Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

11. Phẩm "Hiển Đức"

28/01/202109:44(Xem: 857)
11. Phẩm "Hiển Đức"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

buddha-541

 

XI. PHẨM HIỂN ĐỨC.

Phần đầu quyển 572, Hội thứ VI, ĐBN:

(Tương đương với phẩm 10: Thuật Đức, quyển 10, TTVBN)

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Quyển thứ 572

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, đại Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi (Văn Thù Sư Lợi) từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, kéo áo che vai trái, gối phải quỳ sát đất, chắp tay cung kính bạch:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát trải qua bao nhiêu kiếp hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, cúng dường bao nhiêu đức Phật mà có thể thưa hỏi, hiển dương khen ngợi về Bát Nhã thâm sâu như Như Lai đã thuyết cho Thiên vương Tối Thắng vậy?

Phật bảo đại Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi:

- Thiện nam tử! Việc đó chẳng thể nghĩ bàn. Nếu chẳng phải vô lượng trăm ngàn đại kiếp nhóm hợp công hạnh, trồng nhiều căn lành, thời chẳng được nghe công đức danh tự Bát Nhã sâu thẳm.

Thiện nam tử! Số cát sông Hằng trong hằng hà sa số thế giới khắp mười phương còn có thể biết được, chứ đại Bồ tát này hành Bát Nhã Ba-la-mật đã trải qua bao nhiêu số kiếp, cúng dường bao nhiêu vị Phật đều không thể biết được.

Thiện nam tử! Trong quá khứ vô lượng, vô biên vô số kiếp khó nghĩ bàn, có đức Phật ra đời tên là Đa Văn đầy đủ mười hiệu, kiếp tên là Tăng Thượng, nước tên là Nhật Quang. Như Lai Đa Văn thuyết pháp môn thanh tịnh cho các đại Bồ tát:

“Thiện nam tử! Ông phải siêng năng tu các pháp lành chẳng tiếc thân mạng”.

Khi đó, trong hội kia, có một vị Bồ tát tên là Tinh Tấn Lực, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Ngài, kéo áo che vai trái, gối phải quì sát đất, chắp tay cung kính thưa Phật:

- Đức Thế Tôn đã nói: Ông nên siêng năng tinh tấn tu các pháp lành chẳng tiếc thân mạng. Như con hiểu nghĩa Phật đã nói đó, các đại Bồ tát lẽ ra “không nên sớm” thành Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Vì sao? Nếu các Bồ tát siêng tu các pháp (sớm thành tựu mau chứng đắc) thì không thể trụ trong sanh tử lâu dài để làm lợi lạc cho hữu tình. Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, chấm dứt phiền não, trụ lâu trong sanh tử, quyết chẳng phải vì bản thân để mau chứng Niết bàn, mà chỉ vì lợi lạc cho các hữu tình. Bồ tát lấy sanh tử làm vui, chẳng lấy Niết bàn làm vui. Vì sao? Vì các đại Bồ tát lấy sự giáo hóa hữu tình làm vui vậy. Nghĩa là tùy theo chỗ ưa muốn mà phương tiện khéo léo truyền trao pháp môn giúp họ được an lạc. Nếu siêng tu pháp lành thì mau hết phiền não, không thể làm lợi ích an vui cho tất cả hữu tình. Thế nên Bồ tát quán sát sanh tử nhiều sự khổ não, khởi tâm đại bi chẳng bỏ hữu tình, thành tựu bản nguyện.

Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát đủ sức phương tiện ở lâu trong sanh tử, thấy được vô lượng vô biên đức Như Lai, nghe và lãnh thọ vô lượng vô biên chánh pháp, giáo hóa và dẫn dắt vô lượng vô biên hữu tình. Thế nên, vì việc này mà Bồ tát chẳng nhàm chán sanh tử, không ưa thích Niết bàn.

Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát khi quán sanh tử mà khởi lên sự chán sợ, ưa vui Niết bàn thì sẽ rơi vào phi đạo, không thể làm lợi lạc cho tất cả hữu tình, không thông suốt cảnh giới mầu nhiệm của Như Lai.

Thế nào là phi đạo?

