộ quả A-la-hán. Sau khi mãn phần ở cõi đời, vị ấy có thể tái sanh vào một trong những cõi trời cao nhất và chứng đắc đạo quả A-la-hán tại đây. Tuy nhiên, bậc không trở lại này vẫn còn phải chịu sự hiện hữu (bhavayoga) do sự diệt trừ phiền não ( sav ) chưa đến mức rốt ráo.

Sự trói buộc của dục lạc (k mayoga) còn gọi là sự đam mê khoái lạc thân xác (k macchanda) là sự đam mê về năm dục lạc của đời (pa– ca k magu?a), đó là, vật thể đẹp do mắt nhận thức, âm thanh hay do tai nhận thức, mùi dễ chịu cho mũi ngửi, vị ngon do lưỡi nếm, vật êm ái do thân xúc chạm. Hàng phàm phu xem những thứ này là khả lạc, khả ái, khả hỷ và thậm chí như những hình thái hạnh phúc cao nhất mà con người có thể đạt được trên đời này. Nhưng trên thực tế, đó là thứ hạnh phúc thấp nhất, so với hạnh phúc của thiền định và niết-bàn. Sợi dây trói buộc của khoái lạc giác quan là một thể hiện của tham (lobha / r ga) và hình thức khác của tham ái (taơ h ), đóng chức năng như là phiền não chính của tâm và gây ra đau khổ. Cũng như các hiện tượng khác, các dục lạc đều mang tính chất của điều kiện nhân quả. Chúng được ba nhóm hành vi bất thiện của thân, miệng và ý điều khiển và chi phối. Các hành vi bất thiện này phát sanh từ sự không kềm chế và làm chủ hoạt động của các quan năng cảm giác. Sự không làm chủ các giác quan lại do thiếu chánh niệm và tỉnh giác. Mất chánh niệm và tỉnh giác trong cuộc sống là thiếu thái độ nhận thức sự vật như chúng là. Tiến trình duyên khởi của các bất thiện này được mô tả trong kinh Tương Ưng(Saị yutta-Nik ya) rằng thực phẩm cho sự phát sanh các trói buộc của khoái lạc giác quan chưa sanh và làm lớn mạnh các trói buộc đã sanh là "đặc điểm đẹp của các sự vật và thái độ quan sát sự vật không đúng với bản chất của chúng (ayoniso manasik ra, không như lý tác ý). Nói cách khác, do vắng mặt thái độ nhận thức sự vật như chúng là (yoniso manasik ra), con người đánh mất tự chủ tâm mình trước các vẻ đẹp quyến rũ của các sự vật, đã làm cho các giác quan chạy theo và vướng mắc vào các đối tượng của chúng, tìm kiếm khoái lạc qua thân, lời nói và ý tưởng.

Hiềm hận (vy p da) thường được thể hiện qua các thái độ và hành động chống trả, bức chế, đàn áp, tranh chấp, đấu tranh, tiêu diệt các sự vật không khả ái, khả lạc và khả hỷ. Nó là một hình thái của sân (dosa) vốn là một trong ba gốc rễ của các động cơ và hành vi bất thiện. Cũng như trói buộc các khoái lạc giác quan, như đức Phật trình bày, đặc tính không đẹp của sự vật và thái độ nhận thức không phù hợp với bản chất của sự vật như chúng là, là hai thực phẩm nuôi sống sự sanh khởi của các hiềm hận chưa sanh, và phát triển các hiềm hận đã sanh.

Đức Phật đã so sánh trói buộc của khoái lạc giác quan với con nợ và hiềm hận với con bệnh và giải thoát khỏi trói buộc khoái lạc giác quan và giải thoát khỏi hiềm hận được ví như hết nợ và hết bệnh. Trong kinh Tương Ưng, đức Phật đã sánh ví trói buộc của khoái lạc giác quan với tô nước bẩn trong khi hiềm hận như tô nước đang sôi. Người nhìn vào đó không thể thấy rõ được gương mặt của mình. Nói khác đi, khi tâm con người bị các trói buộc của khoái lạc giác quan và hiềm hận chi phối và ám ảnh sẽ không có thể nhận biết và tuệ tri được các đặc tính tốt của mình, của người và của cả hai.

Theo đức Phật, trói buộc khoái lạc giác quan sẽ bị diệt trừ nhờ vào sự phát triển thái độ nhận sự vật đúng với bản chất của chúng (yoniso manasik ra) và sự giải thoát nội tại nhờ vào lòng từ bi (mett cetovimutti). Khi chi tiết hoá, các trói buộc này được diệt trừ bằng cách phát triển đời sống ẩn dật (viveka) của thân (k yaviveka), của tâm ý (cittaviveka) và ẩn dật kiềm chế (vikkhambha? aviveka). Yếu tố đầu tiên của tiến trình tu tập phát triển đời sống tâm linh là rút lui các căn khỏi sự vướng bận của chúng đối với các đối tượng thế giới. Kế đến là sự rút lui của các hoạt động nội tâm về các phiền não và lậu hoặc. Thứ ba là phát triển thái độ từ bỏ (pah na), chẳng hạn như từ bỏ nhờ khống chế (vikkhambhanappah naị ), từ bỏ nhờ thay thế các phương tiện đối lập (tadaơ gappah naị ), từ bỏ bằng cách chặt đứt (samucchedappah naị ), từ bỏ nhờ đời sống an tĩnh (paỉ ippassaddhippah naị ) và từ bỏ bằng sự giải thoát (nissaranappah naị ).

Trình bày một cách khác là, các trói buộc của khoái lạc giác quan có thể được đoạn trừ bằng cách thực hành thiền định về các chủ đề bất lợi và xấu xa của thân xác, về thiền định làm chủ các quan năng cảm giác, về sự huân bình trong các nhu cầu, trong khi đó, hiềm hận có thể được trừ diệt bằng cách hành trì thiền định về các chủ đề từ bi, thông cảm, tuỳ hỷ, ủng hộ người tốt việc tốt, gần gủi người thiện v.v. . . Nói chung, chúng ta có thể vượt qua hai trói buộc này bằng cách thực hành bốn cơ sở của chánh niệm (samm sati), đó là chánh niệm về các hoạt động của thân (k y nupassan ), của các cảm giác (vedan nupassan ), của tư tưởng (citt nupassan ) và của những ý niệm của tâm (dhamm nupassan ).

