Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

02. Phẩm “Xá Lợi Tử”

21/09/202008:16(Xem: 241)
02. Phẩm “Xá Lợi Tử”

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

buddha-461

 

PHẨM XÁ LỢI TỬ

Phần sau quyển 479, đến phần đầu quyển 482, Hội thứ III, ĐBN.

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Gợi ý:

Phẩm “Xá Lợi Tử” của Hội thứ III là một phẩm dài. Nếu so với Hội thứ I và Hội thứ II, thì phẩm “Xá Lợi Tử” của Hội thứ III này gồm sáu phẩm sau đây nhập lại:

1. Phẩm “Hoan Hỉ” quyển 402, Hội thứ II.

2. Phẩm "Học Quán" quyển 03, Hội thứ I hay phẩm "Quán Chiếu" quyển 402, Hội thứ II.

3. Phẩm "Tương Ưng" quyển 04, Hội thứ I, ĐBN.

4. Phẩm "Chuyển Sanh" từ quyển 07 đến hết quyển 09, Hội thứ I, ĐBN.

5. Phẩm "Khen Thắng Đức" quyển 10, Hội thứ I hay phẩm “Vô Đẳng Đẳng” quyển 405, Hội thứ II.

6. Phẩm "Hiện Tướng Lưỡi", phần sau quyển 10, Hội thứ I hay phẩm “Tướng Lưỡi” quyển 405, Hội thứ II.

Kinh văn của phẩm "Xá Lợi Tử" thuộc Hội thứ III viết “một lèo” từ cuối quyển thứ 479 cho đến hết quyển 482, không có ngắt khoảng hay phân chia từng đoạn như Hội thứ I và Hội thứ II. Để tiện viêc học hỏi và so chiếu, chúng tôi cố gắng phân chia phẩm "Xá Lợi Tử" của Hội thứ III này thành sáu phần, tương đương với sáu phẩm của hai Hội trước, để quý vị dễ đọc dễ nắm. Xin lưu ý là chỉ phân chia về hình thức chớ không phân chia nội dung.

Mục đích của sự phân đoạn này là để Quý vị có dịp nghỉ ngơi khi đọc một phẩm quá dài như phẩm “Xá Lợi Tử” này. Càng đọc tụng về sau, quý vị càng thấy các phẩm của Hội thứ III gộp nhiều phẩm của hai Hội trước thành một phẩm, thí dụ như phẩm "Thiện Hiện", kế tiếp phẩm này, gộp tất cả 20 phẩm của Hội thứ II thành một phẩm duy nhất lấy tên là phẩm "Thiện Hiện". Quý vị sẽ mệt mỏi khi phải đọc quá nhiều như vậy. Sự phân đoạn có lợi là giúp quý vị có dịp thư giãn và cũng có thời giờ để thẩm thấu các giáo pháp khó nuốt, khó tiêu hóa!

 

Tóm lược:

 

Chúng tôi chia phẩm này làm sáu đoạn. Xin quý vị theo dõi từng phân đoạn để có ý niệm tổng quát về phẩm “Xá Lợi Tử” trình bày sau đây:

 

1. Đoạn Kinh dưới đây tương đương với phẩm “Hoan Hỷ” quyển 402, Hội thứ II, ĐBN.

 

Bấy giờ, Thế Tôn biết các chúng hữu tình của toàn thế giới như là trời, ma, Phạm, các Sa môn, Bà la môn, chư đại Bồ tát kế thừa ngôi vị Thế Tôn, ngoài ra còn có tất cả người chẳng phải người v.v... có duyên với pháp đều đến họp, Ngài liền nói với cụ thọ Xá lợi Tử:

- Đại Bồ tát nếu muốn biết rõ các tướng của tất cả pháp thì nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Nghe Phật nói như vậy, Xá lợi Tử chấp tay cung kính bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát muốn biết rõ các tướng của tất cả pháp phải học Bát Nhã Ba-la-mật?

Phật dạy cụ thọ Xá lợi Tử:

- Chư đại Bồ tát lấy vô trụ mà làm phương tiện để an trụ vào Bát Nhã Ba-la-mật, vì năng trụ và sở trụ đều bất khả đắc.

Nên lấy vô xả làm phương tiện để viên mãn bố thí Ba-la-mật, vì người cho và người nhận đều bất khả đắc.

Nên lấy vô hộ mà làm phương tiện để viên mãn tịnh giới Ba-la-mật, vì tướng phạm hay không phạm bất khả đắc.

Nên đem vô thủ mà làm phương tiện để viên mãn an nhẫn Ba-la-mật, vì tướng động không động bất khả đắc vậy.

Nên lấy vô cần mà làm phương tiện để viên mãn tinh tiến Ba-la-mật, vì thân tâm siêng năng hay giải đãi bất khả đắc vậy.

Nên lấy vô tư mà làm phương tiện để viên mãn tịnh lự Ba-la-mật, vì có ý vị hay không ý vị đều bất khả đắc.

Nên lấy vô chấp mà làm phương tiện để viên mãn Bát Nhã Ba-la-mật, vì tánh tướng hữu vô đều bất khả đắc.

 

(Muốn viên mãn Bát Nhã Ba-la-mật thì phải học tất cả pháp Phật)

 

Lại nữa, Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát an trụ vào Bát Nhã Ba-la-mật, lấy vô sở đắc làm phương tiện. Nên tu bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo. Nên tu pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện. Nên tu bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Nên tu tám giải thoát, chín định thứ đệ. Nên tu chín tưởng. Thế nào là chín? Nghĩa là tưởng phình trướng, tưởng nát rã, tưởng đỏ bầm, tưởng xanh bầm, tưởng mổ ăn, tưởng rơi rớt, tưởng hài cốt, tưởng thiêu đốt, tưởng hư hoại. Nên tu mười tùy niệm (cửu tưởng quán). Thế nào là mười? Nghĩa là tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm giới, tùy niệm xả, tùy niệm thiên, tùy niệm hơi thở ra vào, tùy niệm chán, tùy niệm chết, tùy niệm thân.

Nên học mười thứ tưởng. Thế nào là mười? Nghĩa là tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng tất cả thế gian không ưa thích, tưởng nhàm chán ăn uống, tưởng đoạn, tưởng xa lìa, tưởng diệt. Nên tu mười một trí. Thế nào là mười một? Nghĩa là khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tận trí, vô sanh trí, pháp trí, loại trí, thế tục trí, tha tâm trí, như thuyết trí.

Nên tu Tam ma địa có tầm có tứ, Tam ma địa không tầm có tứ, Tam ma địa không tầm không tứ. Nên tu vị tri căn, đương tri căn, dĩ tri căn và trụ tri căn. Nên tu quán bất tịnh xứ, quán biến xứ Nhất thiết trí trí.

Nên tu thiền chỉ và thiền quán. Nên tu ba minh (1), bốn sự hiểu biết thông suốt (2), bốn điều không sợ (3). Nên tu bất thối chuyển, năm thần thông. Nên tu sáu pháp Ba-la-mật. Nên tu mười lực của Như Lai, mười tám pháp Phật bất cộng. Nên tu đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Nên tu Nhất thiết tướng trí trí vi diệu v.v... vô lượng, vô biên bất khả tư nghì công đức của chư Phật. Vì tất cả pháp như vậy đều bất khả đắc.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát muốn mau chứng đắc Nhất thiết trí trí, nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn mau viên mãn Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, nhất thiết hữu tình tâm hành tướng trí, nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn nhổ sạch tất cả tập khí phiền não nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Muốn nhập vào vị chính quyết định của Bồ tát nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn vượt lên những địa của Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn trụ vào địa Bồ tát Bất thối chuyển nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn đạt được sáu loại thần thông thù thắng nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn biết tâm hành của tất cả hữu tình thay đổi sai khác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn vượt qua tác dụng trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn chứng tất cả môn Đà la ni, Tam ma địa nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng nhất tâm tùy hỷ để vượt qua tất cả sự bố thí của Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng tâm nhất niệm tùy hỷ để vượt qua tất cả tịnh giới của Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng tâm nhất niệm tùy hỷ để vượt qua tất cả định tuệ giải thoát, giải thoát tri kiến của Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng tâm nhất niệm tùy hỷ để vượt qua tịnh lự, giải thoát, đẳng trì v.v... cho đến các pháp lành của các pháp, cho đến các pháp lành của Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng pháp lành tu trong một niệm để vượt qua các pháp lành của tất cả dị sanh, Thanh văn, Độc giác nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn hành chút phần nhỏ về bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, vì các hữu tình mà dùng phương tiện thiện xảo bình đẳng hồi hướng lên Nhất thiết trí trí được vô lượng, vô số công đức nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, Xá lợi Tử! Đại Bồ tát muốn tu bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật mau được viên mãn và lìa các chướng ngại nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn được đời đời thường thấy chư Phật, luôn nghe chánh pháp, được Phật giác ngộ, được Phật nhớ nghĩ, truyền trao, dạy bảo nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn được như thân Phật trang nghiêm đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn sanh vào ngôi nhà Phật ở địa vị đồng chơn, không bao giờ xa lìa chư Phật, Bồ tát nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng những căn lực thắng thiện tùy ý đem những vật cúng dường thượng hạng đến cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, để những căn lành mau được viên mãn nên học Bát Nhã Ba-la-mật.                             