Là ưa Thanh văn và bậc Độc giác, đối với các loài hữu tình không có tâm đại bi. Vì sao? Vì đạo mà Thanh văn và Độc giác hành trì chẳng phải đạo của các đại Bồ tát. Vì sao? Vì Thanh văn và Độc giác chán sợ sanh tử, ưa vui với Niết bàn, không thể đầy đủ phước đức trí tuệ, vì nghĩa này nên chẳng phải đạo Bồ tát.

Khi ấy, Phật Đa Văn liền khen ngợi Tinh Tấn Lực:

- Hay thay!! Như lời ông nói, các đại Bồ tát nên tu tự hành chớ tu tập theo phi đạo.

 

(Thế nào là Bồ tát tu đạo tự hành?)

 

Tinh Tấn Lực thưa:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là đại Bồ tát đã tu đạo tự hành?

Phật Đa Văn nói:

- Bồ tát thành tựu tất cả phước tuệ, vì sức đại bi không bỏ hữu tình, xa lìa Thanh văn và bậc Độc giác, được đắc Vô sanh nhẫn nhưng chẳng bỏ ba cõi, không hy vọng sanh trưởng căn lành, dùng phương tiện thiện xảo tu hành tất cả Ba-la-mật. Dùng sức trí tuệ, không có tâm phân biệt, sanh trưởng căn lành, thành tựu tận trí được vô lượng công đức. Dù biết các pháp không có một pháp nào tự nó có thể sanh, chỉ phương tiện hiện sanh. Dù biết hữu tình không có một hữu tình nào là thật có mà vẫn phương tiện giáo hóa, biết tất cả pháp đều lìa tự tánh. Quán các cõi Phật đều như hư không nhưng thường dùng phương tiện khéo léo nghiêm tịnh cõi Phật. Biết tất cả pháp thân Phật không có hình tướng nhưng phương tiện thị hiện tướng hảo trang nghiêm. Tùy theo tâm các hữu tình ưa thích điều gì liền phương tiện trao cho họ. Thân tâm Bồ tát tuy thường vắng lặng nhưng vẫn thuyết pháp giáo hóa hữu tình, cũng dùng phương tiện thiện xảo xa lìa ồn náo, tu các thiền định, biết tự tánh Không nhưng thông suốt được tất cả trí tuệ sâu xa, dùng phương tiện thuyết pháp cho người khác, không chứng quả Thanh văn, Độc giác thừa, mà siêng năng cầu chứng được quả Giải thoát của Như Lai, chẳng bỏ tất cả đạo hạnh của Bồ tát. Thiện nam tử! Đây gọi là Bồ tát đã tự hành đạo của mình”.

 

Bồ tát Tấn Lực đã từng nghe Đa Văn Thế Tôn nói về cảnh giới chưa từng có mà Bồ tát thực hành, nên Bồ tát Tấn Lực bạch Phật:

 “Bạch Thế Tôn! Thật hiếm có, như con hiểu ý lời Phật nói là: Bồ tát đầy đủ phương tiện thiện xảo, quán tất cả pháp đều là đạo cả. Ví như hư không dung chứa các sắc. Như vậy, Bồ tát đầy đủ phương tiện lớn, sự hành đạo thâu nhiếp tất cả pháp. Lại như hư không, tất cả cỏ cây hoa quả đều nhờ đó mà sanh trưởng. Như vậy, các vật đối với cõi hư không không thể làm nhiễm hoặc tịnh, chẳng làm giận làm vui. Đại Bồ tát này đầy đủ phương tiện lớn là Bát Nhã thâm sâu, nên quán tất cả pháp đều là đạo, nghĩa là pháp của phàm phu hoặc pháp Thanh văn, hoặc pháp Độc giác, hoặc pháp Bồ tát, hoặc pháp Như Lai. Vì sao? Vì các Bồ tát này đã thông suốt rồi. Ví như lửa mạnh, nếu gặp cỏ cây tất không lùi lại. Các cây cỏ này đều thuận theo, càng làm cho ngọn lửa cháy mạnh thêm. Cũng vậy các pháp hoàn toàn thuận theo đạo của Bồ tát nên gọi là Bồ tát đạo. Thí như kim cương, thể chất nó rắn chắc, dao không thể chặt gãy, lửa không thể đốt cháy, nước không thể làm tan rả, độc không thể hại. Cũng vậy, với phương tiện trí tuệ của Bồ tát, Thanh văn, Độc giác, các ngoại đạo, và tất cả phiền não không thể nào làm tổn hoại được. Như ngọc lọc được nước, nếu ở trong nước đục tức làm cho trong. Ngọc Bát Nhã của Bồ tát có thể làm cho tất cả phiền não của hữu tình đều được thanh tịnh. Ví như thuốc tốt Diệu bảo thần châu không thể ở chung với chất độc, có khả năng làm tiêu hết các chất độc. Cũng vậy, Bồ tát hành phương tiện thiện xảo của Bát Nhã Ba-la-mật chẳng chung cùng với tất cả phiền não, mà có thể đoạn diệt tất cả phiền não. Nhân duyên các pháp như vậy đều là đạo của đại Bồ tát”.

