35. Thái tử cầu pháp

04/03/201103:31(Xem: 11451)
35. Thái tử cầu pháp

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ TƯ: BỒ-TÁT RA ĐỜI

THÁI TỬ CẦU PHÁP

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có vậy trưởng giả tên là Tu-đạt, bẩm tính hiền lương, tin kính nơi Tam bảo, ngày nào cũng đến quét dọn các ngôi chùa tháp.

Một hôm người ấy có việc phải đi xa, không đến quét dọn như thường lệ. Khi ấy, Phật và các vị đại đệ tử như Mục-kiền-liên, Xá-lỵ-phất, Ca-diếp... cùng vào trong tháp, quét dọn sạch sẽ rồi cùng ngồi quanh Phật mà nghe thuyết pháp.

Phật dạy các vị tỳ-kheo rằng: “Các ngươi nên biết, việc quét dọn chùa tháp được năm công đức lớn. Một là tự trừ được những cấu uế trong tâm, hai là trừ được sự cấu uế, bất tịnh ở bên ngoài, ba là diệt trừ được tâm kiêu mạn, bốn là điều phục được tâm mình, năm là làm tăng trưởng công đức, có thể được sinh về những cõi lành.”

Khi ấy, ông trưởng giả Tu-đạt vừa đi xa về, liền đến tinh xá, nghe được Phật thuyết năm công đức lớn của việc quét dọn chùa tháp. Ông hết sức vui mừng, liền bạch với Phật rằng: “Nay con được nghe đức Thế Tôn thuyết năm công đức lớn của việc quét dọn chùa tháp, thật như được thấy chư vị hiền thánh thường ở trước mặt mình.”

Phật liền dạy ông Tu-đạt rằng: “Ta từ nhiều kiếp lâu xa đến nay cũng thường kính ngưỡng, tu tập các thiện pháp như ông ngày nay vậy. Nay ông hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì ông mà phân biệt, giảng nói.

“Về thời quá khứ cách nay đã vô số kiếp, vua xứ Ba-la-nại tên là Phạm-ma-đạt-đa, trị nước theo chánh pháp, nhân dân giàu có, cuộc sống thảy đều sung túc, đầy đủ.

“Khi ấy, hoàng hậu có thai, tự nhiên trên đỉnh đầu hóa hiện một cái lọng quý, đi đâu cũng theo che cho bà. Vua liền mời các vị thầy tướng đến xem tướng cho hoàng hậu, các vị nói rằng: ‘Đứa trẻ này có phước đức rất lớn, sinh ra về sau sẽ khao khát tìm cầu diệu pháp ở khắp cả bốn phương.’

“Qua thời gian mang thai, hoàng hậu hạ sinh một thái tử dung mạo đoan trang, xinh đẹp. Nhân theo lời đoán trước của các vị thầy tướng, vua liền đặt tên là cho thái tử là Cầu Pháp.

“Thái tử dần dần lớn lên, quả thật có lòng mộ pháp vô cùng. Ngài sai người mang trân bảo, châu báu đi khắp bốn phương mà tìm cầu diệu pháp. Như vậy nhiều năm vẫn không được, thái tử hết sức buồn bã, áo não, ngày đêm buồn khóc, cảm động cả trời đất.

“Lòng thành cầu pháp của thái tử chấn động đến cung điện của vua trời Đế-thích, khiến cho không được an ổn. Khi ấy, Đế-thích liền dùng thần lực quán sát, hiểu được nguyên nhân là do lòng cầu pháp chân thành của thái tử Cầu Pháp, cảm ứng mà có sự chấn động như vậy.

“Đế-thích khi ấy liền nghĩ rằng: ‘Ta nên hóa hình đến thử xem lòng cầu pháp của vị thái tử ấy đến mức nào.’ Liền hóa hình thành một người bà-la-môn tìm đến gần cung vua, tự nói rằng: ‘Ta có diệu pháp. Nếu ai muốn nghe ta sẽ vì người ấy mà thuyết giảng.’

“Khi ấy, thái tử nghe lời ấy thì vui mừng không kể xiết, thân hành đến nghinh tiếp, đón vào cung nội, mời ngồi lên ghế cao, rồi chí thành lễ bái, thưa rằng: ‘Kính mong đại sư từ bi thương xót, thuyết giảng diệu pháp cho nghe.’

“Khi ấy, thầy bà-la-môn mới nói rằng: ‘Việc cầu pháp chẳng phải dễ dàng, muốn tìm thầy cũng rất lâu mới gặp. Nay ta tuy có diệu pháp, nhưng thái tử vừa gặp đã muốn nghe, thật không phải lẽ.’

“Khi ấy, thái tử liền thưa: ‘Lòng tôi chỉ muốn cầu được nghe diệu pháp. Nếu cần điều gì xin đại sư cứ nói, dù phải xả bỏ thân thể, vợ con, cho đến voi, ngựa, châu báu các thứ, tôi quyết không hề tham tiếc.’