Muốn cho tất cả hữu tình được mãn nguyện nhu cầu như: Ăn uống, y phục, giường chiếu, mền mùng, thuốc thang trị bệnh, những loại hương hoa, đèn đuốc xe cộ, vườn rừng, nhà cửa, của cải, trân bảo, đồ trang sức, kỹ nhạc và những vật dụng ưa thích thượng diệu mà những vị vua sử dụng, cho đến các vi diệu của thế gian và xuất thế gian nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát nào muốn an lập tất cả hữu tình trong tận hư không giới, pháp giới, thế giới đều được an trụ vào bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật, và vô biên pháp lành thù thắng khác nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Muốn đạt được công đức khi phát sanh một niệm thiện tâm, cho đến ngồi tòa Bồ đề vi diệu, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề cũng không cùng tận nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn được tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đại Bồ tát trong thế giới chư Phật ở mười phương đều khen ngợi, hộ niệm ban cho sức lực nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn một khi phát tâm thì có thể đến khắp hằng hà sa số thế giới để cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và chúng đại Bồ tát làm lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn dùng âm thanh có thể vang khắp hằng hà sa số thế giới trong mười phương để ngợi khen chư Phật, giáo hóa hữu tình nên học Bát Nhã Ba-la-mật. Muốn kế thừa hạt giống Tam bảo để không bị đoạn tuyệt làm lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát nào muốn thông đạt pháp nội Không, ngoại Không, nội ngoại Không, đại Không, Không Không, thắng nghĩa Không, hữu vi Không, vô vi Không, tất cánh Không, vô tế Không, tán vô tán Không, bản tính Không, tự cộng ướng Không, nhất thiết pháp Không, vô tánh Không, vô tánh tự tánh Không, và sở duyên Không, tăng thượng duyên Không, đẳng vô gián duyên Không... nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát muốn thông đạt tất cả pháp, chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế nên học Bát Nhã Ba-la-mật. (Q.479, ĐBN)

 

(Uy lực của Bát Nhã Ba-la-mật)

 

Đại Bồ tát muốn biết tất cả đại địa, hư không, núi, biển, sông, ao, hồ, đầm, rạch, khe, hang, đất, nước, gió, lửa v.v... cho đến các loại rất nhỏ nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Thấy kiếp hỏa khởi, cháy khắp Tam thiên đại thiên thế giới, làm cho trời đất đỏ rực, đại Bồ tát muốn thổi tắt nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Thấy kiếp phong nổi lên, làm cho chỗ nương trong Tam tiên đại thiên thế giới rớt xuống chỗ phong luân, gặp gió thổi đánh vọt lên, khiến cho núi Tô mê lô, núi Luân vi v.v... và tất cả những vật trong Tam thiên đại thiên thế giới bị vụn nát, rơi như lá mục, đại Bồ tát muốn dùng ngón tay ngăn cản sức gió ấy dừng lại, không cho nổi dậy nữa thì nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát muốn lấy một sợi lông cột núi Tô mê lô, núi Luân vi v.v... và tất cả vật trong Tam thiên đại thiên thế giới ném qua vô lượng, vô biên, vô số thế giới khác mà không làm tổn hại hữu tình nào trong đó nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát muốn lấy một miếng ăn, một chút hương thơm, một cánh hoa, một vòng hoa, một chiếc áo, một cái phướn, một cái lọng, một ngọn đèn v.v... những vật cúng dường đó, đem cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen tất cả hằng hà sa số Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và đệ tử của các Ngài trong mười phương đều được đầy đủ nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát muốn an lập hằng hà sa thảy các loại hữu tình trong mười phương thâu vào giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn, hoặc trụ vào quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề, cho đến khiến họ nhập vào Vô dư y Niết bàn hoàn toàn an lạc nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật có thể như thật tri mà tu hành bố thí thì được quả báo lớn. Nghĩa là như thật biết bố thí như vậy được sanh vào đại tộc Sát đế lợi. Bố thí như thế được sanh vào đại tộc Bà la môn. Bố thí như thế được sanh vào đại tộc Trưởng giả. Bố thí như thế được sanh vào đại tộc Cư sĩ.

Lại như thật biết bố thí như thế được sanh lên cõi trời Tứ đại vương chúng. Bố thí như thế được sanh lên tầng trời thứ Ba mươi ba. Bố thí như thế được sanh lên cõi trời Dạ ma. Bố thí như thế được sanh lên cõi trời Đâu suất. Bố thí như thế được sanh lên cõi trời Lạc biến hóa. Bố thí như thế được sanh lên cõi trời Tha hóa tự tại.

Lại như thật biết nhờ bố thí như vậy mà chứng được định sơ thiền, hoặc thiền thứ hai, hoặc thiền thứ ba, hoặc thiền thứ tư. Lại như thật biết nhờ bố thí này mà chứng định Không vô biên xứ, định Thức vô biên xứ, định Vô sở hữu xứ, định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Lại như thật biết nhờ bố thí như vậy mà phát sanh ba mươi bảy Bồ đề phần pháp. Do đó, mà chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, hoặc Độc giác Bồ đề, hoặc chứng được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Nếu như thật biết tu hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã thì được quả báo lớn cũng như vậy.

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, có thể như thật biết bố thí như vậy là phương tiện thiện xảo để viên mãn bố thí Ba-la-mật. Bố thí như vậy là phương tiện thiện xảo để viên mãn tịnh giới Ba-la-mật. Bố thí như vậy là phương tiện thiện xảo để viên mãn an nhẫn Ba-la-mật. Bố thí như vậy là phương tiện thiện xảo để viên mãn tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật. Lại như thật biết tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật phương tiện thiện xảo như thế có thể viên mãn sáu pháp Ba-la-mật.

Khi ấy, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ tát tu hành Bát Nhã có thể như thật biết bố thí như vậy là phương tiện thiện xảo để viên mãn bố thí cho đến Bát Nhã Ba-la-mật? Có thể như thật biết tịnh giới cho đến Bát Nhã như vậy là phương tiện thiện xảo có thể thành tựu viên mãn tịnh giới cho đến Bát Nhã Ba-la-mật?

Phật dạy Xá lợi Tử:

- Này Xá lợi Tử! Vì lấy vô sở đắc làm phương tiện. Nghĩa là đại Bồ tát khi hành bố thí thông đạt rõ ràng tất cả tướng người cho, người nhận và vật cho không thể đắc, cho nên có thể thành tựu viên mãn bố thí Ba-la-mật. Tướng phạm không phạm không thể đắc, nên có thể thành tựu viên mãn tịnh giới Ba-la-mật. Tướng động hay không động đều không thể đắc, nên có thể thành tựu viên mãn an nhẫn Ba-la-mật. Thân tâm siêng năng hay biếng nhác đều không thể đắc, nên có thể thành tựu viên mãn tinh tấn Ba-la-mật. Loạn hay không loạn đều không thể đắc, nên có thể thành tựu viên mãn tịnh lự Ba-la-mật. Tánh tướng của các pháp đều không thể đắc, nên có thể thành tựu viên mãn Bát Nhã Ba-la-mật. (Q. 479, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát khi hành bố thí làm phương tiện thiện xảo có thể viên mãn sáu pháp Ba-la-mật. Như vậy, Xá lợi Tử! Đại Bồ tát khi hành tịnh giới cho đến hành Bát Nhã làm phương tiện thiện xảo đều có thể thành tựu viên mãn sáu pháp Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát muốn được công đức thù thắng của tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, vị lai, hiện tại nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát muốn thông đạt hữu vi, vô vi, thành tựu rốt ráo đến bờ bên kia, nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát nếu muốn thông đạt các pháp chơn như, pháp giới, pháp tánh, vô sanh, thật tế trong quá khứ, vị lai, hiện tại, nên học Bát Nhã Ba-la-mật.

Đại Bồ tát nếu muốn làm người dẫn đầu Thanh văn, Độc giác, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn làm thị giả gần gũi chư Phật nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát muốn làm dòng dõi quyến thuộc với chư Phật, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn đời đời có nhiều quyến thuộc vĩ đại, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn thường được làm quyến thuộc với Bồ tát, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn làm ruộng phước chơn chánh, thanh tịnh cho thế gian, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn chiến thắng tâm xan tham, dứt bỏ tâm sân giận, xả bỏ tâm biếng nhác, chận đứng tâm tán loạn, gạt bỏ tâm ác tuệ, nên học Bát Nhã.

Nếu đại Bồ Tát muốn khéo an lập tất cả hữu tình nơi thí tánh phước nghiệp, giới tánh phước nghiệp, tu tánh phước nghiệp, cúng dường phước nghiệp và y nương phước nghiệp, nên học Bát Nhã.

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát nếu muốn được năm loại mắt thì nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát muốn dùng thiên nhãn thấy tất cả thân tướng tốt đẹp của chư Phật trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương nên học Bát Nhã. Đại Bồ tát nếu muốn dùng thiên nhĩ nghe pháp giải thoát mà chư Phật trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương thuyết pháp nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn như thật biết về tâm, tâm sở của tất cả Như Lai trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn được nghe chư Phật trong mười phương thế giới thuyết pháp, cho đến khi chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề không bao giờ gián đoạn, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn thấy tất cả quốc độ trong mười phương chư Phật ở quá khứ, vị lai, hiện tại, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn đối với các Kinh mà mười phương chư Phật trong quá khứ, vị lai, hiện tại thuyết như: Khế Kinh, Ứng tụng, Thọ ký, Phúng tụng, Tự thuyết, Nhân duyên, Bổn sự, Bổn sanh, Phương quảng, Hy hữu, Thí dụ, Luận nghị mà các Thanh văn chưa từng được nghe, nên học Bát Nhã.

Đối với hết thảy pháp môn mà mười phương chư Phật ở quá khứ, hiện tại, vị lai thuyết, đại Bồ tát muốn tự thọ trì hoàn toàn thông suốt, theo đó mà tu hành, lại như thật mà nói rõ, khuyến khích người khác tu hành, nên học Bát Nhã.

Đối với hằng hà sa số thế giới tối tăm trong mười phương, hoặc trong thế giới không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng, đại Bồ tát muốn làm ánh sáng cho những nơi đó, nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát nếu muốn hết thảy chúng sanh trong hằng hà vô lượng thế giới khắp mười phương bị tà kiến, không nghe danh hiệu Phật, Pháp, Tăng, không tin nhân quả mà có thể giáo hóa hướng dẫn để họ sanh chánh kiến, nghe tên Tam bảo tin sâu nhân quả, nên học Bát Nhã.