Phân loại bậc không trở lại sanh tử

Trong kinh điển nguyên thủy, có tất cả năm loại hình các bậc không trở lại sanh tử là:

j Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bàn trong nửa đời người đầu (antar parinibb y? ),

k Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bàn trong nửa đời người sau (upahacca parinibb y? ),

l Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bànmột cách không cần dụng công (asaơ kh ra parinibb y? ). Kinh Tăng Chi(Aơ guttara Nik ya)đề cập hạng hành giả này do ý thức và quán chiếu về sự bất tịnh của thân, sự vô ngã của các sự vật, sự vô thường của thế giới, sự giả tạm của cuộc đời, và tất cả phải chết, nên đã phát triển được năm năng lực và năm căn.

m Người đã chặt đứt dòng hoạt động của năm trói buộc cao và chứng đắc niết-bànvới nhiều nỗ lực và khó khăn (sasaơ kh ra parinibb y? ), và

n Người đã lội ngược dòng để chứng đạt trạng thái [giải thoát] cao nhất (uddhaị soto akaniỉ ỉ hag m? ).

VI. BẬC A-LA-HÁN

Tình trạng đạo đức và trí tuệ của A-la-hán

Bậc A-la-hán được định nghĩa là người không còn các trói buộc khoái lạc giác quan (k mayoga) trói buộc tái hiện hữu (bhavayoga) và các dòng chảy lậu hoặc của tâm đã khô cạn ( sav naị khaya). Sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc ( sav naị khaya) hay giải thoát lậu hoặc (an sava) sẽ dẫn đến sự chứng đạt giải thoát tâm (cetovimutti), và giải thoát bằng trí tuệ (pa– –  vimutti) và chứng đạt được trí tuệ siêu việt (abhi– –  ) ngay trong đời hiện tại này (diỉ ỉ hevadhamme).

Bậc A-la-hán đã hoàn tất ba huấn luyện cao cấp về tâm linh (t? su sikkh su sikkhit ) đó là sự huấn luận về đạo đức cao thượng (adhis? la), thiền định cao thượng (adhicitta) và trí tuệ siêu việt (adhipa– –  ). Bậc A-la-hán đã hoàn thành đời sống thánh thiện (yo s ro brahmacariyassa tasmim aparapaccay ) và không còn bị tái sanh trong tương lai (vippamutt punabbhav )." A-la-hán là bậc không còn bị dao động (akopya) trong các biến cố của đời. A-la-hán là bậc chiến thắng (vijit vino) tất cả các khuynh hướng bất thiện và xấu ác (anusay ).

A-la-hán là người đã đạt được lý tưởng hoàn thiện đạo đức và trí tuệ trong Phật giáo nguyên thủy. Do hoàn thiện đạo đức, bậc A-la-hán sẽ không còn các hoạt động cố ý giết hại, lấy của không cho, nói sai sự thật, quan hệ tình dục và uống rượu hút sách.Trong suốt cuộc đời vị A-la-hán đã vĩnh viễn từ bỏ nghiệp sát hại chúng sanh, đã từ bỏ các loại vũ khí, là người tràn đầy tình thương, trí tuệ, chân thành và làm lợi ích cho đời. Hoạt động của bậc A-la-hán luôn mang lại hạnh phúc và lợi ích cho con người và các loài hữu tình khác, phù hợp với luật đạo đức.

Bậc A-la-hán là người đã chặt đứt hoàn toàn các trói buộc của hiện hữu (parikkh? ?abhava-saị yojana). Có tất cả mười trói buộc của hiện hữu như đã đề cập bên trên. A-la-hán không còn dòng chảy của các lậu hoặc (kh? ? savo) như khoái lạc giác quan (k m savo // k m srava), tái hiện hữu (bhav savo // bhav srava), quan điểm sai lầm (diỉ ỉ h sava // d??ỉ  srava), và vô minh (avijj savo // avidy srava). Các lậu hoặc này là những thác lũ (ogha). Đức Phật cũng được định nghĩa là người chỉ con người vượt thoát các thác lũ (oghassa nitthara?aị pa– –  penti), một con đường vượt xa giáo pháp của các sa-môn (sama?a) và bà-la-môn (brahma?a) thời bấy giờ. Ngay thời Phật còn sống, sự thanh tịnh đạo đức (s? la) và khổ hạnh ép xác (tapo-jiguccha) là hai cách để vượt qua (pat reti) thác lũ (ogha) của các hành giả Bà-la-môn. Đức Phật không tán thành lối hành trì này, bởi lẽ theo ngài, đời sống đạo đức đơn thuần không thể làm cho con người trở thành thánh, mặc dù đây là yếu tố quan trọng trong tiến trình thánh hóa bản thân. Đời sống đạo đức phải được song hành với sự phát triển thiền định chân chánh (samm sam dhi), tuệ trí chân chánh (samm -–  ?a) và giải thoát chân chánh (samm -vimutti). Trong khi đó, phương pháp khổ hạnh hành xác (tapo-jiguccha) không thể nào giúp hành giả vượt thoát khỏi thác lũ của tâm, và càng không thể giúp ta đạt được trí tuệ hay tuệ giác, ngoại trừ làm cho thân thể ngày càng yếu đi và tinh thần ngày càng mê loạn.

Bậc A-la-hán đã chứng đạt được mục đích giải thoát tối hậu. Vô minh, tái sanh, tham ái, các trói buộc, sợ hãi, sầu lo và thái độ "tôi-là" đã hoàn toàn không còn sự sống trong bậc A-la-hán. Trong mọi tư thế đi, đứng, nằm, ngồi, co duỗi, ăn mặc, xem nhìn, thức và ngủ v.v. . . vị A-la-hán luôn thể hiện tỉnh giác. A-la-hán được gọi là vị có tâm kim cương và là bậc đã chứng đạt niết-bàn, một trạng thái an lạc tuyệt đối của tâm. Có thể nói rằng, trong bậc A-la-hán, sự giác ngộ (bodhi), giải thoát (vimutti) và niết-bàn (nibb na) là một. Cần lưu ý rằng giải thoát khỏi đau khổ không có nghĩa là sự chấm dứt vĩnh viễn sự sống. Giải thoát là thoát khỏi đau khổ trong vòng sanh tử triền miên. Niết-bàn là trạng thái an lạc siêu thời gian của tâm, do tâm đã vắng mặt hoàn toàn các đau khổ.