Mạn Thù Thất Lợi! Khi Tinh Tấn Lực nói về pháp này, tám vạn Bồ tát đều phát tâm quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Hai trăm Bồ tát đắc Vô sanh pháp nhẫn. Mạn Thù Thất Lợi! Tinh Tấn Lực kia chính là Thiên vương Tối Thắng hôm nay.

 

(Làm thế nào Bồ tát hành sâu Bát Nhã được sức kiên cố

hộ trì Chánh Pháp?)

 

Bấy giờ, Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Làm thế nào để các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật được sức kiên cố, hộ trì chánh pháp?

Phật bảo Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi:

- Thiện nam tử! Đại Bồ tát nào thà bỏ thân mạng chứ không bỏ chánh pháp, khiêm nhường với mọi người, không sanh kiêu mạn, nhẫn nại đối với sự sỉ nhục của bọn hạ tiện, cho hữu tình đói khát những thức ăn ngon, ban sự không sợ hãi cho người gặp nạn, trị liệu đúng pháp cho người bệnh tật, bố thí nhiều của báu cho hữu tình nghèo thiếu, sửa sang trang nghiêm tháp miếu thờ chư Phật, diệt trừ việc xấu, phát huy việc thiện, đem an vui cho hữu tình buồn khổ. Đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như vậy sẽ được sức kiên cố, hộ trì chánh pháp.

 

(Bồ tát hành sâu Bát Nhã làm sao có thể điều phục được tâm?)

 

Mạn thù thất lợi lại thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Làm sao các đại Bồ tát hành Bát Nhã thâm sâu có thể điều phục tâm?

Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi:

- Thiện nam tử! Đại Bồ tát nào hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật chẳng xen vào việc của người khác, suy nghĩ trước rồi mới làm. Tâm tánh ngay thẳng điều hòa, lìa xa sự dua nịnh, chẳng tự khoe cao, ý thường nhu hòa. Đại Bồ tát này có thể điều phục được tâm.

Mạn thù thất lợi lại thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật có thể điều phục được tâm thì sẽ sanh về cõi nào?

Phật bảo Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi:

- Thiện nam tử! Nếu đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật có thể điều phục được tâm hoặc sanh lên cõi trời, hoặc sanh trong loài người. Nếu sanh lên cõi trời thì làm Đế Thích, hoặc làm Phạm vương là chủ cõi Kham Nhẫn. Nếu sanh vào loài người sẽ làm vua Chuyển luân hoặc làm các vua khác, hoặc làm trưởng giả, cư sĩ. Sanh lên trời hay người cũng thường được gặp Phật. Đại Bồ tát này hành Bát Nhã thâm sâu có thể điều phục tâm sẽ sanh vào cảnh giới như vậy.

Mạn Thù Thất Lợi lại thưa Phật:

- Bạch Thế Tôn! Chánh tín đưa đến pháp nào?

Phật bảo Bồ tát Mạn Thù Thất Lợi:

- Chánh tín sinh ra sự khéo hiểu biết.

- Bạch Thế Tôn! Đa văn đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Đa văn dẫn đến trí tuệ vi diệu.

- Bạch Thế Tôn! Bố thí đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Bố thí dẫn đến phước lớn.

- Bạch Thế Tôn! Tịnh giới đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tịnh giới dẫn đến cảnh giới lành.

- Bạch Thế Tôn! An nhẫn đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- An nhẫn dẫn đến sự dung nạp tất cả hữu tình.