Đối với hằng hà sa số thế giới hữu tình trong mười phương, đại Bồ tát muốn dùng oai lực của mình làm cho người mù được thấy, người điếc được nghe, người câm được nói, người điên được nhớ, người loạn được định, người nghèo được giàu, người rách được áo, người đói được ăn, người khát được uống, người bệnh được mạnh, người xấu được tốt đẹp, người tàn tật được đầy đủ, người thiếu căn được trọn vẹn, người chết giấc được tỉnh lại, người mỏi mệt được thư thái, tất cả hữu tình đều đem lòng từ đối xử với nhau, người đọa vào đường ác được sanh vào cõi lành, người tập theo nghiệp ác được tu sửa lại nghiệp thiện, những người phạm giới được an trụ giới uẩn, người chưa được định thì được an trụ trong định uẩn, người có ác tuệ thì an trụ trong tuệ uẩn, người không giải thoát thì an trụ trong giải thoát uẩn, người không giải thoát trí kiến thì an trụ trong giải thoát trí kiến uẩn, người chưa thấy Thánh đế thì được chứng quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, hoặc quả Bất hoàn, hoặc quả A la hán, hoặc Độc giác Bồ đề, hoặc kế tiếp chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, nên học Bát Nhã. (Q.479, ĐBN)

Đại Bồ tát nếu muốn học oai nghi thù thắng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, khiến cho các hữu tình nhìn thấy không chán mà bỏ ác tu thiện, nên học Bát Nhã.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, nghĩ như vầy: Khi nào ta mới được như bậc long tượng với thái độ ung dung, đàng hoàng khi nhìn, khi im lặng, khi thuyết pháp cho đại chúng, thân, khẩu, ý nghiệp theo trí tuệ tu hành đều được thanh tịnh. Khi đi Kinh hành chân không đạp đất, cách chừng bốn lóng tay. Muốn được những việc ấy nên học Bát Nhã.

Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, nghĩ như vầy: Khi nào ta được vô lượng vô số các trời Tứ đại thiên vương, trời Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa, trời Tha hoá tự tại, trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Phạm hội, trời Đại phạm, trời Quang, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang, trời Cực quang tịnh, trời Tịnh, trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh, trời Quảng, trời Thiểu quảng, trời Vô lượng quảng, trời Quảng quả, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện, trời Thiện kiến, trời Sắc cứu cánh... cùng nhau đi đến cội Bồ đề. Chúng trời đó đem áo trời làm tòa ngồi, ta ngồi kiết già trên tòa ấy, tay được trang sức những tướng tốt đẹp, rồi vỗ xuống đại địa, làm cho thần đất và quyến thuộc của họ cùng một lúc vọt hiện, chiến thắng quân ma oán, được chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Từ đó về sau khi ta đi, hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi thì đất chỗ đó đều thành kim cương. Muốn thành tựu việc đó nên học Bát Nhã.

Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, suy nghĩ như vầy: Khi nào ta từ bỏ gia đình để xuất gia, thì ngày đó chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, và cũng ngày ấy chuyển diệu pháp luân, làm cho vô lượng, vô số hữu tình xa lìa trần cấu, sanh pháp nhãn thanh tịnh. Lại khiến cho vô lượng, vô số hữu tình diệt sạch các lậu, tâm tuệ hoàn toàn giải thoát; cũng làm cho vô lượng, vô số hữu tình đối với quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chứng Bất thối chuyển. Muốn thành tựu việc này nên học Bát Nhã.

Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, nghĩ như vầy: Khi nào ta chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, có vô lượng, vô số Thanh văn, Bồ tát làm chúng đệ tử, một khi ta nói pháp, khiến cho vô lượng, vô số hữu tình chứng A la hán ngay tại chỗ, lại khiến cho vô lượng, vô số hữu tình ngay chỗ ngồi đối với quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề chứng Bất thối chuyển. Muốn thành tựu việc này nên học Bát Nhã.

Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, nghĩ như vầy: Khi nào ta được sống lâu vô tận, được trang sức bằng vô biên ánh sáng tướng tốt, người thấy không chán. Khi đi mặc dù có ngàn cánh hoa sen nâng đỡ chân, nhưng khiến trên mặt đất lại hiện bánh xe ngàn căm; khi Kinh hành cất bước thì làm cho đại địa chấn động nhưng không quấy nhiễu hữu tình ở trên đất; khi muốn quay nhìn thì toàn thân đều chuyển theo; nơi mà chân đạp lên đều thành kim cương, giống như bánh xe di chuyển theo đất. Toàn thân đều phóng ra ánh sáng, chiếu khắp vô biên thế giới trong mười phương, chiếu đến chỗ nào thì làm cho hữu tình nơi ấy được lợi ích lớn. Muốn thành tựu việc này nên học Bát Nhã.

Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, nghĩ như vầy: Khi ta chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, nguyện cho chỗ cư ngụ đều không có tên của tất cả tham dục, sân giận, ngu si v.v... hữu tình cõi đó hoàn toàn được trí tuệ sáng suốt. Nhờ năng lực trí tuệ đó mà tư duy: Bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, xa lìa phóng dật, siêng năng tinh tấn tu phạm hạnh từ, bi, hỷ, xả không xúc não đến hữu tình giống như cõi Phật khác, há không tốt thay! Việc giáo hóa đã chu tất, sau khi nhập Niết bàn chánh pháp không có thời kỳ diệt tận, luôn làm lợi ích lớn cho hữu tình. Muốn thành tựu việc này nên học Bát Nhã.

Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, nghĩ như vầy: Khi ta chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, nguyện cho tất cả hữu tình trong vô lượng hằng hà sa số thế giới ở mười phương, ai nghe đến tên ta đều được chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Muốn thành tựu việc này nên học Bát Nhã. (Q.479, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát nếu muốn được vô lượng, vô biên công đức thù thắng này nên học Bát Nhã.

 

  (Phụng bát để tỏ lòng cung kính)

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã đã phát sanh những công đức như vậy, thì khi ấy Tứ đại thiên vương trong Tam thiên đại thiên thế giới vui mừng khôn xiết, suy nghĩ như vầy: Hôm nay chúng ta nên đem bốn cái bát để cúng dường vị Bồ tát này, giống như xưa kia Thiên vương đã dâng cúng bát cho đức Phật trước. (Q.480, ĐBN)

Lúc đó, Tam thiên đại thiên thế giới, cõi trời Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại sung sướng vui mừng suy nghĩ như vầy: Chúng ta hãy cung cấp hầu hạ, cúng dường vị Bồ tát để bè đảng hung ác của A tu la bị tổn giảm, làm cho quyến thuộc của chư thiên được tăng trưởng lợi ích.

Lúc đó, Tam thiên đại thiên thế giới, trời Phạm chúng cho đến trời Đại phạm; trời Quang cho đến trời Cực quang tịnh, trời Tịnh cho đến trời Biến tịnh, trời Quảng cho đến trời Quảng quả, trời Vô phiền cho đến trời Sắc cứu cánh đều vui mừng phấn khởi suy nghĩ như vầy: Chúng ta nên thỉnh Bồ tát này mau chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, chuyển pháp luân vi diêu để làm lợi ích tất cả.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tu hành Bát Nhã làm tăng trưởng bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật và các pháp lành khác thì các thiện nam, thiện nữ v.v... ở thế giới kia vui mừng khôn xiết, suy nghĩ như vầy: Chúng ta xem vị Bồ tát đó như là cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, trí thức bạn lành của ta.

Khi ấy, thế giới trời Tứ đại vương cho đến trời Sắc cứu cánh đều vui mừng sung sướng suy nghĩ như vầy: Chúng ta nên bày mọi phương tiện để vị Bồ tát ấy lìa bỏ pháp dâm dục. Từ khi mới phát tâm cho đến chứng đắc cầu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, luôn tu hành phạm hạnh, đối với pháp thuận lợi không sanh lòng đắm nhiễm. Vì sao? Vì tu hành chẳng phải phạm hạnh, sanh vào phạm thiên còn bị chướng ngại, thì làm sao chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Cho nên đại Bồ tát đoạn dục xuất gia tu phạm hạnh có thể chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Ngoài ra không xuất gia mà tu hành thì chẳng phải là phạm hạnh.

Bấy giờ, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát nhất thiết phải có cha mẹ, vợ con, người thân bạn bè chăng?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Có Bồ tát đầy đủ cha mẹ, vợ con, quyến thuộc mà tu hạnh Đại Bồ tát, cũng có Bồ tát không có vợ con từ khi mới phát tâm cho đến khi thành Phật, luôn tu phạm hạnh không làm mất đi bản chất đồng chơn; cũng có Bồ tát dùng phương tiện thiện xảo ban đầu thị hiện hưởng thọ năm cảnh dục lạc, sau đó mới chán bỏ siêng năng tu phạm hạnh mới chứng được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

 

2. Đoạn Kinh sau đây tương đương với phẩm "Học Quán" quyển 03, của Hội thứ I

hay phẩm "Quán Chiếu" quyển 402 trở đi của Hội thứ II, ĐBN.

 

Này Xá lợi Tử! Giống như thầy ảo thuật hoặc đệ tử của ông ta có thể hóa làm đủ loại vui của năm dục, rồi trong năm dục huyễn hóa đó, tha hồ thọ hưởng khoái lạc. Ý ông thế nào? Những gì mà nhà ảo thuật làm ra là có thật không?

Xá lợi Tử thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát cũng vậy, dùng phương tiện thiện xảo là để thành tựu các hữu tình nên thị hiện thọ năm dục nhưng thật không bị nhiễm ô. Vì sao? Vì đối với năm dục, đại Bồ tát rất nhàm chán, không bị tội lỗi của năm dục làm ô uế, lại dùng vô lượng cách để quở trách, chê bai các dục, lại nghĩ như vầy: Ngũ dục giống như lửa dữ, dục như phân dơ, dục như đồ tể, dục như oán thù, dục như binh khí độc, dục như giếng sâu. (Q.480, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát dùng vô lượng cách chê bai, quở trách các dục như vậy, lẽ nào có các dục chân thật để mà hưởng thọ. Đó chỉ là phương tiện để làm lợi ích các hữu tình mà khiến có những việc hóa hiện lợi lạc như vậy.