Phân loại bậc A-la-hán

Có nhiều loại A-la-hán cũng như có nhiều con đường dẫn đến sự chứng đắc giác ngộ. Do có hai cách thức mà một hành giả chứng đắc được quả A-la-hán nên có hai loại A-la-hán chính được biết đến là bậc giải thoát bằng hai cách (ubhatobh gavimutta) và bậc giải thoát nhờ trí tuệ (pa– –  vimutta).Loại A-la-hán đầu là vị đã diệt trừ toàn bộ các phiền não lậu hoặc của tâm thông qua tám giải thoát (vimokkh ) và chứng đạt được trí tuệ (pa– –  ), trong khi loại A-la-hán sau là người chứng thánh do thực hành con đường bốn cấp độ thiền định đầu (jh na) mà không cần vận dụng đến các cấp độ thiền định kế và tám giải thoát (vimokkh ).

Giáo sư N. Dutt trình bày rất rõ ràng rằng sau giai đoạn quả dự vào dòng thánh (Sot panna), một vị thành tín (saddh nus r? ) sẽ được tôn xưng là bậc giải thoát nhờ chánh tín (saddh nus r? ) hay bậc thân chứng (k yasakkh? ) vì khi thực hành thiền định cao hơn vị ấy nhận ra được trạng thái định tĩnh nội tại bằng hai cách tâm linh và vật lý, và bắt đầu tiến trình giải thoát tâm linh với tâm giải thoát (cetovimutti) và kết thúc bằng tuệ giải thoát (pa– –  vimutti) và bấy giờ vị ấy được gọi là bậc giải thoát bằng hai cách (ubhatobh gavimutta). Bậc theo đuổi chân lý (dhamm nus r? ) còn được gọi là vị bậc chứng đạt chánh kiến (diỉ ỉ hippatta) bởi do sự tiếp tục dấn thân vào học hỏi triết lý hơn là thiền định cao cấp, bắt đầu con đường giải thoát bằng tuệ giải thoát và kết thúc bằng tâm giải thoát và do vậy được gọi là vị chứng đắc giác ngộ nhờ trí tuệ (Pa– –  vimutta). Như vậy, A-la-hán có thể là người chứng đắc giác ngộ bằng trí tuệ (pa– –  vimutta), nếu vị ấy không trải qua giai đoạn an trú và thọ hưởng 8 giải thoát (vimokkh ) và không kinh qua các cấp độ thiền định vô sắc giới (ar‰ pa-jh na); và cũng có thể là người giải thoát bằng hai cách (ubhatobh gavimutta) nếu vị ấy an trụ và thọ hưởng 8 giải thoát (vimokkh ).

Cần nói thêm rằng tiến trình và cách thức mà một hành giả trở thành bậc A-la-hán luôn luôn khác nhau tuỳ thuộc vào căn cơ của từng người. Có nhiều vị chứng quả A-la-hán sau khi hoàn tất sự huấn luyện về đạo đức và trí tuệ mà thuật ngữ Phật giáo thường gọi là bậc vô học (asekha).Có nhiều vị do có niềm tin bất động về Ba Ngôi Báu và nhờ vào trí tuệ hân hoan và trí tuệ năng hoạt (h supa– – a javanapa– – a) mà chứng đắc giác ngộ. Có nhiều vị chứng A-la-hán do liên tục thực hành thiền định về bản chất của năm nhóm nhân tính tâm vật lý là không thường còn, không có thật thể và đau khổ. Cũng có hạng A-la-hán chứng ngộ đạo quả giải thoát bằng đốn ngộ sau khi nghe một bài kinh của Phật dạy, như trong kinh Trung Bộ: "và sau khi nghe kinh này, có hơn 60 vị chứng đắc, giải thoát tâm khỏi các lậu hoặc phiền não và không còn chấp thủ ở đời." Điều này cũng từng xảy ra với các vị đệ tử tại gia của Phật, chẳng hạn như Da-xá (Yasa), một thiện nam và Khem , một tín nữ đã chứng đắc giác ngộ sau khi nhận được sự chỉ dạy của đức Phật.

Điều này cho thấy rằng con đường giác ngộ không phân biệt giới tính, giai cấp, màu da, chủng tộc, tu sĩ hay cư sĩ. Bất kỳ ai sống đời đạo đức và trí tuệ theo tinh thần Phật dạy, giải thoát tâm mình khỏi các thác lũ lậu hoặc, chuyển hóa đời sống trở nên toàn diện sẽ có thể chứng đạt giác ngộ ngay đời này và tại thế gian này. Một trong những bằng chứng đó là kinh Tương Ưng ghi chép có 50 đệ tử tại gia chứng quả không còn trở lại sanh tử, và 25 vị chứng đạt niết-bàn, được ghi trong kinh Tăng Chi.

VII. A-LA-HÁN VÀ THÁI ĐỘ VÔ NGÃ

Thái độ "tôi là" chỉ là sự ngộ nhận do dựa vào các nỗ lực đồng nhất bản ngã (asmim no) với năm nhóm nhân tính tâm vật lý và đây là đầu mối của lưới bãy vô minh (mohaj la), đã hoàn toàn vắng mặt trong bậc A-la-hán. Sự hoàn thiện và chứng đắc mục đích (attha) giác ngộ (bodhi) của bậc A-la-hán không có liên hệ đến chủ nghĩa tự ngã trung tâm dưới ba hình thái: hơn, bằng và thua.

Bạch đức Thế Tôn, vị Tỳ-kheo chứng A-la-hán đã vượt qua các lậu hoặc của tâm ( sav ), đã hoàn tất đời sống thành, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã diệt trừ các trói buộc của sanh tử, đã giải thoát nhờ trí tuệ, thì đối với vị ấy thái độ sau đây sẽ không còn: "có người hơn tôi," hay "có người bằng tôi," hay "có người thua tôi."