- Bạch Thế Tôn! Tinh tấn đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tinh tấn dẫn đến sự thành tựu tất cả Phật pháp.

- Bạch Thế Tôn! Tịnh lự đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tịnh lự dẫn đến sự xa lìa tất cả tán loạn dao động.

- Bạch Thế Tôn! Bát Nhã đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Bát Nhã dẫn đến sự xa lìa tất cả phiền não.

- Bạch Thế Tôn! Nghe pháp đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Nghe pháp dẫn đến sự xa lìa tất cả lưới nghi.

- Bạch Thế Tôn! Hỏi đúng đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Hỏi đúng dẫn đến trí tuệ vi diệu quyết định đối với các pháp.

- Bạch Thế Tôn! Trú tịch tĩnh sinh ra pháp gì?

Phật dạy:

- Sinh ra thiền định và các thần thông.

- Bạch Thế Tôn! Tu đúng sinh ra pháp gì?

Phật dạy:

- Tu đúng dẫn đến chánh đạo.

- Bạch Thế Tôn! Tiếng vô thường đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tiếng vô thường dẫn đến sự không nắm bắt đối với cảnh.

- Bạch Thế Tôn! Tiếng khổ đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tiếng khổ dẫn đến sự vô sanh.

- Bạch Thế Tôn! Tiếng vô ngã đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tiếng vô ngã dẫn đến sự diệt trừ chấp ngã và ngã sở.

- Bạch Thế Tôn! Tiếng Không đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Tiếng Không dẫn đến sự tịch tĩnh.

- Bạch Thế Tôn! Chánh niệm đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Chánh niệm dẫn đến Thánh kiến.

- Bạch Thế Tôn! Thân tâm xa lìa đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Thân tâm xa lìa dẫn đến tất cả thần thông diệu tịnh.

- Bạch Thế Tôn! Thánh đạo đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Thánh đạo dẫn đến Thánh quả.

- Bạch Thế Tôn! Thắng giải đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Thắng giải dẫn đến sự thành tựu tất cả giải thoát.

- Bạch Thế Tôn! Đức Phật ra đời đưa đến pháp nào?

Phật dạy:

- Phật ra đời dẫn đến tất cả Bồ đề phần pháp.

 

(Phật ra đời như thế nào?)

 

Bấy giờ, Tối Thắng ở trước Phật thưa:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là Phật ra đời?

Phật dạy:

- Tối Thắng! Như phát tâm quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là phát tâm quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề?

Phật dạy:

- Như phát sanh đại bi.

- Bạch Thế Tôn! Sanh đại bi là thế nào?

Phật dạy:

- Chẳng bỏ tất cả hữu tình.

- Bạch Thế Tôn! Chẳng bỏ tất cả hữu tình là sao?

Phật dạy:

- Phải giống như chẳng bỏ Tam bảo.

- Bạch Thế Tôn! Ai có thể không bỏ Tam bảo?

Phật dạy:

- Tất cả những người không có phiền não.

 

Tối Thắng liền bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thật kỳ lạ. Bạch Thiện Thệ! Thật hy hữu! Chư Phật kín đáo thâm sâu mầu nhiệm, tuy nói pháp Không, không sanh, không diệt, xưa nay vắng lặng nhưng chẳng phá hoại nghiệp quả thiện ác, xa lìa đoạn thường. Bạch Thế Tôn! Có trường hợp nào mà những hữu tình nghe pháp này chẳng kính tin lại sanh tâm hủy báng không?

Phật dạy:

- Cũng có.

- Bạch Thế Tôn! Hữu tình này do đời quá khứ tu hành thiện nghiệp nên được thọ thân người. Nhưng do gần gũi bạn ác nên đối với giáo pháp thâm sâu không thể kính tin lại sanh hủy báng, thì làm uổng phí nghiệp thiện quá khứ. Ân đức của chư Phật thật là sâu nặng, giả sử có đem máu thịt của mình cúng dường chư Phật cũng chẳng đền đáp được. Nhờ ơn Phật nên ngày nay chúng ta tăng trưởng căn lành, được pháp lạc lớn, trụ đại tự tại, trời người cung kính.

Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật nên biết ơn Phật, thân gần bạn lành, phải tu hạnh của Phật, chứng quả Bồ đề của Phật.

