30. Nhận lãnh tam quy

04/03/201103:31(Xem: 9045)
30. Nhận lãnh tam quy

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ BA: THỌ KÝ BÍCH-CHI PHẬT

NHẬN LÃNH TAM QUY

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc, cùng với chư tỳ-kheo. Trong thành khi ấy có một người ngu si tên là Ác Nô, tánh thường ham vui, lại hay ẩn núp những nơi vắng vẻ mà cướp đoạt của người khác, lấy đó làm kế sinh nhai.

Khi ấy có một vị tỳ-kheo ở trong một cái động vắng vẻ bên ngoài thành mà ngồi thiền, học đạo. Đến giờ ăn, ngài mới đắp y, mang bình bát vào thành khất thực. Có một ông trưởng giả, thấy vị tỳ-kheo tướng mạo oai nghi, sinh lòng tin phục, kính ngưỡng, liền mời vào nhà cúng dường. Xong, ông lấy ra một xấp vải tốt mà dâng cúng. Vị tỳ-kheo trở về chỗ ngụ, gặp Ác Nô hỏi xin xấp vải. Ngài liền trao cho.

Hôm sau, Ác Nô lại tìm đến, hỏi xin một tấm y. Ngài cũng trao cho.

Đến hôm sau nữa, vị tỳ-kheo đi khất thực về, ăn uống vừa xong, đã vào nghỉ ngơi. Ác Nô lại đến hỏi xin bình bát. Vị tỳ-kheo khi ấy tự nghĩ rằng: “Ta chỉ có mỗi một cái bát này dùng để khất thực mà nuôi sống thân mạng, tên cướp này lại muốn cướp lấy, thật là không tự biết đủ. Nay ta phải lập một kế buộc nó phải thọ Tam quy y, khiến cho từ nay về sau không còn đến đây phá quấy nữa.”

Nghĩ như vậy rồi, liền nói vọng ra bên ngoài động với kẻ cướp rằng: “Đợi ta một chút, ta sẽ đưa bát cho ngươi.” Ác Nô nghe vậy liền ngồi ngoài chờ.

Vị tỳ-kheo lấy sợi dây thừng làm một cái thòng lọng đặt sẵn nơi lối đi phía trong. Xong rồi mới gọi kẻ cướp mà nói rằng: “Ta bây giờ mệt quá, không thể ngồi dậy được. Ngươi hãy tự vào đây mà lấy, ta đưa bát cho.” Ác Nô nghe nói liền bước vào cửa trong, vị tỳ-kheo rút mạnh thòng lọng, bắt dính lại được. Liền đó mang trói chặt vào chân giường, rồi ra ngoài lấy một cây gậy lớn mang vào mà đánh. Trước khi đánh, người nói to lên rằng: “Một gậy này, để ngươi quy y Phật.” Nói rồi giáng cho một cây, đau ngất không kêu nổi. Chờ hồi lâu tỉnh lại, người mới đem điều hơn lẽ thiệt giảng nói cho nghe. Nghe rồi, chuẩn bị đánh nữa. Lần này nói to rằng: “Đánh gậy thứ hai, để ngươi quy y Pháp.” Nói rồi giáng xuống một gậy nữa, đau đớn hơn gấp bội phần, tưởng chừng như muốn chết đi được. Lại đợi hồi lâu cho tỉnh lại, người tiếp tục giảng nói cho nghe những chỗ phải quấy ở đời. Đến lần thứ ba, trước khi đánh xuống lại nói to rằng: “Đánh gậy thứ ba, cho ngươi quy y Tăng.”

Khi ấy, tên cướp ngất đi tỉnh lại đã mấy lần, trong bụng liền nghĩ rằng: “Nay người này đánh ta đau thấu xương cốt, chẳng kêu rên nổi. Nếu chẳng chịu quy phục, để người truyền thọ đến lần thứ tư ắt là phải chết.” Nghĩ như vậy rồi, liền hối hả quỳ lạy xin thọ nhận ba điều quy y ấy.

Vị tỳ-kheo lúc ấy mới tháo dây mà thả ra. Ác Nô phải đòn một phen suýt chết, thẳng đường chạy đến chỗ Phật, lớn tiếng kêu to rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài thật là đại từ đại bi, dạy các vị tỳ-kheo truyền thọ chỉ ba điều quy y. Nếu có đến bốn quy y, chắc là tôi phải chết mất!”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết tên cướp này tâm ý đã được điều phục, liền mới vì anh ta mà thuyết pháp. Ác Nô nghe pháp rồi, tâm ý khai mở, đắc quả Tu-đà-hoàn, mới cầu Phật xin được xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Ngay khi ấy, râu tóc tự nhiên rụng sạch, y phục trên người hóa ra áo cà-sa, thành một vị sa-môn oai nghi đầy đủ. Lại tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu được quả A-La-hán, chứng đủ Ba trí sáng, Sáu thần thông và Tám giải thoát, khắp cõi trời, người thảy đều kính ngưỡng.

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 751)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 1356)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1118)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1487)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2875)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1911)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 3200)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2030)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2586)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4735)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T