Theo đức Phật, một bậc A-la-hán thật chứng được thánh quả sẽ không bao giờ phát ngôn liên hệ đến thái độ "Tôi-là." Thái độ nhận thức đặt trên bản ngã hay hướng về bản ngã chỉ có thể có trong tâm trí của kẻ phàm người tục, do chưa nhổ lên được vô minh, và do vậy vẫn còn phải chịu đau khổ do các phản ứng cảm xúc và chấp thủ gây ra. Nói cách khác, đối với người thật sự chứng đắc đạo quả, mọi so sánh và tham chiếu về một thực thể bản ngã thường hằng (att ) hoàn toàn không còn nữa. Ngài Phật Âm (Buddhaghosa) trình bày sự kiện vô ngã này rất rõ khi cho rằng chỉ có hạnh phúc và khổ đau nhưng không có tác nhân để kinh nghiệm cảm giác hạnh phúc và đau khổ đó; chỉ có các sự kiện về hoạt động nhưng không có một tác nhân để điều khiển các hoạt động đó; chỉ có sự kiện trên con đường giải thoát nhưng không có tác nhân du hành trên đó; chỉ có sự kiện về chấm dứt các lậu hoặc nhưng không có tác nhân để chấm dứt. Câu phát biểu của ngài như sau: "Có đau khổ nhưng không có người chịu khổ; có hành vi nhưng không có người thực hiện; có sự chấm dứt nhưng không có người chấm dứt; có con đường nhưng không có người du hành."

VIII. TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH BẬC A-LA-HÁN

Kinh điển nguyên thủy cũng còn đề cập đến tiêu chí xác định đâu là môt vị chứng đắc quả A-la-hán thật sự. Có năm tiêu chí được ghi lại trong bài kinh Chabbisodhana-Sutta, thuộc kinh Trung Bộ. Trước nhất là, bốn phán đoán (voh ra) về bản chất của sự thấy, nghe, kinh nghiệm và nhận thức được sử dụng để kiểm chứng sự chứng đắc giác ngộ. Đối với vị A-la-hán thật, khi những gì được thấy chỉ đơn thuần quan niệm là thấy, những gì được nghe chỉ quan niệm đơn thuần là nghe; những gì được kinh nghiệm chỉ đơn thuần quan niệm là kinh nghiệm và những gì được nhận thức chỉ quan niệm đơn thuần là nhận thức. Nhờ quan niệm đơn thuần sự thấy, sự nghe, sự kinh nghiệm và sự nhận thức mà bậc A-la-hán thoát khỏi các phản ứng và chấp mắc vào sự vật được thấy, được nghe, được kinh qua và được thấy. Tâm của vị A-la-hán sẽ hoàn toàn giải thoát. Nói cách khác ai vẫn còn chấp mắc vào những cái thấy, nghe, kinh nghiệm và nhận thức khi sáu giác quan tiếp xúc với sáu đối tượng của chúng không thể được gọi là bậc đã chứng đắc A-la-hán.

Thứ hai là, về phương diện của năm nhóm nhân tính chấp thủ (pa– cup d nakkhandh ), như là thân thể (r‰ pa), cảm giác (vedan ), ý niệm hóa (sa– –  ), khuynh hướng tâm (saơ kh r ) và thức phân biệt (vi– –  ?a), bậc A-la-hán "thiệt" không còn những thái độ xem đồng hóa chúng với bản ngã, chúng nằm trong bản ngã hay bản ngã nằm trong chúng. Thái độ bản ngã hay xem sự vật có một thực thể bản ngã thường hằng hoàn toàn không còn chân đứng trong nhận thức của bậc A-la-hán. Do đó mọi thái độ chấp trước về bản ngã hoàn toàn không còn.

Thứ ba là, đối với sáu yếu tố hình thành nên thế giới, như là yếu tố ngoại diên hay chất rắn (paỉ hav? -dh tu // p?thiv? -dh tu), yếu tố chất lỏng ( po-dh tu //  pa-dh tu), yếu tố nhiệt lượng (P = S tejo-dh tu), yếu tố vận động (P = S v yo-dh tu), yếu tố không gian ( k sadh tu) và yếu tố nhận thức (vi– –  ?adh tu // vij–  nadh tu), vị A-la-hán thật không bao giờ quan niệm rằng chúng là thực thể, bản ngã, linh hồn, hay cho rằng bản ngã không tuỳ thuộc vào chúng. Nói chung ý thức về các nhóm vật thể và tâm lý như là bản ngã đã không còn trong vị A-la-hán.

Thứ tư là đối với sáu quan năng cảm giác (?a? -indriy ?i // ajjhattik yatana) và sáu đối tượng giác quan (?a? - yatan ni // b hir yatana), như con mắt (cakkhu // cak?ur-indriya) và vật nhận thức (r‰ pa // r‰ pa); lỗ tai (sota // ? rotrendriya) và âm thanh (sadda // ? abda? ); lỗ mũi (gh na // ghr ?edriya) và mùi (gandha // gandha? ); lưỡi (jivh , jihvendriya) và vị (rasa // ras? ); thân thể (k ya // k yendriya) và vật xúc chạm (phoỉ ỉ habba // spar? a? ); tâm (mano // manendriya) ý tưởng (dhamma // dharma), bậc A-la-hán sẽ tuệ tri rõ rằng cái gì có đam mê, cái đó có chấp thủ, cái gì có chấp thủ cái đó có tham ái, cái gì có tham ái cái đó tạo thành tín điều, thành kiến, khuynh hướng của tâm, và bậc A-la-hánluôn chặn đứng tiến trình của chúng, để không bị chấp thủ.

Và thứ năm là, các phán đoán hay thái độ "tôi-là" chẳng hạn như "tôi là người làm," "người làm là của tôi," v.v. . . đối với bản thân và thế giới, không còn xuất hiện trong vị A-la-hán nữa. Lý do là khi nhìn thấy sự giới hạn của đời sống tại gia, vị ấy theo đuổi đời sống không gia đình, từ bỏ các nghiệp sát hại, trộm cướp, đời sống tình dục, lời nói sai sự thật, lời nói gây chia rẽ, lời nói hung dữ và ác độc, lời nói vô nghĩa, rượu chè hút sách; vị ấy cũng từ bỏ các thái độ tham dục, sân hận và si mê. Vị ấy khi quan sát con người và thế giới, không nắm giữ các đặc điểm chung và riêng của chúng, hoàn toàn làm chủ các giác quan. Vị ấy sống trong chánh niệm và tỉnh giác, trong mọi tư thế của thân như đi, đứng, nằm, ngồi, co duỗi, mặc áo quần, ăn uống, soi gương, nói chuyện, im lặng, ngủ hay thức v.v. . . Vị ấy sống trong tình trạng tâm không còn tham lam, sân hận và si mê, hôn trầm, thùy miên, trạo cử, hoài nghi. Nhận chân rõ về các khoái lạc giác quan là khổ nhiều hạnh phúc ít, và các trạng thái bất thiện của tâm gây ra đau khổ, vị ấy thiền định và an trú vào các cấp thiền thứ nhất, hai, ba, bốn và bốn cấp thiền định thuộc vô sắc giới (không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu và phi tưởng phi phi tưởng), và định không còn cảm giác và nhận thức. Tại đây, vị ấy hướng tâm về tuệ tri sự chấm dứt các phiền não và lậu hoặc.