Bấy giờ, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát nên hành sâu Bát Nhã như thế nào?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Khi tu hành Bát Nhã đại Bồ tát nên quán như vầy: Có Bồ tát, mà chẳng thấy có Bồ tát, chẳng thấy tên Bồ tát; chẳng thấy Bát Nhã, chẳng thấy tên Bát Nhã; chẳng thấy hành, chẳng thấy chẳng hành. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh Bồ tát là không, danh Bồ tát cũng không. Vì sao? Vì tự tánh của sắc là không, chứ chẳng phải do không có mà không, cái không của sắc chẳng phải sắc; sắc chẳng lìa không, không chẳng lìa sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức là không, chứ chẳng phải do không có mà không; cái không của thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức; thọ, tưởng, hành, thức chẳng lìa không, không chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức; thọ, tưởng, hành, thức tức là không, không tức là thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Đây chỉ có danh gọi là Bồ đề, đây chỉ có danh gọi là Tát đỏa, đây chỉ có danh gọi là Bồ tát. Đây chỉ có danh gọi là không. Đây chỉ có danh gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tự tánh như vậy không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh. Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã như thế, không thấy sanh, không thấy diệt, không thấy nhiễm, không thấy tịnh. Vì sao? Chỉ giả lập danh tự, đối với các pháp sanh phân biệt giả lập danh tự tùy theo đó mà khởi ngôn thuyết, như thế này hay như thế nọ, rồi sanh ra chấp trước. Đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã đối với tất cả pháp do không thấy nên không chấp.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã nên quán như vầy: Bồ tát chỉ có tên, Phật chỉ có tên, Bát Nhã chỉ có tên. Sắc chỉ có tên; thọ, tưởng, hành, thức chỉ có tên. Tất cả các pháp chỉ có tên.

Này Xá lợi Tử! Giống như ngã chỉ có tên, gọi đó là ngã, nhưng thật ra không thể nắm bắt được. Như vậy hữu tình, mạng giả, sanh giả, dưỡng giả, sĩ phu, Bổ đặc già la, nói rộng cho đến người biết, người thấy cũng chỉ có cái tên, nghĩa là hữu tình cho đến người thấy, thật không thể nắm bắt được. Vì không thể nắm bắt được nên nói là không. Chỉ theo thế tục để lập khách danh. Các pháp cũng vậy, không nên chấp trước. Cho nên đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, không thấy có ngã cho đến người thấy, cũng không thấy pháp tánh của tất cả pháp.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã như thế, ngoài tuệ của Phật ra thì trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác v.v... không thể nào sánh bằng. Vì cái không, không thể nắm bắt được. Vì sao? Vì đại Bồ tát này đối với năng danh và sở danh đều không thể nắm bắt được, vì không nắm bắt được, nên không chấp. Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát có thể tu hành sâu Bát Nhã như vậy, thì gọi là khéo hành Bát Nhã Ba-la-mật sâu xa.

Này Xá lợi Tử! Giả sử trí tuệ của các đại Thanh văn các ông trong châu Thiệm bộ nhiều như lúa, mè, tre, đậu v.v... so với trí tuệ của Bồ tát hành Bát Nhã thì trăm phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, trăm ngàn phần không bằng một, số phần, toán phần cho đến Ổ ba ni sát đàm phần(4) cũng không bằng một. Vì sao? Vì trí tuệ của đại Bồ tát đó có thể làm cho tất cả hữu tình trong mười phương hướng đến Niết bàn.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Một đại Bồ tát tu hành Bát Nhã với trí tuệ tu trong một ngày thì trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác không thể sánh kịp.

Này Xá lợi Tử! Gác cõi châu Thiệm bộ qua một bên, giả sử trí tuệ của các đại Thanh văn các ông khắp cả bốn đại châu nhiều như lúa, mè, tre, đậu v.v... so với trí tuệ của Bồ tát tu hành Bát Nhã trăm phần không bằng một, trăm ngàn phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, trăm ngàn phần không bằng một, số phần, toán phần cho đến Ổ ba ni sát đàm phần cũng không bằng một. Vì sao? Vì tất cả trí tuệ của đại Bồ tát ấy có thể khiến cho tất cả hữu tình trong mười phương hướng đến Niết bàn.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Một đại Bồ tát tu hành Bát Nhã với trí tuệ tu trong một ngày, thì trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác không thể sánh kịp.

Này Xá lợi Tử! Gác bốn đại châu qua một bên, giả sử trí tuệ của các đại Thanh văn các ông khắp trong hằng hà sa thế giới chư Phật trong mười phương nhiều như lúa, mè, tre, đậu v.v... so với trí tuệ của Bồ tát tu hành Bát Nhã thì trăm phần không bằng một, ngàn phần không bằng một, trăm ngàn phần không bằng một, số phần, toán phần cho đến Ổ ba ni sát đàm phần cũng không bằng một. Vì sao? Vì tất cả trí tuệ của đại Bồ tát ấy có thể khiến cho tất cả hữu tình trong mười phương hướng đến Niết bàn.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Một đại Bồ tát tu hành Bát Nhã với trí tuệ tu trong một ngày thì trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác không thể sánh kịp.

Bấy giờ, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tất cả trí tuệ của Thanh văn thừa, Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, tất cả trí tuệ của Độc giác thừa, tất cả trí tuệ của đại Bồ tát, tất cả trí tuệ của chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả trí tuệ trên đều không sai khác nhau, không chống trái nhau, không sanh, không diệt, tự tánh đều không. Nếu pháp không sai biệt, không chống trái nhau, không sanh, không diệt, tự tánh đều không, pháp này không sai khác đã bất khả đắc, thì tại sao Thế Tôn nói trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác không bằng trí tuệ của một đại Bồ tát tu hành Bát Nhã trong một ngày?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Ý ông nghĩ sao? Sự nghiệp, trí tuệ được tu tập trong một ngày của một đại Bồ tát tu hành Bát Nhã so với trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác có tác dụng như vậy không?

Xá lợi Tử thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật dạy:

- Lại nữa, này Xá lợi Tử! Ý ông nghĩ sao? đại Bồ tát tu hành Bát Nhã trong một ngày suy nghĩ: Ta sẽ tu hành Nhất thiết tướng vi diệu trí, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí làm lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình. Hiểu biết tướng của tất cả pháp, rồi dùng phương tiện hướng dẫn tất cả chúng sanh vào Vô dư y Niết bàn, trí tuệ của tất cả Thanh văn, Độc giác, có làm được như vậy không?

Xá lợi Tử thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Ý ông nghĩ sao? Tất cả Thanh văn và Độc giác có suy nghĩ như vầy: Ta chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, dùng phương tiện an lập cảnh giới Vô dư y Niết bàn cho tất cả hữu tinh. Có được không?

Xá lợi Tử thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Ý ông nghĩ sao? Tất cả Thanh văn và Độc giác có suy nghĩ như vầy: Ta sẽ tu hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật, giáo hóa các loài hữu tình, làm trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Viên mãn mười lực Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, dùng phương tiện an lập vô lượng, vô biên, vô số hữu tình ở cảnh giới Vô dư y Niết bàn. Có được không?

Xá lợi Tử thưa:

- Bạch Thế Tôn! Không!

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã đều nghĩ như vầy: Ta sẽ tu hành bố thí, tịnh giới an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật, giáo hóa hữu tình, trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Viên mãn mười lực Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, dùng phương tiện an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình ở cảnh giới Vô dư y Niết bàn.

Này Xá lợi Tử! Giống như con đom đóm, không thể nghĩ: Ánh sáng của ta có thể làm ánh sáng lớn chiếu khắp châu Thiệm bộ, Thanh văn, Độc giác cũng vậy, chưa từng phát tâm mà có thể nghĩ như vầy: Ta tu sáu pháp Ba-la-mật để giáo hóa cho các hữu tình, trang nghiêm cõi Phật, viên mãn Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, dùng phương tiện an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình ở cảnh giới Vô dư y Niết bàn.

Này Xá lợi Tử! Ví như mặt trời có ánh sáng rực rỡ, vừa mới mọc liền chiếu khắp châu Thiệm bộ. Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã cũng vậy, nghĩ như vầy: Ta tu sáu pháp Ba-la-mật giáo hóa cho các hữu tình, trang nghiêm cõi Phật, viên mãn mười lực Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, dùng phương tiện an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình ở cảnh giới Vô dư y Niết bàn.

Bấy giờ, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ tát có thể vượt qua các địa vị Thanh văn, Độc giác v.v... có thể chứng đắc địa vị Bồ tát Bất thối chuyển, làm thanh tịnh đạo Bồ đề?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Từ khi mới phát tâm tu hành sáu pháp Ba-la-mật, đại Bồ tát luôn trụ vào pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện nên vượt qua địa vị Thanh văn, Độc giác v.v... có thể chứng đắc địa vị Bồ tát Bất thối chuyển, làm thanh tịnh đạo Bồ đề.

Xá lợi Tử lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát trụ vào những địa vị nào mà có thể làm ruộng phước chơn tịnh cho tất cả Thanh văn, Độc giác?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Từ khi mới phát tâm tu hành sáu pháp Ba-la-mật cho đến lúc ngồi tòa Bồ đề, các đại Bồ tát thường làm ruộng phước chơn tịnh cho tất cả Thanh văn, Độc giác. Vì sao? Vì nương vào các đại Bồ tát mà tất cả các pháp lành xuất hiện ở thế gian. Đó là tất cả mười thiện nghiệp đạo, năm giới cận sự, tám giới cận trụ. Bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, bốn trí Thánh đế, bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo. Bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười lực Như Lai, sáu pháp Ba-la-mật, mười tám pháp Phật bất cộng. Tất cả vô lượng, vô số, vô biên pháp lành như vậy xuất hiện ở thế gian. Nhờ các pháp lành của đại Bồ tát ấy mà thế gian có đại tộc Sát đế lợi, đại tộc Bà la môn, Trưởng giả, Cư sĩ. Trời Tứ đại thiên vương cho đến trời Sắc cứu cánh, trời Không vô biên xứ cho đến trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ xuất hiện ra đời. Lại nhờ các pháp lành của Bồ tát nên có Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, Bồ tát và các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian.