Khi nói pháp này, trong chúng có hai vạn năm ngàn Bồ tát đắc Vô sanh nhẫn, bốn vạn năm ngàn chúng trời người đều phát tâm quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Một vạn hai ngàn chúng Thiên tử xa lìa trần cấu, sanh pháp nhãn thanh tịnh.

 

Sơ giải:

 

Phẩm này phần đầu nói về đạo của Bồ tát tu không phải như Nhị thừa sớm thành tựu giác ngộ chứng thật tế để vào Niết Bàn mà tu là làm sao ở lâu trong sanh tử để phục vụ chúng sanh. Đó mới là đạo của Bồ tát.

Phẩm này chẳng qua là so sánh sự hành đạo Bồ đề của Nhị thừa với Đại thừa. Kinh Đại-Bát-Nhã hoặc các Bộ Kinh khác thuộc Đại thừa lúc nào Phật cũng phân biệt hai thừa này. Sự phân biệt không phải là phân chia hệ cấp trong Phật đạo như trong các tôn giáo khác. Phật trước tiên thuyết về Tiểu thừa để dẫn dắt chúng sanh học các pháp lành để thoát khổ (sanh lão bệnh tử...) được vui (Niết bàn). Vì những pháp tu Tiểu thừa khi xưa chỉ chú trọng vào sự tu tập cốt đạt an lạc hạnh phúc của từng cá nhân, nghĩa là người tu cốt xa lìa trần sa hoặc(1), sớm chứng chân lý (thật tế) rồi nhập Niết bàn, không đếm xỉa đến những sanh linh khác đang oằn oại trong bể khổ sanh tử.

Để dẫn dắt Nhị thừa lên một trình độ cao hơn, tu cốt để phục vụ chúng sanh. Nên Phật chủ trương Nhất thừa, gôm tất cả các thừa từ Nhân thừa, Thiên thừa, Tiểu thừa và Trung Thừa vào Nhất thừa là Phật thừa(2). Nghĩa là chủ trương độ thoát chúng sanh ra khỏi bể khổ. Tu là cho người khác, không phải cho sự an lạc của chính cá nhân mình. Nên Bồ tát tu lâu ở trong luân hồi sanh tử để có dịp phục vụ chúng sanh. Đó là tu đạo chơn hạnh của Bồ tát. Còn tu mà sợ trần sa hoặc tu gấp để sớm vào Niết bàn, đó là phi đạo! Hành trì như vậy chẳng phải là đạo Bồ tát.

Rồi Đức Thích Ca kể cho pháp hội nghe câu chuyện xa xưa trong vô lượng kiếp có Đức Phật tên là Đa Văn, đầy đủ 10 danh hiệu, kiếp tên là Tăng Thượng, cõi nước tên Nhật Quang, thuyết pháp môn thanh tịnh cho các đại Bồ tát. Phật Đa Văn nói:

- “Bồ tát thành tựu tất cả phước tuệ, vì sức đại bi không bỏ hữu tình, xa lìa Thanh văn và bậc Độc giác, được đắc Vô sanh nhẫn nhưng chẳng bỏ ba cõi, không hy vọng sanh trưởng căn lành, dùng phương tiện thiện xảo tu hành tất cả Ba-la-mật. Dùng sức trí tuệ, không có tâm phân biệt, sanh trưởng căn lành, thành tựu tận trí được vô lượng công đức. Dù biết các pháp không có một pháp nào tự nó có thể sanh, chỉ phương tiện hiện sanh. Dù biết hữu tình không có một hữu tình nào là thật có mà vẫn phương tiện giáo hóa, biết tất cả pháp đều lìa tự tánh. Quán các cõi Phật đều như hư không nhưng thường dùng phương tiện khéo léo nghiêm tịnh cõi Phật. Biết tất cả pháp thân Phật không có hình tướng nhưng phương tiện thị hiện tướng hảo trang nghiêm. Tùy theo tâm các hữu tình ưa thích điều gì liền phương tiện mà trao cho họ. Thân tâm Bồ tát tuy thường vắng lặng nhưng vẫn thuyết pháp giáo hóa hữu tình, cũng dùng phương tiện thiện xảo xa lìa sự ồn náo, tu các thiền định, biết tự tánh Không nhưng thông suốt được tất cả trí tuệ sâu xa, dùng phương tiện thuyết pháp cho người khác, không chứng quả Thanh văn, Độc giác mà siêng năng cầu chứng quả Giải thoát của Như Lai, chẳng bỏ tất cả đạo hạnh của Bồ tát. Phật Đa Văn kết luận: Đó gọi là đạo của Đại Bồ tát!”