Tương truyền rằng tôn giả A-nan cũng trình bày bốn yếu tố (aơ gehi) để xác định ai là vị A-la-hán thật sự. Theo tôn giả, nếu ai không có được một trong bốn yếu tố tu tập sau đây mà tự xưng mình đã chứng quả A-la-hán thì biết đó chỉ là sự ngộ nhận hay cống cao mà thôi. Bốn yếu tố xác định đó là:

Ở đây này các vị pháp hữu, vị tỳ-kheo phát triển tuệ quán (vipassan ) rồi đến sự an chỉ (samatha) . . . hay phát triển sự an chỉ rồi tuệ quán (vipassan pubbaơ gamaị samatha? bh veti) . . . hay phát triễn song hành tuệ quán và sự an chỉ (samathavipassanaị yuganaddhaị bh veti) . . . và khi tâm đã thật sự rõ về pháp (dhammuddhacciggah? taman hoti) vị ấy đạt được tâm chuyên nhất nhờ vậy con đường (magga) giác ngộ phát sanh. Vị ấy theo con đường ấy và phát triển thêm. Nhờ sự phát triển tối đa con đường ấy, tất cả các trói buộc của tâm tan rã, các khuynh hướng (anusay ) bất thiện (akusala) hoàn toàn chấm dứt.

Theo đoạn kinh trên, tuệ quán (vipassan ) và an chỉ (samatha) là hai yếu tố quan trọng giúp hành giả chứng đạt được sự giác ngộ và giải thoát. Phát triển tuệ quán và an chỉ hay cả hai là các phương pháp chính yếu để chứng đắc quả A-la-hán. Nói cách khác, tiêu chí xác định A-la-hán nằm ở chỗ "kiểm chứng" sự có mặt của 4 yếu tố thực nghiệm này hay không. Nếu câu trả lời là không thì các tuyên bố chứng quả A-la-hán là không có cơ sở và trở nên sai lầm. Nếu câu trả lời là có thì sự chứng đắc A-la-hán ở người đó có thể tin được. Do đó, các tranh luận cho rằng tuệ quán (vipassan ) siêu việt hơn an chỉ (samatha) hay ngược lại, không chỉ trở nên vô nghĩa về phương diện thực tiễn mà còn trở nên không thích hợp. Tuệ quán và an chỉ được xem là hai phương pháp bổ xung mật thiết cho nhau, trên tiến trình giúp cho hành giả đạt ngộ và giải thoát, do đó, thiếu một thì cái kia không tồn tại.

Chú thích:

S. I. 60.

D. I. 156.

D. III. 105, 254; M. I. 439, 477; A. I. 118; Ps. II. 52; Vism. 659. Về các bậc giải thoát nhờ chánh tín (saddh nus r? ) và bậc theo đuổi chân lý (dhamm nus r? ), xem S. V. 200f; M. I. 142.

A. II. 56; GS. II. 65: "Tăng đoàn của đức Phật gồm bốn đôi, tám chúng." Tham khảo thêm Sn. v. 227, D. III. 227; DB. III. 219; A. IV. 372.

A. IV. 292; GS. IV. 193.

A. IV. 373; A. V. 25.

D. III. 234; S. V. 61.

D. III. 234.

A. V. 13; S. V. 61; Vbh. 377.

A. I. 4; A. III. 62; A. IV. 457; A.V. 193; D. I. 246; S. V. 96; Vbh. 378.

A. I. 62.

A. III. 376: Kh? ? j ti vusitaị brahmacariyaị kataị kara?? yaị n paraị itthatt y ti. Công thức này cũng tái xuất hiện ở các kinh luật sau đây Vin. I. 14, 35, 183; D. I. 84, 177, 203; M. I. 139; M. II. 39; S. I. 140; S. II. 51, 82, 95, 120, 245; S. III. 21, 45, 55, 68, 71, 90, 195, 223; S. IV. 2, 20, 35, 45, 86, 107, 151, 383: S. V. 72, 90, 144, 222; A. I. 165; A. II. 211; A. III. 93; A. IV. 88, 179, 302; A. V. 155, 162.

D. I. 156-7.

D. I. 156; S. I. 220; A. II. 56; Sn. 227; Dhs. 74-5.

A. II. 87-8.

S. V. 59.

S. V. 347-78.

D. I. 156; S. V. 357;

S. II. 68.

M. I. 300.

S. III. 66-8; S. IV. 2ff.

A. I. 286; S. III. 133; Dhp. 277-9.

M. I. 101-3; D. III. 237; A. III. 248; A. IV. 460; A. V. 17.

D. III. 237.

A. I. 233; A. IV. 380; A. V. 120; S. V. 205.

A. I. 233.

S. II. 69.

S. V. 345-8, 355-6, 361, 364-5, 367, 370; A. IV. 405. So sánh D. III. 250.

D. III. 227, M. I. 37; S. I. 219; A. II. 56. So sánh D. II. 93; S. II. 68; S. V. 357; A. III. 211.

Hãy tham khảo chẳng hạn như D. III. 76; M. I. 37; S. V. 197; A. III. 285.

D. III. 236; S.II. 69, V. 197; A. III. 284-5.

M. I. 37; A. III. 285.

M. I. 487: ghambh? ro h’ayam . . . dhammo duddaso duranubodho santo pa?? to atakk vacaro nipu?o pa?? itavedan? yo.

D. III. 102; Vbh. 249.

M. I. 37; D. III. 227; S. II. 69; S. IV. 271; A. I. 222; A. III. 285.

A. III. 285-6.

A. III. 286, 312.

S. V. 351-2.

S. V. 352.

Tham khảo về vấn đề này ở các kinh S. V. 2-30; A. I. 14-8; It. 10.

S. V. 348.

A. I. 232, 233; GS. I. 211f, 213. Xem thêmA. IV. 381; GS. IV. 253f.

S. II. 70; KS. II. 49. Cf. A. III. 441; GS. III. 307.

S. III. 203; KS. III. 165.

A. II. 86; GS. II. 96.

A. II. 89; GS. II. 99.

A. IV. 405; GS. IV. 273f. Tham khảo thêm S. II. 68; KS. II. 48.

S. V. 346.

A. IV. 407; GS. IV. 274; S. II. 68; KS. II. 47; Tương II. 126.

S. V. 386; KS. V. 333; Tương V. 563.

A. IV. 381; GS. IV. 253f. Xem thêm A. I. 233; GS. I. 213 và S. V. 205; KS. V. 180; A. V. 120; GS. V. 82; Vism. 709; pp. 833f; TTĐL. III. 456).

Dhp. 178.

A. IV. 373; GS. IV. 247; Tăng IV. 95.

Majjhima Nik ya(I. pp. 7,239): người phàm phu tục tử (puthujjana) được định nghĩa là người sống và làm việc trong sự ngộ nhận về một bản tính ngã (I-ness) và bản tính ngã sở hữu (mine-ness) và luôn cho rằng mình có thân thể, cảm giác, ý tưởng hoá, hoạt động tâm và thức phân biệt. Do không biết được bản chất vô ngã của các pháp vị ấy nuôi lớn lòng chấp thủ vào các sự vật và do đó làm tăng trưởng các lậu hoặc ( savas) về dục lạc thấm kém, về tái hiện hữu và vô minh (k ma, bhavaand avijj taì h ). Tham khảo N. Dutt (1981), Early Monastic Buddhism, Calcutta: Firma KLM Private Ltd., p. 253).

KS. IV. 247, ghi chú 3.

D. I. 156; S. V. 357, 379;

A. I. 233: Idha bhikkhave s? lesu parip‰ rak r? hoti sam dhismiị mattasok r? pa– –  ya mattaso k r? . So y ni t ni khudd nukkaddak ni sikkh pad ni t ni  pajjati pi vuỉ ỉ h ti pi. Taị kissa hetu. Na hi mettha bhikkhave abhabbat vutt . Y ni ca kho t ni sikkh pad ni  dibrahamacariyak ni brahmacariyas rupp ni tattha dhuvas? lo ca hoti ỉ hitas? lo ca sam d ya sikkhati sikkh padesu. So ti??aị saị yojan naị parikkhay sattakkhattuparamo hoti sattakkhattuparamaị deve ca m nuse ca sandh vitv saị s ritv dukkhassa antaị karoti. So ti??aị saị yojan naị parikkhay r gadosamoh naị tanutt sakad g m? hoti sakid eva imaị  gantv dukkhassa antaị karoti.Tham khảo bản dịch tiếng Anh của F.L. Woodward, SG. I. 213.

D. I. 156; M. I. 141; S. V. 357: yesaị bhikkh‰ naị pa– corambh giy ni saị yojan ni pah? n hi sabbe te opap tik ta

D. I. 156; M. I. 141; S. V. 357: yesaị bhikkh‰ naị pa– corambh giy ni saị yojan ni pah? n hi sabbe te opap tik tattha parinibb yino an vattidhamm tasm lok .Bởi vì ba trói buộc đầu đã được bậc dự vào dòng thánh (sot panna) và bậc trở lại một lần (sakad g mi) diệt sạch. Đối tượng diệt trừ của bậc không còn trở lại (an g mi) hai trói buộc sau trong nhóm năm trói buộc thấp.

M. I. 85, 92, 398, 454.

M. I. 85.

Ud. 11.

A. V. 113.

S. V. 64.

S. V. 64.

D. I. 72.

S. V. 121-2. Xem thêm A. III. 230ff.

S. V. 105.

Vism. pp. 113, 596-7.

Vism. pp. 113, 596-7.

M. I. 56; D. II. 300-1.

Buddhaghosa (Vism. p. 612) giải thích các thuật từ này như sau: bậc antar -parinibb y? đạt ngộ được niết-bàn sau khi tái sanh về trời Tịnh Cư (suddh v sa) trước nửa đời người. Bậc upahacca-parinibb y? chứng đạt niết-bàn sau nửa đời người. Bậc asaơ kh ra-parinibb y? tiến trên đường cao thượng không cần nhiều dụng công. Bậc sasaơ kh ra-parinibb y? tiến trên đường cao thượng không cần dụng công gì cả. Bậc akaniỉ hag m? càng thăng tiến từ nơi thọ sanh (trong trời Tịnh Cư) đến cảnh giới chư thiên cao nhất (akaniỉ ỉ habbava) và chứng đạt giải thoát tại đây.

A. II. 156; GS. II. 161.

D. III. 237; A. I. 233; A. IV. 14, 70, 380; A. V. 120. Về giải thích của năm bậc không còn trở lại sanh tử trong A-tỳ-đạt-ma-câu-xá(Abhidharmako? a), xem N. Dutt (sách đã dẫn: 1980: 264-5). Dutt cho rằng thuật ngữ "parinibb y" nên dịch là "người thực hành con đường diệt trừ các trói buộc cao" (those who practise the path to destroy the higher fetter).

It. 95-6.

D. I. 157. A. I. 232.

S. III. 161; KS. III. 137.

M. I. 523; MLS. II. 201f. Xem D. III. 235; DB. III. 225. So sánh D. III. 133; DB. III. 125; và A. IV. 370; GS. IV. 24.

A. I. 211; GS. I. 190f.

M. I. 4.

D. III. 230, 276; M. I. 9; S. IV. 257; Vbh. 373; Dhs. 1448.

S. V. 59.

Thag. 1243.

At M. III. 76, hai yếu tố sau làm con đường thánh gồm tám yếu tố trở thành con đường toàn thiện gồm mười yếu tố (dasaơ gasamann gata-arah hoti).

A. II. 189-202.

M. I. 139; MLS. I. 178f. So sánh S. III. 83; KS. III. 69f.

M. I. 175; MLS. I. 219.

A. I. 124; GS. I. 107.

Bậc A-la-hán là người đã đạt ngộ niết-bàn và có thể được xem từ ngữ cảnh của câu trích dẫn sau cùng ở S. IV. 252; KS. IV. 170f. Tại đây, quả A-la-hán (arahatta phala) được đánh đồng với niết-bàn: "Này quý pháp hữu, sự diệt trừ tham, sân và si được gọi là niết-bàn và sự diệt trừ tham sân và si cũng được gọi là quả A-la-hán (The destruction of lust, the destruction of hatred, the destruction of illusion, friend, is called Nibb na" and "The destruction of lust, friend, the destruction of hatred, the destruction of illusion, Đ that is called Arahantship")

M. I. 477; MLS. II. 151f: Kinh này định nghĩa bậc giải thoát bằng hai cách (ubhatobh gavimutta) như sau: "Và này các tỳ-kheo thể nào là người giải thoát bằng hai cách? Có một số người an trú và kinh nghiệm qua chính mình với tám giải thoát thù diệu và siêu việt, và sau khi nhận chân bằng trí tuệ các phiền não và lậu hoặc của vị ấy hoàn toàn bị tiêu diệt." So sánh A. IV. 453; GS. IV. 297.

D. II. 70f; DB. II. 68-70: Giải thoát 4-7 trong Tám giải thoát (vimokkha) chính là bốn cấp độ thiền vô sắc giới (€ ruppa Jh na): (1) Với hình thái ngoại diên của chính mình, vị ấy nhận thức được các hình thể. (2) Không ý thức về hình thái ngoại diên của chính mình, vị ấy thấy được các hình thái bên ngoài mình. (3) "thật tuyệt đẹp" và với tư tưởng này, vị ấy trở nên có chủ tâm. (4) Do vượt khỏi trọn vẹn các nhận thức về hình thể mà các nhận thức về phản ứng của giác quan được diệt trừ; không ý thức về các nhận thức về sự đa dạng mà chỉ ý thức về không gian vô biên,

vị ấy bước vào và an trú vào cảnh giới không vô biên xứ (5) Do vượt khỏi trọn vẹn cảnh giới không vô biên và chỉ ý thức về thức vô biên, vị ấy bước vào và an trú cảnh giới thức vô biên xứ. (6) Do vượt khỏi trọn vẹn cảnh giới thức vô biên xứ và chỉ ý thức về cái không có gì cả, vị ấy bước vào và an trú vào cảnh giới vô sở hữu xứ. (7) Do vượt khỏi trọn vẹn cảnh giới vô sở hữu xứ, vị ấy bước vào và an trú vào cảnh giới phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ. (8) Do vượt khỏi trọn vẹn cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy bước vào và an trú ở trạng thái không còn cảm giác và nhận thức. Tham khảo thêm M. II. 12f; MLS. II. 213f và D. III. 261f; DB. III. 242f.

D. II. 71; DB. II. 70. Các bản sớ giải đều giải thích rằng ubhatobh gavimutta có nghĩa là "thông qua sự chứng đạt vô sắc thể vị ấy được giải thoát khỏi thân thể vật chất và thông qua con đường của quả A-la-hán vị ấy giải thoát khỏi thân thể nội tâm. Tham khảo H. Gunaratana (1996), The Path of Serenity and Insight, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, p. 195.

M. I. 477f; MLS. I. 152: Đức Phật mô tả vị giải thoát bằng trí tuệ (pa– –  vimutta) như sau: "Và này các tỳ-kheo, thế nào là người giải thoát bằng trí tuệ? Ở đây có vài vị an trú nhưng không nhận thức được tám giải thoát siêu việt và vượt khỏi các vật thể nhưng nhờ nhận thức bằng trí tuệ tất cả các lậu hoặc của vị được đoạn tận." Hãy đối chiếu D. II. 68-70; DB. II. 66-68; và A. IV. 453; GS. IV. 297, ở đây người giải thoát bằng trí tuệ phải trải qua chín cấp độ thiền định (Jh na). Lưu ý thêm ở kinh Trường Bộ (D. II. 71; DB. II. 70; Trường I. 537) bậc giải thoát bằng trí được xem là vượt hơn chín cấp độ thiền định.

Nalinaksha Dutt, sách đã dẫn (1981): 270f.

A. II. 87; GS. II. 97: Hai loại A-la-hán "hành giả hoa sen xanh" và "hành giả hoa sen trắng" được mô tả như sau: "Thế nào là người được gọi là hành giả hoa sen trắng? Ai diệt trừ các lậu hoặc và đạt được sự giải thoát tâm và giải thoát bằng trí tuệ rằng các lậu hoặc đã đoạn tận và an trú vào sự chứng đạt đó. Nhưng vị ấy chưa an trú sự kinh nghiệm về tám giải thoát. Đó là hạng người hành giả hoa sen xanh." Đ "Và thế nào là hành giả hoa sen trắng? Bằng cách diệt trừ các lậu hoặc (như trên) … an trú vào đó, và an trú với kinh nghiệm về tam giải thoát."

S. V. 376; KS. V. 324.

S. III. 83; KS. III. 68f; Tương III. 1555.

M. II. 20; MLS. II. 70.

Vin. I. 15-20. Yasa chứng quả A-la-hán khi còn là cư sĩ nhưng ngài đã gia nhập tăng đoàn ngay sau đó (DPPN. vol. II. mục từ Yasa Thera, p. 685). Khem , vị đệ tử đứng đầu trong số các đệ tử nữ đã chứng quả A-la-hán trước khi gia nhập ni đoàn và bà gia nhập tăng đoàn với sự đồng ý của chồng là vua Tần-bà-sa-la (DPPN. vol. I, mục từ Khem Ther? , p. 727).

Trưởng Lão Tăng Kệ (Ther g th ) và Trưởng Lão Ni Kệ (Ther? g th ) có nhiều sự kiện tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni chứng quả A-la-hán. Cơ hội phát triển đời sống tâm linh của người xuất gia thường nhiều hơn so với người tại gia, tại vì các tu sĩ không còn phải vướng bận các trách nhiệm gia đình như làm ăn để sanh tồn cho bản thân, cho hôn nhân và con cái. Quả A-la-hán do đó ít xuất hiện ngoài tăng đoàn (Saơ gha). Tuy nhiên, nếu vị A-na-hàm an g m? không chứng quả A-la-hán trong đời hiện tại, vị ấy sẽ tái sanh về cõi trời Tịnh Cư, và tại đó vị ấy sẽ chấm dứt con đường sanh từ luân hồi.

M. II. 197; MLS. II. 38: Đức Phật nói với bà-la-môn trẻ Subha: "Nếu một người tại gia hay xuất gia thực hành pháp đúng cách vị ấy đạt được con đường chân chánh."

S. V. 358-360; KS. IV. 313f.

A. III. 451; GS. III. 314. Cha của đức Phật, đức vua Tịnh Phạn (Suddhodana) chứng quả A-la-hán và chết với tư cách là một A-la-hán cư sĩ (DPPN. vol II, mục từ Suddhodana, p. 1200, xem thêm Trưởng Lão Ni Kệ, Mah paj pati Gotami, p. 225).

A. III. 359: Yo so bhante bhikkhu arahaị kh? ? savo ohitabh ro anuppattasadattho parakkh? ? abhavasa– – ojano sammada– –  vimutto, tassa na evaị hoti "atthi me seyyyo" ti v "atthi me sadiso" ti v "atthi me h? no" ti v . So sánh Vin. I. 185; A. I. 218.

A. III. 359: Evaị kho bhikkhave kulaputt a– – aị vy karonto. Attha ca vutto att ca anupan? to. Atha ca pana idhekacce moghapuris hasm mak ma– – e a– – aị vy karonti, te pacch vigh taị  pajjant? ỉ i.

Vism. (PTS) II. 602: Dukkham eva hi, na koci dukkhito / k rako na, kiriy va vijjati / atthi nibbuti, na nibutto pum / maggam atthi, gamako na vijjat? ti. //

M. III. 29-36.

So sánh A. II. 246; A. IV. 307; D. III. 232; Vin. IV. 2; Vbh. 376.

M. III. 30.

M. III. 30-1.

Danh sách bốn đại còn tái xuất hiện ở A. IV. 394f; năm đại ở M. I. 423 f.; và sáu đại ở D. III. 247; M. III. 62, 249; S. II. 248; A. I. 176; Vbh. 82ff.

M. III. 31.

M. III. 32.

M. III. 33-6.

A. II. 156-7.

--- o0o ---


Chân thành cảm ơn Đại Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tuyển tập này.

--- o0o ---

Vi tính: Hải Hạnh - Giác Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/10/202017:14(Xem: 528)
Giúp Phật hoằng pháp độ quần sanh, Quán sâu Bát-nhã trí tuệ thành. Năm uẩn đều không, trừ nhân ngã, Ba độc dứt rồi hiện Phật, Tăng. Điều tâm, lìa tướng, phá chấp pháp, Bỏ Tiểu theo Đại, đạo viên thành. Hiện tướng tỳ-kheo dạy bảo chúng, Lập thành công lớn chẳng kể công.
27/03/202006:27(Xem: 1030)
Muốn thành một vị Phật, một người tu hành phải trải qua ba nguyên tắc đào luyện tu tập; nếu không hoàn thành ba nguyên tắc này thì người đó dù ở địa vị nào ở cấp bực nào đem xét nghiệm thì sẽ nhận biết họ không bao giờ được thành Phật.
28/02/202012:08(Xem: 1655)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
02/01/202006:48(Xem: 1470)
Một sáng tinh sương ..... Đức Thế Tôn thành đạo . Phiền não đoạn tận, chiến thắng ma quân , Ánh sáng Giác Ngộ lan tỏa đến tha nhân Gieo rắc niềm tin ...khổ đau được chuyển hoá !
24/12/201921:31(Xem: 1929)
Ngày thành đạo của đức Thế Tôn cách đây 26 thế kỷ, đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Một kỷ nguyên của chánh kiến, thấy rõ thế gian là vô thường và những gì cấu tạo nên nó chỉ là do quan hệ duyên khởi và trống rỗng tự ngã. Những nỗi khổ đau của con người ở trong thế gian không do một ai có thẩm quyền áp đặt, mà chính là do lòng tham dục, tính hận thù và sự kiêu căng nơi tâm họ tạo nên. Tâm cũng vô thường như bất cứ những sự vô thường nào ở trong thế gian, nên những khổ đau của con người không phải là tuyệt lộ. Nó có thể thay đổi khi nhân và duyên của nó được thay đổi. Nhân và duyên làm thay đổi khổ đau của thế giới con người là Bát Thánh Đạo. Thực hành Bát Thánh Đạo, do đức Phật công bố tại vườn Nai, sau khi Ngài thành đạo, trong thời thuyết giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, tại vườn Nai thì những khổ đau của thế giới con người sẽ bị diệt tận.
24/12/201916:36(Xem: 2169)
Xưa và nay, trong lịch sử của nhân loại, tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân. Nhờ trải qua các quá trình kham nhẫn, tu, học, và giúp đỡ cho tự thân và tha nhân như vậy, thì họ mới có thể trở thành những nhà khoa học, toán học, văn học, triết học, đạo học, v. v… Bồ-tát Tất-đạt-đa Gautama,[1] một vị đạo Sư tâm linh hoàn hảo, có đầy đủ đức hạnh, từ bi, và trí tuệ, trải qua 6 năm tu khổ hạnh rừng già với năm anh em Ông A-nhã Kiều-trần-như. Sau một thời gian tầm sư học đạo, Bồ-tát, một con người xuất chúng bằng xương bằng thịt, đã tìm ra chân lý bằng cách thiền định tại Bồ-đề-đạo-tràng suốt 49 ngày đêm, và chứng ngộ viên mãn dưới cội cây Bồ-đề. Lúc đó, Bồ-tát trở thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni, một đức Phật lịch sử, có mặt trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, được chư thiên và loài người tôn kính, có khả năng đem
24/10/201920:30(Xem: 2444)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
23/10/201918:44(Xem: 2348)
Cách đây hai mươi mấy măm về trước, khi chưa bước vào ngôi nhà Phật Pháp.... ( chưa quy y Tam Bảo ) không hiểu sao hai vị Phật tôi thường cầu nguyện và được sự linh ứng nhất là Đức Quán thế Âm Bồ Tát và Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và đặc biệt trong 12 đại nguyện của Phật Dược Sư tôi chỉ thích đọc đi đọc lại nguyện thứ ba, thứ sáu, thứ bảy và thứ tám vì có lẽ lúc ấy tôi chỉ biết lo cho tấm thân làm người nữ và những bịnh tật đau nhức dai dẳng đeo đuổi mãi không thôi.
13/10/201913:51(Xem: 2853)
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc. Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được. Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn. Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
29/09/201909:45(Xem: 8643)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)