Bấy giờ, Xá lợi Tử lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát có cần làm thanh tịnh ruộng phước tự thân nữa không?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát không cần làm thanh tịnh ruộng phước tự thân nữa. Vì sao? Vì đã hoàn toàn thanh tịnh rồi. Nghĩa ấy như thế nào? Này Xá lợi Tử! Vì các đại Bồ tát là đại thí chủ, bố thí cho các hữu tình rất nhiều pháp lành thuộc thế gian và xuất thế gian, như bố thí cho hữu tình mười thiện nghiệp đạo, năm giới cận sự, tám giới cận trụ. Bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, bốn trí Thánh đế, bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo, Như Lai mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, sáu pháp Ba-la-mật, mười tám pháp Phật bất cộng, bố thí pháp lành vô lượng, vô số, vô biên như vậy nên nói Bồ tát là đại thí chủ. Do đây mà Bồ tát đã làm thanh tịnh ruộng phước tự thân, rồi phát triển vô lượng phước đức ở thế gian.

 

3. Đoạn Kinh sau đây tương đương với phẩm “Tương Ưng”,

phần sau quyển 04 cho đến phần đầu quyển 07, Hội thứ I, ĐBN.

 

Khi ấy, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát phải tương ưng (khế hợp) với những pháp nào mà nói tương ưng với Bát Nhã?

Phật dạy:  

- Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát cùng tương ưng với sắc không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Cùng tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Các đại Bồ tát cùng tương ưng với mười hai xứ không, cho đến mười tám giới không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Các đại Bồ tát cùng tương ưng với Thánh đế khổ không nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Cùng tương ưng với Thánh đế tập, diệt, đạo không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Các đại Bồ tát cùng tương ưng với vô minh không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Cùng tương ưng với hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Các đại Bồ tát cùng tương ưng với tất cả pháp Phật không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Cùng tương ưng với pháp hữu vi, vô vi không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. Các đại Bồ tát cùng tương ưng với bản tánh không, nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát cùng tương ưng với bảy pháp không (5) như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tương ưng với bảy pháp không như vậy mà không thấy sắc có tương ưng hay không tương ưng; không thấy thọ, tưởng, hành, thức có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy sắc là pháp sanh hay pháp diệt; không thấy thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh hay pháp diệt. Không thấy sắc là pháp nhiễm hay pháp tịnh; không thấy thọ, tưởng, hành, thức là pháp nhiễm hay pháp tịnh. Không thấy sắc hợp với thọ, không thấy thọ hợp với tưởng, không thấy tưởng hợp với hành, không thấy hành hợp với thức. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Không có một pháp nhỏ nào mà hợp với pháp nào, vì bản tánh tất cả pháp đều không.

Này Xá lợi Tử! Sắc không chẳng phải sắc; các thọ, tưởng, hành, thức không chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì sắc không chẳng phải là tướng biến đổi và ngăn ngại. Các thọ không chẳng phải là tướng lãnh nạp. Các tưởng không chẳng phải là tướng nắm giữ, tưởng tượng. Các hành không chẳng phải là tướng tạo tác. Các thức không chẳng phải là tướng liễu biệt.

Này Xá lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Này Xá lợi Tử! Tướng không của các pháp ấy đều không sanh không diệt, không nhiễm, không tịnh, không tăng, không giảm; chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại. Như vậy, trong cái không đó, không có sắc; không có thọ, tưởng, hành, thức. Không có nhãn xứ; không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Không có sắc xứ; không có có thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ. Không nhãn giới; không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Không có sắc giới; không có thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Không có nhãn thức giới, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới. Không có địa giới, không có thủy, hỏa, phong, không, thức giới. Không có vô minh cũng không có vô minh diệt. Không có hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh lão tử, không có hành cho đến lão tử diệt. Không có Thánh đế khổ, không có Thánh đế tập, diệt, đạo. Không có đắc, không có hiện quán. Không có Dự lưu, không có quả Dự lưu. Không có Nhất lai, không có quả Nhất lai. Không có Bất hoàn, không có quả Bất hoàn. Không có A la hán, không có quả A la hán. Không có Độc giác, không có Độc giác Bồ đề. Không có Bồ tát, không có hạnh của Bồ tát. Không có Chánh đẳng giác, không có Chánh đẳng giác Bồ đề.

Này Xá lợi Tử! Vì đại Bồ tát tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, không thấy bố thí Ba-la-mật có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật có tương ưng hay không tương ưng.

Không thấy sắc có tương ưng hay không tương ưng; không thấy thọ, tưởng, hành, thức có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy mười hai xứ có tương ưng hay không tương ưng; không thấy mười tám giới có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy Thánh đế khổ có tương ưng hay không tương ưng; không thấy Thánh đế tập, diệt, đạo có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy vô minh có tương ưng hay không tương ưng; không thấy hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy bốn niệm trụ có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy sáu phép thần thông có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy Phật mười lực có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng có tương ưng hay không tương ưng. Không thấy Nhất thiết tướng trí vi diệu có tương ưng hay không tương ưng; không thấy Nhất thiết trí trí có tương ưng hay không tương ưng.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với những pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã không quán không hợp với không, cũng không tương ưng với không. Không quán vô tướng hợp với vô tướng, cũng không tương ưng với vô tướng. Không quán vô nguyện hợp với vô nguyện, cũng không tương ưng với vô nguyện. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì không, vô tướng, vô nguyện không hợp không phải hợp, chẳng tương ưng cũng chẳng phải chẳng tương ưng.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã đã nhập vào tự tướng không của tất cả pháp, không quán sắc có hợp hay tan; không quán thọ, tưởng, hành, thức có hợp hay tan. Không quán sắc có hợp hay tan với khoảng trước. Vì sao? Vì không thấy khoảng trước. Không quán sắc có hợp hay tan với khoảng sau. Vì sao? Vì không thấy khoảng sau. Không quán sắc có hợp hay tan với khoảng giữa. Vì sao? Vì không thấy khoảng giữa. Không quán thọ, tưởng, hành, thức có hợp hay tan với khoảng trước, khoảng sau, khoảng giữa. Vì sao? Vì không thấy khoảng trước, khoảng sau, khoảng giữa.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. (Bồ tát tu hành Bát Nhã không quán tất cả pháp hoặc hợp hoặc tan như vậy mới gọi là khế hợp với Bát Nhã Ba-la-mật)

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát không quán khoảng trước hợp hay tan với khoảng sau. Không quán khoảng trước hợp hay tan với khoảng giữa. Không quán khoảng sau hợp hay tan với khoảng trước. Không quán khoảng sau hợp hay tan với khoảng giữa. Không quán khoảng giữa hợp hay tan với khoảng trước. Không quán khoảng giữa hợp hay tan với khoảng sau. Không quán khoảng trước hợp hay tan với khoảng sau, khoảng giữa. Không quán khoảng giữa hợp hay tan với khoảng trước, khoảng sau. Không quán khoảng trước, khoảng sau, khoảng giữa hợp hay tan. Vì sao? Vì ba đời đều không.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. (chẳng hợp chẳng tan với các pháp như vậy, nên rất khế hợp với Bát Nhã Ba-la-mật)

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với quá khứ, vị lai hay hiện tại. Vì sao? Vì quá khứ, vị lai hay hiện tại còn không thấy thì làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với sắc. Vì sao? Vì sắc còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với sắc. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì thọ, tưởng, hành, thức còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với thọ, tưởng, hành, thức. Không quán trí nhất thiết hợp hay tan với mười hai xứ, mười tám giới. Vì sao? Vì mười hai xứ, mười tám giới còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với mười hai xứ, mười tám giới. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Thánh đế khổ. Vì sao? Vì Thánh đế khổ còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Thánh đế khổ. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Thánh đế tập, diệt, đạo. Vì sao? Vì Thánh đế tập, diệt, đạo còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Thánh đế tập, diệt, đạo có hợp hay tan. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với vô minh. Vì sao? Vì vô minh còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với vô minh. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử. Vì sao? Vì hành cho đến lão tử còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với hành cho đến lão tử. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bố thí Ba-la-mật. Vì sao? Vì bố thí Ba-la-mật còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bố thí Ba-la-mật. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật. Vì sao? Vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bốn niệm trụ. Vì sao? Vì bốn niệm trụ còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bốn niệm trụ. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo. Vì sao? Vì bốn chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bốn chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với sáu phép thần thông. Vì sao? Vì sáu phép thần thông còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với sáu phép thần thông. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Phật mười lực. Vì sao? Vì mười lực Phật còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Phật mười lực. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Vì sao? Vì bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng còn không thấy, làm sao quán Nhất thiết trí hợp hay tan với bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng có hợp hay tan. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Phật, cũng không quán Phật hợp hay tan với Nhất thiết trí. Vì sao? Vì Nhất thiết trí tức là Phật, Phật tức là Nhất thiết trí. Không quán Nhất thiết trí hợp hay tan với Bồ đề, cũng không quán Bồ đề hợp hay tan với Nhất thiết trí. Vì sao? Vì Nhất thiết trí tức là Bồ đề, Bồ đề tức là Nhất thiết trí.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. (Nghĩa là không quán Nhất thiết trí hợp hay tan đối với tất cả pháp Phật như thế là hợp với Bát Nhã Ba-la-mật)

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã không chấp trước sắc là hữu hay phi hữu; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là hữu hay phi hữu. Không chấp trước sắc là thường hay vô thường; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường. Không chấp trước sắc là vui hay khổ; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là vui hay khổ. Không chấp trước sắc là ngã hay vô ngã; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là ngã hay vô ngã. Không chấp trước sắc là tịch tịnh hay không tịch tịnh; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là tịch tịnh hay không tịch tịnh. Không chấp trước sắc là không hay bất không; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là không hay bất không. Không chấp trước sắc là hữu tướng hay vô tướng; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là hữu tướng hay vô tướng. Không chấp trước sắc là hữu nguyện hay vô nguyện; không chấp trước thọ, tưởng, hành, thức là hữu nguyện hay vô nguyện.