 

Bồ tát Tấn Lực (mà Phật Thích Ca kể trong câu chuyện này là một trong số Bồ tát trong pháp hội của Phật Đa Văn) đã từng nghe Đa Văn Thế Tôn nói về cảnh giới chưa từng có mà Bồ tát thực hành Bồ tát đạo, nên Bồ tát Tấn Lực bạch Phật Đa Văn:

 “Bạch Thế Tôn! Thật hiếm có, như con hiểu ý lời Phật nói là: Bồ tát đầy đủ phương tiện thiện xảo, quán tất cả pháp đều là đạo cả. Ví như hư không dung chứa tất cả sắc. Như vậy, Bồ tát đầy đủ phương tiện lớn, sự hành đạo thâu nhiếp tất cả pháp. Lại như hư không, tất cả cỏ cây hoa quả đều nhờ đó mà sanh trưởng. Như vậy, các vật đối với cõi hư không không thể làm nhiễm hoặc tịnh, chẳng làm giận làm vui. Đại Bồ tát này đầy đủ phương tiện lớn là Bát Nhã thâm sâu, nên quán tất cả pháp đều là đạo, nghĩa là pháp của phàm phu hoặc pháp Thanh văn, hoặc pháp Độc giác, hoặc pháp Bồ tát, hoặc pháp Như Lai. Vì sao? Vì các Bồ tát này đã thông suốt rồi. Ví như lửa mạnh, nếu gặp cỏ cây tất không lùi lại. Các cây cỏ này đều thuận theo, càng làm cho ngọn lửa cháy mạnh thêm. Cũng vậy các pháp hoàn toàn thuận theo đạo của Bồ tát nên gọi là Bồ tát đạo. Thí như kim cương, thể chất nó rắn chắc, dao không thể chặt gãy, lửa không thể đốt cháy, nước không thể làm tan rã, độc không thể hại. Cũng vậy, với phương tiện trí tuệ của Bồ tát, Thanh văn, Độc giác, các ngoại đạo, và tất cả phiền não không thể nào làm tổn hoại được. Như ngọc lọc được nước, nếu ở trong nước đục tức làm cho trong. Ngọc Bát Nhã của Bồ tát có thể làm cho tất cả phiền não của hữu tình đều được thanh tịnh. Ví như thuốc tốt Diệu bảo thần châu không thể ở chung với chất độc, có khả năng làm tiêu hết các chất độc. Cũng vậy, Bồ tát hành phương tiện thiện xảo của Bát Nhã Ba-la-mật chẳng chung cùng với tất cả phiền não, mà có thể đoạn diệt tất cả phiền não. Nhân duyên các pháp như vậy đều là đạo của đại Bồ tát”.

 

Ý chính của phẩm "Hiển Đức" này nằm trong hai đoạn Kinh trên do Phật Đa Văn và Bồ tát Tinh Tấn Lực thuyết về Bồ tát đạo. Hành đạo này sẽ được nhiều công đức trí tuệ để độ mình độ người. Vì vậy, mới nói có thể thành thục chúng sanh, thanh tịnh Phật độ, mang an lạc lợi ích cho tất cả hữu tình đến tận cùng đời vị lai.

Điều đáng chú ý của phẩm này là cuộc đối thoại giữa Phật và Mạn Thù Thất Lợi. Đó là những định nghĩa xác thực về tất cả pháp và đồng thời đó cũng là những chỉ dẫn cần thiết cho người học đạo. Chúng ta phải nghiền ngẫm thọ trì!

