97. Người xấu xí

04/03/201103:31(Xem: 10031)
97. Người xấu xí

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ MƯỜI: CÁC NHÂN DUYÊN KHÁC

NGƯỜI XẤU XÍ

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người trưởng giả giàu có vô cùng. Người ấy cưới vợ thuộc dòng hào phú, sống cùng nhau hoan lạc, vui thích.

Không bao lâu người vợ có thai, sinh được một bé trai, hình dung cực kỳ xấu xí.

Khi lớn lên, càng thêm xấu xí, ai nhìn thấy cũng phải lánh xa. Đến cha mẹ dần dần cũng gớm ghiếc, xa lánh. Người ấy buồn bã lánh vào nơi thâm sơn cùng cốc, mà đến thú vật nhìn thấy cũng sợ hãi xa lánh, huống hồ là người.

Người ấy đến ở trong một khu rừng, hái quả cây rừng mà ăn để sống. Các loài chim muông cầm thú nhìn thấy cũng đều kinh sợ, tránh xa chẳng dám đến ở cùng trong khu rừng ấy.

Đức Thế Tôn thường lấy tâm đại bi quán sát chúng sanh, cứu độ cho những người nạn khổ. Ngày kia, ngài biết người xấu xí ấy căn lành đã đủ, có thể hóa độ cho, liền bảo chư tỳ-kheo rằng: “Hôm nay chúng ta sẽ đến khu rừng kia mà hóa độ cho một người hình dung xấu xí.”

Khi Phật và chư tỳ-kheo đến nơi khu rừng ấy, người xấu xí trông thấy liền muốn chạy trốn. Phật dùng thần lực khiến cho người không chạy thoát đi được. Bấy giờ, chư tỳ-kheo đến các gốc cây trong rừng mà ngồi thiền.

Khi ấy Phật hóa hình thành một người hình dung cũng cực kỳ xấu xí, chẳng kém gì người kia. Ngài ôm bình bát chứa đầy những thức ăn ngon quý, đi dần đến chỗ người xấu xí. Người ấy thấy Phật hình dạng xấu xí giống mình thì mừng rỡ lắm, trong lòng nghĩ rằng: “Đây chính thật là người mà ta có thể kết bạn.” Nghĩ vậy rồi bước đến chào hỏi. Phật liền mời người ấy cùng ăn với mình.

Khi ăn xong, Phật hiện hình đẹp đẽ, thanh lịch. Người xấu xí lấy làm ngạc nhiên, liền hỏi: “Ông làm sao giờ lại hóa ra xinh đẹp, thanh lịch như thế?” Phật đáp: “Tôi ăn cơm này xong, lấy lòng lành mà chiêm ngưỡng các vị tỳ-kheo đang ngồi thiền dưới những gốc cây kia. Nhờ đó mà được xinh đẹp, thanh lịch.”

Người xấu xí nghe vậy, liền cố bắt chước theo. Người lấy lòng lành mà chiêm ngưỡng các vị tỳ-kheo đang tọa thiền. Khi ấy, hình dung liền được trở nên xinh đẹp, thanh lịch. Trong lòng vui mừng khôn xiết, sanh lòng kính tín sâu vững đối với các vị tỳ-kheo.

Khi ấy Phật liền hiện lại nguyên hình. Người ấy được thấy Phật với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, sanh tâm kính ngưỡng, liền chí thành lễ Phật rồi đứng sang một bên.

Phật liền vì người mà thuyết pháp, nghe pháp rồi tâm ý được khai mở, đắc quả Tu-đà-hoàn, liền quỳ lạy Phật xin được xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán.

Chư tỳ-kheo thấy việc như vậy thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Vị tỳ-kheo này trước đây đã tạo những nhân duyên gì, sanh ra thân thể xấu xí, bị người xa lánh, rồi nay lại được gặp Phật xuất gia đắc đạo?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Về thuở quá khứ cách đây đã vô số kiếp, xứ Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Phất-sa, ngồi thiền định dưới một gốc cây nọ.

Khi ấy, ta với ngài Di-lặc đều là hàng Bồ-tát, cùng đến chỗ Phật ấy mà cúng dường, chỉ đứng trên một chân mà hầu bên đức Phật ấy. Cho đến bảy ngày như vậy, rồi mới đọc kệ mà ca ngợi đức Phật rằng:

Khắp thế gian không ai như Phật,
Mười phương thế giới chẳng sánh bằng.
Trải khắp thế giới đã từng biết,
Chưa nhìn thấy ai được như Phật.

Đọc kệ như vậy rồi, trong núi ấy có một vị thần hiện hình cực kỳ xấu xí muốn đến dọa nạt ta. Khi ấy, ta dùng thần lực khiến cho vị thần ấy đi đến chỗ nào cũng đều gặp những khe rãnh, đồi núi hiểm trở, chẳng thể nào vượt qua được.

Vị thần núi ấy liền tự nghĩ rằng: ‘Ta có ác tâm muốn dọa nạt người ấy, nay người khiến cho ta đi đến đâu cũng đều gặp những khe rãnh, đồi núi hiểm trở chẳng thể vượt qua. Ta phải đến sám hối cùng người mới được.’ Nghĩ vậy rồi, liền đến trước mặt ta lễ lạy cầu xin sám hối.”

Phật lại dạy rằng: “Vị thần núi ngày trước đến dọa nạt ta, nay thọ thân xấu xí là tỳ-kheo mới xuất gia chứng quả A-La-hán đó. Do muốn dọa nạt ta, nên trong năm trăm kiếp đều phải mang hình thể xấu xí, ai thấy cũng đều kinh sợ. Nhờ chí thành sám hối, nên đến nay được gặp Phật, xuất gia đắc đạo.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 765)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 1364)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1167)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1547)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2899)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1929)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 3202)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2034)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2589)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4742)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T