Này Xá lợi Tử! Vì các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. (Nghĩa là không chấp trước tất cả pháp như vậy là hợp với Bát Nhã Ba-la-mật)

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, không nghĩ như vầy: Ta hành Bát Nhã. Không nghĩ như vầy: Ta không hành Bát Nhã. Không nghĩ như vầy: Ta hành hoặc không hành Bát Nhã. Không nghĩ như vầy: Ta chẳng hành cũng chẳng phải không hành Bát Nhã.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật. (Nếu không hành theo tứ cú hay không hý luận là hợp với Bát Nhã Ba-la-mật)

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã; không vì bố thí mà tu hành Bát Nhã; không vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã Ba-la-mật. Không vì nhập vào chánh định của Bồ tát mà tu hành Bát Nhã; không vì đắc Bồ tát Bất thối chuyển mà tu hành Bát Nhã Ba-la-mật. Không vì thành tựu các hữu tình mà tu hành Bát Nhã; không vì trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật mà tu hành Bát Nhã Ba-la-mật. Không vì bốn niệm trụ mà tu hành Bát Nhã cho đến không vì tám chi Thánh đạo mà tu hành Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã. Không vì Phật mười lực mà tu hành Bát Nhã; không vì bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng mà tu hành Bát Nhã. Không vì pháp nội Không mà tu hành Bát Nhã; không vì pháp ngoại Không, nội ngoại Không, đại Không, Không Không, thắng nghĩa Không, hữu vi Không, vô vi Không, tất cánh Không, vô tế Không, tán vô tán Không, bản tính Không, tự cộng tướng Không, nhất thiết pháp Không, vô tánh Không, vô tánh tự tính Không mà tu hành Bát Nhã. Không vì chơn như mà tu hành Bát Nhã; không vì pháp giới, pháp tánh, thật tế mà tu hành Bát Nhã. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã vì không thấy sự sai khác của các pháp tánh.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã không vì thiên nhãn trí chứng thông mà tu hành Bát Nhã; không vì thiên nhĩ, tha tâm, túc trụ, tùy niệm, thần cảnh, lậu tận trí chứng thông mà tu hành Bát Nhã. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì khi các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã không thấy Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã, thì làm sao thấy sáu phép thần thông của đại Bồ tát và các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, không nghĩ như vầy: Ta dùng thiên nhãn trí chứng thông mà quán khắp tất cả hữu tình chết đây sanh kia có từng phẩm loại khác nhau trong hằng hà sa số thế giới chư Phật khắp mười phương. Không nghĩ như vầy: Ta dùng thiên nhĩ trí chứng thông nghe những âm thanh riêng biệt của tất cả hữu tình trong hằng hà sa số thế giới chư Phật khắp mười phương. Không nghĩ như vầy: Ta dùng tha tâm trí chứng thông biết những ý nghĩ sai khác thuộc tâm và tâm sở của tất cả hữu tình trong hằng hà sa số thế giới chư Phật ở mười phương. Không nghĩ như vầy: Ta dùng túc trụ tùy niệm trí chứng thông nhớ kiếp trước sai khác của tất cả hữu tình trong hằng hà sa số thế giới chư Phật ở mười phương. Không nghĩ như vầy: Ta dùng thần cảnh trí chứng thông đến hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương để giảng nói chánh pháp cho các hữu tình. Không nghĩ như vầy: Ta dùng lậu tận trí chứng thông biết rõ tất cả hữu tình trong hằng hà sa số thế giới chư Phật ở mười phương lậu đã tận hay chưa tận.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tương ưng với pháp như vậy nên nói tương ưng với Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã. (Không vì bất cứ lý do nào mà tu hành thì hợp với tôn chỉ Bát Nhã Ba-la-mật)

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã khi tương ưng với Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã, dùng phương tiện thiện xảo có thể an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình vào cảnh giới Vô dư y Niết bàn, làm cho tất cả ác ma và quyến thuộc của chúng không làm hại được, tất cả phiền não đều được diệt trừ, mong muốn những việc ở đời được thành tựu, được tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các đại Bồ tát trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương hộ niệm, không để cho Bồ tát ấy thối lui rơi trở lại địa vị Thanh văn, Độc giác. Đại Bồ tát ấy được Thanh văn, Độc giác, trời Tứ đại thiên vương chúng cho đến trời Tha hóa tự tại, trời Phạm chúng cho đến trời Phạm thiên, trời Quang cho đến trời Cực quang tịnh, trời Tịnh cho đến trời Biến tịnh, trời Quảng cho đến trời Quảng quả, trời Vô phiền cho đến trời Sắc cứu cánh ủng hộ và bảo vệ.

Đại Bồ tát ấy làm những việc gì không bao giờ bị chướng ngại mà lại mau thành tựu, tất cả bệnh khổ của thân tâm đều được tiêu trừ, giả sử có tội, thọ quả báo ở đời tương lai, thì được chuyển thành quả báo nhẹ ở hiện tại. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì đại Bồ tát ấy có lòng từ bi khắp tất cả hữu tình.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy tu hành Bát Nhã có đầy đủ đại thế lực, diệu dụng gia hạnh, thì có thể phát sanh tất cả môn Đà la ni thù thắng, tất cả môn Tam ma địa thù thắng. Nhờ thế lực này tùy ý phát sanh tất cả công đức thế gian hay xuất thế gian, sanh ra nơi nào thường được gặp chư Phật Thế Tôn và các đại Bồ tát cho đến khi chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Trong thời gian ấy, đại Bồ tát không bao giờ lìa Phật và chúng đại Bồ tát.

Xá lợi Tử nên biết! Đại Bồ tát ấy tu hành Bát Nhã khi tương ưng với Bát Nhã mà tu hành Bát Nhã nên được vô lượng, vô số, vô biên bất khả tư nghì công đức lợi ích thù thắng như vậy.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ tu hành Bát Nhã, chẳng khởi nghĩ này: Có pháp cùng pháp hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng, hoặc ngang hoặc chẳng ngang. Vì sao? Xá Lợi Tử! Vì đại Bồ Tát này vì chẳng thấy có pháp cùng pháp hoặc tương ưng hoặc chẳng tương ưng, hoặc ngang hoặc chẳng ngang vậy. Xá Lợi Tử! Các đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã tương ưng cùng pháp như vậy nên nói tương ưng cùng Bát Nhã Ba-la-mật. (hết Q.480, ĐBN)

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Nếu đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật chẳng khởi nghĩ này: Ta đối pháp giới hoặc mau hiện đẳng giác, hoặc chẳng mau hiện đẳng giác. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Không có chút pháp năng đối pháp giới hiện đẳng giác vậy.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này chẳng thấy chút pháp lìa pháp giới ấy, chẳng thấy pháp lìa pháp giới mà có. Chẳng thấy chút pháp tức pháp giới ấy, chẳng thấy pháp giới tức các pháp mà có. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Vì pháp cùng pháp giới chẳng phải tức chẳng phải ly vậy. (6)

Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này chẳng khởi nghĩ này: Pháp giới năng làm nhân duyên các pháp. Chẳng khởi nghĩ này: Các pháp như thế năng chứng pháp giới. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! đại Bồ Tát này hãy chẳng thấy có chút pháp, huống nào có pháp năng chứng.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này chẳng thấy pháp giới tương ưng cùng không, cũng chẳng thấy không tương ưng cùng pháp giới. Chư Phật cũng vậy. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Không cùng pháp giới chẳng tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, chẳng tức ly vậy.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật tương ưng cùng pháp như thế vậy nên nói tương ưng cùng Bát Nhã Ba-la-mật.(Các Bồ tát tu hành Bát Nhã như vậy chẳng thấy đối với tất cả pháp tương ưng cùng không, chẳng thấy tức hay ly là hợp với Bát Nhã Ba-la-mật)

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã không thấy pháp giới tương ưng cùng không, cũng không thấy không tương ưng cùng pháp giới. Đại Bồ Tát này không thấy sắc tương ưng cùng không, cũng không thấy không tương ưng cùng sắc. Không thấy thọ tưởng hành thức tương ưng cùng không, cũng không thấy không tương ưng cùng thọ tưởng hành thức. Đại Bồ Tát này không thấy mười hai xứ tương ưng cùng không, cũng không thấy không tương ưng cùng mười hai xứ. Không thấy mười tám giới tương ưng cùng không, cũng không thấy không tương ưng cùng mười tám giới.

