72. Người luôn no đủ

04/03/201103:31(Xem: 9766)
72. Người luôn no đủ

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ TÁM: CÁC VỊ TỲ-KHEO NI

NGƯỜI LUÔN NO ĐỦ

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người trưởng giả giàu có vô cùng, tên là Tu-già. Người ấy cưới vợ thuộc dòng hào phú, sống cùng nhau hoan lạc, vui thích.

Không bao lâu người vợ có thai, sinh được một bé gái. Vừa sinh ra liền biết nói. Trong nhà lại tự nhiên hóa hiện đầy đủ trăm món thức ăn. Cha mẹ thấy vậy trong lòng lo sợ, cho rằng chẳng phải thân người, chắc là loài quỷ Tỳ-xá-xà hiển hiện. Nghĩ vậy rồi, chẳng ai dám đến gần.

Đứa bé mới sinh ấy thấy cha mẹ sợ sệt, lo lắng, liền ứng khẩu đọc kệ nói với mẹ rằng:

Xin mẹ nghe con nói,

Lời ngay thẳng chân thật.

Chẳng phải Tỳ-xá-xà,

Hoặc các loài quỷ dữ.



Thân con thật là người,

Nhờ nghiệp lành tích tụ,

Nhân duyên tu phước thiện,

Nên được quả báo lành.



Khi ấy, cha mẹ nghe đọc kệ rồi, trong lòng vui mừng khôn xiết, liền đến ôm lấy con, thương yêu nuôi nấng, đặt tên là Thiện Ái.

Khi ấy, Thiện Ái thấy cha mẹ đã vui mừng, không còn lo lắng nữa, liền chấp tay thưa rằng: “Xin cha mẹ vì con mà thỉnh Phật với chư tăng đến cúng dường.”

Cha mẹ theo lời, thỉnh Phật và chư tăng đến. Liền khi ấy, trăm thứ thức ăn đều tự nhiên hiện ra đầy đủ. Cúng dường xong, Thiện Ái liền đối trước Phật cầu được nghe pháp. Phật thuyết pháp Tứ diệu đế, cô nghe xong liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Đến khi lớn lên, cô liền thưa cha mẹ xin được xuất gia tu tập.

Cha mẹ hết lòng yêu thương, không muốn trái ý, liền dẫn đến chỗ Phật mà cầu cho cô xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo ni!” Tức thì, tóc trên đầu tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo ni oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán, đủ Ba trí sáng, Sáu phép thần thông, Tám môn giải thoát, khắp cõi trời người ai gặp cũng đều kính trọng, ngưỡng mộ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với 1.250 vị tỳ-kheo đi giáo hóa ở một vùng xa xôi, đến giờ thọ trai chẳng gọp xóm làng thành thị gì cả. Phật gọi tỳ-kheo ni Thiện Ái đến, bảo rằng: “Hôm nay con nên cúng dường Phật và chư tăng các món ăn thức uống.”

Tỳ-kheo ni Thiện Ái liền vâng lời, đón lấy bình bát của Phật đưa ra khoảng không. Các món ăn ngon lạ liền tự nhiên hiện ra đầy đủ trong bình bát. Rồi cô lần lượt nhận lấy bát của tất cả các vị tỳ-kheo, chỉ cầm trong tay đưa ra thì tự nhiên hiện đủ các món ăn trong bát.

Ngài A-nan thấy vậy khen là việc chưa từng có, liền thưa hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo ni Thiện Ái trước đây đã tạo phước đức như thế nào, mà nay sinh ra có khả năng kỳ diệu như vậy, chỉ nghĩ đến là thức ăn tự nhiên hiển hiện, chẳng bao giờ phải đói thiếu, lại được gặp Phật, xuất gia đắc đạo?”

Phật bảo A-nan: “Ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà phân biệt giảng nói. Vào giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có vị Phật ra đời hiệu là Ca-diếp.

“Một hôm, Phật và chư tỳ-kheo cùng đắp y, mang bình bát vào thành khất thực, đến nhà một vị trưởng giả kia. Khi ấy, vị trưởng giả đang chuẩn bị đãi khách. Các món ăn ngon quý đều dọn sẵn, nhưng khách mời chưa đến. Có người hầu gái của ông trưởng giả, thấy Phật và chư tăng đi khất thực đến ngang nhà, liền vào mang hết những thức ăn ấy ra mà cúng dường.

“Đến khi quan khách đến, trưởng giả sai dọn thức ăn, người hầu gái thưa rằng: “Hôm nay có Phật và chư tăng khất thực qua nhà, tôi đã mang hết thức ăn mà cúng dường rồi.” Vị trưởng giả nghe rồi liền vui mừng khen ngợi, nói rằng: “Ngươi thật có thiện tâm, biết làm việc cúng dường bố thí, thật đáng khen lắm. Nay ta cho ngươi được tự do không phải làm thân tôi tớ nữa, tùy ý muốn đi đâu cũng được.”

Người hầu gái nói: “Nếu thật được tự do, tôi xin được xuất gia tu tập.” Ông trưởng giả vui vẻ chấp thuận. Người hầu gái ấy liền xuất gia theo Phật, thành tỳ-kheo ni. Từ đó về sau đến một vạn năm luôn chuyên cần tu tập. Nhờ vậy không bị đọa vào các nẻo dữ, lại mỗi khi sinh ra trong chốn trời người, các món ăn ngon quý đều tự nhiên hiện đến.

Phật lại dạy rằng: “Người hầu gái xuất gia tu tập thuở ấy, nay là tỳ-kheo ni Thiện Ái. Nhờ chuyên cần giữ giới, tu tập, nên đến nay được gặp Phật, xuất gia đắc đạo.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 748)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 1356)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1118)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1482)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2873)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1911)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 3198)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2029)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2586)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4730)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T