“Thầy bà-la-môn liền nói: “Những thứ mà thái tử nói đó, ta thật chẳng hề cần đến. Nhưng nếu thái tử có thể cho đào một cái hầm sâu mười trượng, chất đầy củi mà đốt cho lửa cháy rực lên trong đó, rồi tự mình nhảy vào được, thì ta sẽ đem diệu pháp mà nói cho nghe.’

“Thái tử nghe thầy bà-la-môn nói vậy rồi trong lòng vui vẻ, liền sai đào hầm, chất củi đúng như lời dạy của ông, sẵn lòng nhảy vào hầm lửa đó.

“Khi ấy, hoàng hậu và các vị quần thần đều hay tin, vội vã đến nơi, liền can gián thái tử, lại nói với thầy bà-la-môn ấy rằng: ‘Xin đại sư từ bi thương xót tất cả chúng tôi, đừng buộc thái tử phải nhảy vào hầm lửa, còn ngoài ra ngài muốn bất cứ điều chi, chúng tôi cũng xin đáp ứng.’

“Thầy bà-la-môn nói: ‘Ta không ép buộc, ấy là tùy ý thái tử quyết định. Chỉ làm được như vậy thì ta mới thuyết pháp cho nghe.’

“Thái tử nghe lời ấy rồi, liền nói: ‘Ta từ nhiều kiếp đã qua, từng xả bỏ bao nhiêu thân mạng rồi, nhưng chưa từng có ai vì vậy mà thuyết pháp cho ta nghe. Nay đại sư đây sẽ vì ta giảng thuyết diệu pháp, thì tiếc gì thân mạng?’ Nói rồi muốn nhảy vào hầm lửa.

“Khi ấy, hoàng hậu và các vị đại thần thấy thái tử chí thành cầu pháp, đã muốn nhảy vào hầm lửa, liền hết sức cản ngăn, can gián rằng: ‘Xin thái tử hãy nghĩ đến tất cả chúng tôi. Lẽ nào vì lời nói của một người mà xả bỏ hết thảy?’

“Thái tử đáp rằng: ‘Ta từ vô số kiếp đến nay, cũng từng trải qua các cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu bao khổ não, lửa dữ đốt thiêu, đói rét khốn khổ, đau đớn không sao nói hết, thân mạng mất đi chưa từng được sự lợi ích, chưa từng vì pháp. Nay sao các vị lại can gián ta, bỏ thân hư giả này mà cầu được đạo vô thượng Bồ-đề. Nay ta xả bỏ thân này, nguyện được đạo lớn mà cứu độ hết thảy chúng sanh thoát khỏi biển khổ sanh tử.’

“Nói như vậy rồi quyết định liều chết, liền nói với thầy bà-la-môn rằng: ‘Xin đại sư vì tôi nói pháp trước, nghe xong sẽ nhảy vào hầm lửa. Vì nếu chết rồi sợ chẳng nghe được pháp.’

“Khi ấy, thầy bà-la-môn liền vì thái tử mà thuyết kệ rằng:

Tâm thường tu lòng từ,
Trừ bỏ ý ghét giận.
Lòng bi thương chúng sanh,
Nhỏ lệ như mưa lớn.

Người tu pháp đại bi,
Cùng ta đều đắc pháp.
Cứu độ khắp muôn loài,
Ấy là hạnh Bồ-tát.

“Khi ấy, thái tử nghe thuyết kệ rồi vui mừng khôn xiết, liền giữ lời hứa tự mình nhảy vào hầm lửa. Khi ấy, hầm lửa bỗng nhiên hóa thành một cái ao sen, thái tử nhảy vào trong đó, ngồi trên một đóa sen thật lớn. Khắp cõi đất đều chấn động, từ trên trời rơi xuống những loại hoa thơm mà cúng dường người.

“Thầy bà-la-môn hiện lại nguyên hình là Đế-thích, khen ngợi thái tử Cầu Pháp, hỏi rằng: ‘Thái tử ngày nay không sợ nạn khổ, vì lòng cầu pháp chẳng tiếc thân mạng, ngài có nguyện được điều chi chăng?’

“Thái tử đáp: ‘Lòng tôi muốn cầu được đạo vô thượng Bồ-đề, độ thoát chúng sanh khỏi biển khổ sanh tử.’

“Đế-thích nghe xong hết lòng tán thán, khen là việc chưa từng có, rồi từ biệt trở về thiên cung.

“Vua Phạm-ma cùng quần thần thấy việc cầu pháp của thái tử như vậy, đều khen là việc chưa từng có, mọi người đều sanh lòng vui mừng, hoan hỷ, cùng nhau đưa thái tử trở về cung nội.”

Phật lại bảo chư tỳ-kheo rằng: “Vua Phạm-ma thuở ấy, nay chính là vua Tịnh-phạn. Hoàng hậu thuở ấy, nay là hoàng hậu Ma-da. Thái tử Cầu Pháp nay chính là ta đây.”

Khi Phật thuyết nhân duyên cầu pháp này, trong chúng hội nhiều người đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-La-hán, cho đến có người phát tâm cầu quả vị Phật Bích-chi, có người phát tâm cầu quả vị vô thượng Bồ-đề.

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 750)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 1356)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1118)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1487)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2875)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1911)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 3200)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2030)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2586)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4735)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T