Xá Lợi Tử! Nếu đại Bồ Tát tát tu hành Bát Nhã năng tương ưng được như thế đấy là đệ nhất tương ưng cùng với không. Đại Bồ Tát này do tương ưng cùng không như thế nên chẳng đọa vào Thanh Văn Độc giác, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ Tát trong các tương ưng, tương ưng cùng Bát Nhã rất là đệ nhất, rất tôn rất thắng, rất thượng rất diệu, rất cao rất cực, Vô thượng Vô thượng thượng, vô đẳng vô đẳng đẳng. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Vì tương ưng Bát Nhã Ba-la-mật như thế, tức là tương ưng không, tức là tương ưng vô tướng, tức là tương ưng vô nguyện vậy.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ Tát khi tương ưng cùng Bát Nhã Ba-la-mật như thế, phải biết tức là được nhận ký Bồ đề, hoặc gần nhận ký.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này do tương ưng đây năng vì vô lượng vô số hữu tình làm đại nhiêu ích.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát đây chẳng khởi nghĩ này: Ta tương ưng cùng Bát Nhã Ba-la-mật. Không khởi nghĩ này: Ta đối Bồ đề đã được nhận ký, hoặc gần nhận ký. Không khởi nghĩ này: Ta năng nghiêm tịnh cõi Phật. Ta năng thành thục hữu tình. Không khởi nghĩ này: Ta sẽ chứng được sở cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ vô lượng chúng. Vì sao? Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này không thấy có pháp lìa pháp giới, không thấy pháp giới lìa các pháp mà có. Không thấy có pháp năng hành Bát Nhã Ba-la-mật. Không thấy có pháp được Phật trao ký. Không thấy có pháp năng được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Không thấy có pháp năng thành thục hữu tình. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã hoàn toàn không sanh vọng tưởng về hữu tình. Vì sao? Vì các hữu tình hoàn toàn chẳng sanh cũng chẳng diệt. Đã hoàn toàn không sanh không diệt rồi thì làm sao nói có thể tu hành Bát Nhã Ba-la-mật được. Các hữu tình chẳng sanh chẳng diệt như vậy thì các pháp cũng thế.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này không thấy hữu tình và các pháp sanh nên tu hành Bát Nhã. Không thấy hữu tình và các pháp diệt nên tu hành Bát Nhã. Vì thông đạt các hữu tình và pháp là không, nên tu hành Bát Nhã. Vì thông đạt các hữu tình và pháp phi ngã, nên tu hành Bát Nhã. Vì thông đạt các hữu tình và pháp xa lìa, nên tu hành Bát Nhã.

Xá Lợi Tử! Các Đại Bồ Tát khi tu hành Bát Nhã tương ưng cùng không rất là đệ nhất, tương ưng cùng Bát Nhã rất tôn rất thắng, không gì sánh bằng.

Xá Lợi Tử! Các Đại Bồ Tát tương ưng như thế, năng chánh dẫn pháp đại từ, đại bi, cùng vô lượng vô biên các Phật pháp khác. Do thế lực đây, rốt ráo chẳng khởi tâm xan tham, phạm giới, giận dữ, biếng lười, tán loạn, ác huệ tạp nhiễm.

 

4. Đoạn Kinh sau đây tương đương với phẩm “Chuyển Sanh”,

quyển 07 cho đến quyển 09, Hội thứ I, ĐBN.

 

Bấy giờ, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ tát tương ưng với Bát Nhã thì đại Bồ tát ấy từ chỗ nào sanh đến đây, từ nơi đây sẽ sanh về đâu?

Phật dạy tôn giả Xá lợi Tử:

- Nếu đại Bồ tát tương ưng với Bát Nhã thì đại Bồ tát ấy từ cõi Phật khác sanh đến đây, hoặc từ trời Đâu suất sanh đến đây, hoặc từ cõi người sanh đến đây.

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tương ưng với Bát Nhã Ba-la-mật, từ cõi Phật khác sanh đến đây thì đại Bồ tát ấy mau tương ưng với Bát Nhã. Nhờ nhơn duyên chuyển sanh này, liền đạt được pháp môn vi diệu sâu xa một cách mau chóng. Từ đó về sau luôn được nhanh chóng tương ưng với Bát Nhã, sanh ra nơi nào thường gặp chư Phật để cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi không sót vị nào.

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tương ưng với Bát Nhã, từ cõi trời Đâu suất mà sanh đến đây thì đại Bồ tát ấy không bao giờ quên mất sáu Ba-la-mật. Đối với tất cả môn Đà la ni, môn Tam ma địa cũng không quên mất, luôn được hiện tiền.

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát tương ưng với sáu Bát Nhã, từ cõi người sanh đến đây thì đại Bồ tát ấy chưa đắc Bất thối chuyển, căn tánh chậm chạp, không tương ưng với Bát Nhã một cách nhanh chóng; đối với các môn Đà la ni, môn Tam ma địa đều chưa tự tại, khó được hiện tiền.

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Với những điều ông hỏi: Nếu đại Bồ tát tương ưng với Bát Nhã thì đại Bồ tát ấy ở đây qua đời sẽ sanh vào chỗ nào? Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy từ đây qua đời rồi sanh vào cõi Phật khác. Từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, sanh ra nơi nào cũng thường gặp Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Cho đến khi chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà mình mong cầu, không bao giờ xa lìa Phật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát không có phương tiện thiện xảo chỉ có khả năng làm phát sanh bốn tịnh lự, cũng có thể tu hành sáu pháp Ba-la-mật. Nhờ đắc tịnh lự nên sanh vào cõi trời Trường thọ. Từ cõi trời Trường thọ đó sanh vào nhơn gian, gặp chư Phật để cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, tu hành sáu pháp Ba-la-mật nhưng căn tánh còn chậm chạp, không lanh lợi sáng suốt.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát mặc dù đắc tịnh lự, tu hành Bát Nhã nhưng không có phương tiện thiện xảo, cho nên vứt bỏ tịnh lự sanh vào cõi Dục. Nên biết: Đại Bồ tát ấy căn tánh cũng chậm chạp, không lanh lợi sáng suốt.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Nếu có đại Bồ tát mặc dù có thể nhập bốn tịnh lự, có thể nhập bốn vô lượng, cũng có thể nhập bốn định vô sắc, cũng có thể tu bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo, Như Lai mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, mà có phương tiện khéo léo nên chẳng tùy thế lực tĩnh lự, vô lượng, vô sắc mà sanh. Chỉ sanh thế giới có Phật, thường gặp Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, chẳng lìa Bát Nhã Ba-la-mật, ở trong Hiền kiếp định sẽ làm Phật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát mặc dầu có thể phát sanh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, lại còn có phương tiện thiện xảo nhưng không thuận theo thế lực của tịnh lự, vô lượng, vô sắc mà sanh ra, nên vẫn sanh trở lại cõi Dục, hoặc sanh vào đại tộc Sát đế lợi, đại tộc Bà la môn, Trưởng giả, Cư sĩ, là vì muốn giáo hóa cho các hữu tình được thành tựu.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tuy hiện nhập bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, lại còn có phương tiện thiện xảo nhưng không thuận theo thế lực của tịnh lự, vô lượng, vô sắc mà sanh, nên vẫn sanh trở lại cõi Dục, hoặc trời Tứ đại thiên vương chúng, hoặc cõi trời Ba mươi ba, hoặc cõi trời Dạ ma, hoặc cõi trời Đâu suất, hoặc trời Lạc biến hóa, hoặc trời Tha hóa tự tại, là vì muốn giáo hóa cho các hữu tình được thành tựu, hoặc vì muốn làm trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, thường gặp chư Phật cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, không bao giờ bỏ xót.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tuy hiện nhập bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, còn có phương tiện thiện xảo, từ cõi này sanh vào cõi trời Phạm thiên làm Đại phạm vương có oai đức, quyền lực dạo chơi các cõi Phật, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác. Trong đó Bồ tát nào chưa chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề thì khuyến hóa cho họ để chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, vị nào đã chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề rồi thì thỉnh chuyển pháp luân, làm lợi cho ích tất cả hữu tình.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát còn lại một đời tu hành Bát Nhã, có phương tiện thiện xảo, dù hiện khởi bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, tu bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo, Tam ma địa không, vô tướng, vô nguyện, nhưng không thuận theo thế lực của tịnh lự, vô lượng, vô sắc mà chuyển, hiện tiền phụng thờ gần gũi cúng dường các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Đối với cõi Phật này siêng năng tinh tấn tu phạm hạnh. Từ đây qua đời, sanh vào cõi trời Đâu suất, thọ mạng dài lâu, các căn đều đầy đủ, nhớ nghĩ thấy biết đều chơn chánh, có vô lượng, vô số trăm ngàn câu chi, na do tha chúng trời cung kính vây quanh, đến khi sanh vào cõi người, chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, chuyển diệu pháp luân và độ vô lượng chúng sanh.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát đạt được sáu phép thần thông, không sanh vào cõi Dục, không sanh vào cõi Sắc, không sanh vào cõi Vô sắc, dạo chơi các cõi Phật để cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen chư Phật Thế Tôn, tu Bồ tát hạnh, cho đến chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà mình mong cầu.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát đắc sáu phép thần thông, dạo chơi tự tại từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, những cõi Phật đã được trải qua không có tên Thanh văn thừa, Độc giác thừa, chỉ có một thừa là các chúng Bồ tát.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát đạt được sáu phép thần thông, dạo chơi tự tại từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, số hữu tình ở các cõi Phật đã từng trải qua có tuổi thọ rất cao, không thể nào tính biết được.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát đạt được sáu phép thần thông dạo chơi các thế giới, từ thế giới này đến thế giới khác. Nếu có thế giới không nghe đến tên của Phật, Pháp, Tăng, thì đại Bồ tát ấy đến thế giới này ngợi khen công đức của Tam bảo, để các hữu tình có lòng tin một cách sâu sắc thanh tịnh, nhờ đó mà thường được lợi ích rất lớn. Đại Bồ tát ấy sau khi qua đời ở đây, sanh vào thế giới có Phật, tu Bồ tát hạnh, lần lần chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà mình mong cầu.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát từ khi mới phát tâm, đắc bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; tu bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo; tu Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng thì đại Bồ tát ấy không sanh vào cõi Dục, không sanh vào cõi Sắc, không sanh vào cõi Vô sắc, thường sanh vào chỗ hữu tình để làm lợi ích an lạc vào giáo hóa hữu tình.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát từ khi mới phát tâm có thể nhập vào ngôi vị chánh định của Bồ tát, cho đến trụ vào địa vị Bất thối chuyển.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát từ lúc mới phát tâm, có thể theo thứ lớp mà chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, chuyển diệu pháp luân, độ thoát vô lượng, vô số hữu tình, giúp họ được lợi ích an lạc thù thắng, nhập vào cảnh giới Vô dư y Niết bàn. Sau khi nhập Niết bàn, thì chánh pháp đã nói trước kia được trụ một kiếp, hay hơn một kiếp, làm lợi ích cho vô số các loại hữu tình.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát từ lúc mới phát tâm, có thể tương ưng với Bát Nhã và cùng vô lượng, vô số trăm ngàn câu chi, na do tha đại Bồ tát cùng nhau dạo chơi các cõi Phật, rồi cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen chư Phật Thế Tôn, thành tựu các hữu tình, trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã đạt được bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, và ở trong đó có thể sinh hoạt tự tại. Nghĩa là: Trước tiên nhập sơ tịnh lự, ra khỏi sơ tịnh lự nhập vào diệt đẳng chí (7); ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào tịnh lự thứ hai; ra khỏi tịnh lự thứ hai nhập vào diệt đẳng chí; ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào tịnh lự thứ ba; ra khỏi tịnh lự thứ ba nhập vào diệt đẳng chí; ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào tịnh lự thứ tư; ra khỏi tịnh lự thứ tư nhập vào diệt đẳng chí; ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào Không vô biên xứ; ra khỏi Không vô biên xứ nhập vào diệt đẳng chí; ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào Thức vô biên xứ; ra khỏi Thức vô biên xứ nhập vào diệt đẳng chí; ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào Vô sở hữu xứ; ra khỏi Vô sở hữu xứ nhập vào diệt đẳng chí; ra khỏi diệt đẳng chí nhập vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ; ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhập vào diệt đẳng chí.