Thích nghĩa cho phần lược giải này:

(1). Trần sa hoặc: Có nhiều nghĩa, nhưng ở đây có thể giải thích "đó là các lậu hoặc nhiều như cát bụi". Trần sa là cát bụi. Trong phần này có ý nói: Người tu sạch hết lậu hoặc có thể trở thành Thánh nhân, lại sợ dính bụi trần mà rơi rụng, nên mau trốn vào Niết bàn. Phật có quan niệm ngược lại, nên đặt câu hỏi "nếu quặng lọc hết các bẩn để trở thành vàng ròng, một khi đã là vàng rồi thì vàng có thể trở lại thành quặng mỏ nữa hay không?". Điều này có nghĩa: Một khi đã trở thành Thánh nhân rồi thì có bị rơi rụng trở lại thành phàm phu nữa hay không? Quý vị có thể tự trả lời câu hỏi này. TB

(2). Sẵn đây xin nói sơ qua về Ngũ thừa để quý vị nào mới học Phật biết thêm tổ chức của Phật giáo: Khi xưa khi Phật còn tại thế, Phật chia Phật đạo làm năm thành phần khác nhau tùy theo pháp tu và hạnh nguyên. Thành phần tu hành phổ thông nhất chính là Nhân thừa, Mānuṣayāna (S): Chỉ những người sống trên mặt đất (cõi Dục), học và hành ngũ giới trọn vẹn thì có thể luân hồi trở lại làm người. Thiên thừa, Devayàna (S): Chỉ chúng sanh ở cõi trời do tu thập thiện mà được thăng lên cõi ấy. Tiểu thừa, Hīnayāna(S): Ở đây không nói đến các bộ phái và chủ trương của nó. Ở đây chỉ thuyết sơ về pháp tu và nguyện ước của thành phần này mà thôi. Tiểu thừa phân tích rõ trạng thái của đời sống con người, bản chất sự vật, cơ cấu của ngã và pháp, chỉ ra các Khổ (khổ là một sự thật, làm sao thoát khổ, làm sao thoát sanh tử luân hồi, làm sao đạt Niết bàn an vui?). Vì vậy, Tiểu thừa tu các pháp tu như Tứ đế, Bát chánh đạo, nghiệp và quả cốt phá ngã, diệt tội thực hiện ước nguyện đầu tiên cũng như cuối cùng là được giác ngộ, giải phóng cá nhân mà vào Niết bàn an vui. Trung thừa, Mādhyamayāna (S): Thừa này ít thấy nói đến trong Kinh sách, không được phổ thông lắm. Một số học giả cho rằng Trung thừa do Ngài Long Thọ sáng lập, nằm ở giữa Tiểu thừa và Đại thừa, vì nó có thể giúp hai thừa này giải quyết các cực đoan trong tư duy hay hiện thực. Nhưng Kinh ĐBN xếp Duyên Giác, Độc giác hay Bích Chi Phật vào Trung thừa. Đó là những vị tự mình phá vỡ được chu kỳ sinh diệt của mười hai nhân duyên là Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão tử mà được giác ngộ. Đại thừa, Mahāyāna (S): Vì phương pháp tu hành và hạnh nguyện khác với các thừa trên. Muốn trở thành Bồ tát thừa, Phật thừa thì trước hết phải học tất cả các pháp môn Phật học của các thừa khác, sau đó phải tu lục độ vạn hạnh nghĩa là tu bố thí, trì giới, an nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và lập nguyện độ thoát chúng sanh ra khỏi bể khổ, được an vui rốt ráo.

Tổ chức Phật giáo không phải là một hệ cấp hình kim tự tháp: Trên đầu là Phật. Kế là Bồ tát, xuống là Thanh văn, Độc giác, dưới là chư Thiên và tầng cuối cùng là Người, mặc dầu trong Kinh thường nói đến thập giới (Phật, Bồ tát, Độc giác, Thanh văn, Thiên, Nhân, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục). Sự phân chia giai vị trong Phật đạo là tùy theo tu chứng và hạnh nguyện: Tiểu thừa tu để thoát khổ cho mình, cho cá nhân mình hưởng; trong khi Đại thừa tu là vì người khác, vì an lạc hạnh phúc của toàn thể chúng sanh. Vì vậy, trong Kinh Phật nhất là các Kinh thuộc Đại thừa quở bậc Nhị thừa, muốn gộp tất cả các thừa vào Nhất thừa gọi chung là Phật thừa, là vì vậy. Nhưng ngày nay Tiểu thừa thay đổi quan niệm, cũng chủ trương cứu độ chúng sanh như Đại thừa, cách tu tuy có khác nhưng hạnh nguyện không khác.

 




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn