39. Người mẹ giết con

04/03/201103:31(Xem: 9096)
39. Người mẹ giết con

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ TƯ: BỒ-TÁT RA ĐỜI

NGƯỜI MẸ GIẾT CON

Khi ấy, Phật ở thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Bấy giờ Đề-bà-đạt-đa đem lòng hiềm hận, nhiều lần ám hại đức Thế Tôn, lại dùng những lời độc ác mà thóa mạ ngài, nhưng đức Thế Tôn vẫn không hề có chút oán hận nào đối với người ấy.

Chư tỳ-kheo thấy vậy lấy làm kỳ lạ, liền thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đề-bà-đạt-đa sân nhuế ác tâm, nhiều lần mưu hại, nhưng Phật chẳng hề sanh tâm oán hận Đề-bà-đạt-đa, chẳng hay trong quá khứ có nhân duyên gì, xin đức Thế Tôn thuyết giảng cho được biết?”

Phật nói: “Chẳng phải đến bây giờ người ấy mới xúc phạm, mạ nhục ta. Trong thời quá khứ cũng đã từng làm việc ấy, nhưng ta thường nhẫn chịu.”

Chư tỳ-kheo đều thưa thỉnh xin được nghe những nhân duyên thời quá khứ. Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói.

“Này các tỳ-kheo! Vào giữa Hiền kiếp này, nước Ba-la-nại có vua tên là Phạm-ma-đạt-đa, trị nước theo chánh pháp, nhân dân giàu có, đời sống sung túc.

“Vua ấy có hai vợ. Vị phu nhân thứ nhất tên là Thiện Ý, vị thứ hai tên là Tu Thiện Ý. Vị thứ nhất tánh tình hiền thuận, rất hợp ý vua, nhưng lại không có con. Phu nhân thứ hai tánh tình ác độc, sân hận, nhưng sanh được một người con trai cực kỳ thông minh, hiếu thuận, được vua hết lòng thương yêu, cho học đủ các môn kinh thơ, luận điển.

“Ngày kia vua cùng phu nhân Thiện Ý ra ngoài thành dạo chơi, dẫn theo cả vương tử. Hôm ấy vua rất vui, trong lòng nghĩ nhớ đến phu nhân Tu Thiện Ý nên sai người mang đến cho một ít rượu thịt để tỏ lòng chia sẻ.

“Chẳng ngờ phu nhân nghe biết vua dạo chơi với phu nhân Thiện Ý, có dẫn theo cả con mình thì sanh lòng ghen tức cực kỳ, trong lúc có sứ giả của vua đó lớn tiếng thóa mạ rằng: ‘Ta chỉ muốn cắt cổ đứa con ấy để lấy máu mà uống, quyết chẳng uống rượu của vua ban.’

Sứ giả trở về y lời tâu lại với vua, vua nổi trận lôi đình truyền bắt vương tử mang đến đó, xem thử phu nhân có dám cắt cổ con mà uống máu như lời độc địa ấy chăng. Chẳng ngờ phu nhân Tu Thiện Ý nghe lệnh vua thì lòng ghen tức chưa nguôi, liền thản nhiên sai người cắt cổ vương tử. Khi ấy, vương tử quỳ trước mẹ, chấp tay mà thưa rằng: “Con thật chẳng có lỗi chi, vì sao đến cớ sự này?” Mẹ trả lời rằng: “Đó là lệnh của cha con, con có chết cũng chẳng phải lỗi nơi ta.” Vương tử nghe vậy, liền thưa với mẹ xin sám hối tất cả lỗi lầm đã mắc phải. Phu nhân Tu Thiện Ý khi ấy dửng dưng không nghe, lệnh cho người cắt cổ con mà lấy máu. Vương tử mạng chung, trong lòng không chút oán hận nên sinh lên cõi trời Đao-lỵ.”

Phật lại bảo chư tỳ-kheo: “Người mẹ nhẫn tâm giết con thuở ấy nay chính là Đề-bà-đạt-đa. Vương tử bị giết không chút oán hận, nay là ta đây. Ngày xưa ta còn là phàm phu, bị Đề-bà-đạt-đa ác hại như vậy còn không có lòng oán hận, huống chi nay đã thành Phật, vượt trên ba cõi, lẽ nào lại không thể lấy tâm từ bi mà tha thứ cho Đề-bà-đạt-đa sao?”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 767)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 1366)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1170)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1557)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2900)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1929)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 3202)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2036)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2589)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4742)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T