Như vậy, Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã dùng phương tiện thiện xảo với các đẳng chí lần lượt vượt qua thuận nghịch, qua lại dạo chơi một cách tự tại.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát mặc dù đã đạt được bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo, cũng đã tu Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, nhưng không đắc quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, Bất hoàn, hoặc quả A la hán, hoặc Độc giác Bồ đề, hoặc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Còn đại Bồ tát tu hành Bát Nhã nhờ có phương tiện thiện xảo, khiến cho các hữu tình tu bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo; hoặc đắc quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, hoặc Độc giác Bồ đề; cũng khiến cho các hữu tình tu Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Này Xá lợi Tử! Các trí tuệ của quả vị Thanh văn, Độc giác tức là nhẫn của đại Bồ tát.

Này Xá lợi Tử! Nên biết, đại Bồ tát ấy đã trụ vào địa vị Bất thối chuyển, an trụ vào Bát Nhã mới có thể làm được việc như vậy.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát an trụ vào sáu pháp Ba-la-mật, làm thanh tịnh cung trời Đâu suất thì trong Hiền kiếp này sẽ được thành Phật, làm lợi ích an lạc cho vô lượng hữu tình.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, tuy đã đắc bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc. Đã tu bốn niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo. Cũng đã tu Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Luôn siêng năng tu học hướng đến Bồ đề, nhưng hiện chưa thông đạt về bốn đế. Nên biết đại Bồ tát ấy còn buộc một đời, chưa đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật, đi đến các thế giới an lập hữu tình vào Vô thượng giác, làm trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Nên biết đại Bồ tát ấy phải trải qua vô lượng, vô số đại kiếp mới đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát an trụ vào sáu pháp Ba-la-mật, luôn siêng năng tinh tấn làm lợi ích hữu tình. Miệng không bao giờ nói lời vô nghĩa, thân tâm không tạo nghiệp vô nghĩa.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát thường lấy sáu pháp Ba-la-mật làm hàng đầu để tu Bồ tát hạnh, ban cho các hữu tình tất cả vật ưa thích: Cần thức ăn cho thức ăn, cần thức uống cho thức uống, cần y phục cho y phục, cần xe cho xe , cần giường chiếu cho giường chiếu, cần nhà cửa cho nhà cửa, cần của cải gạo thóc cho của cải gạo thóc, v.v... cần những vật gì cũng đều đem cho hết; siêng năng tu các việc thiện, chỉ dạy đoạn trừ các điều ác, giúp họ chứng đắc Niết bàn thường vui.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát hóa thân giống như Phật vào khắp các địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, trời, người, tùy theo âm thanh từng loại mà nói chánh pháp để họ đạt được lợi ích an vui thù thắng.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát an trụ sáu pháp Ba-la-mật, hóa thân giống như Phật đi khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương, vì các hữu tình mà giảng nói Chánh pháp, làm trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật; cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen Chánh pháp của chư Phật thuyết, nắm lấy hết tướng thanh tịnh tối thắng vô thượng của cõi Phật rồi tự tạo cho mình cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh tối thắng Vô thượng. Trong đó, an trí các Bồ tát vào Nhất sanh bổ xứ để cho họ mau chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà họ mong cầu.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân thể, các căn lanh lợi thanh tịnh không ai bằng. Chúng sanh nào thấy cũng đều kính mến, lần hồi hóa đạo, khiến mau chứng đắc Niết bàn của Tam thừa.

Như vậy, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát nên học làm thanh tịnh nghiệp của thân, khẩu, ý để làm lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật, tuy được các căn lanh lợi tối thắng nhưng không khinh khi coi thường người khác.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát từ lúc mới phát tâm luôn sống trong bố thí, trì giới Ba-la-mật, cho đến khi chưa đạt được địa vị Bất thối chuyển, thì trong tất cả thời gian đó không đọa vào đường ác.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát từ khi mới phát tâm cho đến khi chưa đạt được địa vị Bất thối chuyển, không bao giờ lìa bỏ mười thiện nghiệp đạo.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát an trụ trong bố thí, trì giới Ba-la-mật, làm Chuyển luân vương có đầy đủ oai đức lớn, thường đem của cải quí báu ra bố thí cho hữu tình, giúp họ sống theo mười thiện nghiệp đạo.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu học bố thí, trì giới Ba-la-mật, nhiếp nhận trăm ngàn phước báo như Chuyển luân vương. Nhờ đây mà đại Bồ tát ấy gặp vô lượng trăm ngàn chư Phật Thế Tôn, để cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, không bao giờ bỏ qua.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát an trụ vào sáu pháp Ba-la-mật, thường vì hữu tình làm cho chánh pháp chiếu sáng, không bao giờ xa lìa ánh sáng Phật pháp. Như vậy lần lượt cho đến khi chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà mình mong cầu.

Xá lợi Tử! Do nhân duyên này mà đại Bồ tát ấy luôn luôn phát triển Phật pháp. Cho nên, này Xá lợi Tử! Các Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã không nên tạo tội từ thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

 

Khi ấy, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tội từ thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát suy nghĩ như vầy: Những gì là thân, do thân này mà ta tạo nghiệp về thân? Những gì là ngữ, do lời nói này mà ta tạo ngữ nghiệp? Những gì là ý, do ý này mà ta tạo ra ý nghiệp? Này Xá lợi Tử! Đó gọi là tội từ thân, khẩu, ý nghiệp.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã, chẳng đắc thân và thân nghiệp, chẳng đắc ngữ và ngữ nghiệp, chẳng đắc ý và ý nghiệp.

Xá Lợi Tử! Nếu đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã đã đắc thân ngữ ý và các nghiệp kia, bèn khởi tâm xan tham, phạm giới, giận dữ, biếng lười, tán loạn, ác huệ.

Xá Lợi Tử! Nếu đại Bồ Tát tu hành Bát Nhã khởi tâm như thế, không có lẽ ấy.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã tạo ra ba loại thô trọng về thân, khẩu, ý cũng không có vấn đề đó. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã có khả năng làm thanh tịnh ba thô trọng về thân, khẩu, ý nghiệp.

Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát làm thanh tịnh ba thô trọng về thân, khẩu, ý như thế nào?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, không đắc thân và các thô trọng của thân, không đắc ngữ và các thô trọng của ngữ, không đắc ý và các thô trọng của ý. Này Xá lợi Tử! Như vậy là đại Bồ tát có khả năng làm thanh tịnh ba thô trọng về thân, khẩu, ý.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát từ khi mới phát tâm có thể thọ trì đầy đủ mười thiện nghiệp đạo, không có tác ý về Thanh văn, Độc giác, mà luôn nhớ nghĩ độ thoát tất cả hữu tình. Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy cũng gọi là có thể làm thanh tịnh ba thô trọng.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật làm thanh tịnh đạo Bồ đề.

Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là đại Bồ tát làm thanh tịnh đạo Bồ đề?           

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát khi tu Bồ tát hạnh, không đắc thân nghiệp, không đắc ngữ nghiệp, không đắc ý nghiệp. Không đắc bố thí; không đắc tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật. Không đắc Thanh văn, không đắc Độc giác, không đắc Bồ tát, không đắc Như Lai, không đắc tất cả pháp. Này Xá lợi Tử! Đó là đạo Bồ đề mà đại Bồ tát làm thanh tịnh.

Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật hướng đến đạo Bồ đề thì không có gì ngăn cản được.

Khi ấy, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật hướng đến đạo Bồ đề không có gì ngăn cản được?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật không chấp giữ sắc, không chấp giữ thọ, tưởng, hành, thức. Không chấp giữ mười hai xứ, không chấp giữ mười tám giới. Không chấp giữ địa giới, không chấp giữ thủy, hỏa, phong, không, thức giới. Không chấp giữ bốn niệm trụ cho đến không chấp giữ tám chi Thánh đạo. Không chấp giữ bố thí; không chấp giữ tịnh giới, an nhẫn tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật. Không chấp giữ Phật mười lực; không chấp giữ bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Không chấp giữ quả Dự lưu; không chấp giữ quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán. Không chấp giữ Độc giác Bồ đề, không chấp giữ Bồ tát hạnh, không chấp giữ quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Này Xá lợi Tử! Do nhân duyên này mà các đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật, tăng trưởng mạnh mẽ hướng đến đạo Bồ đề, không có gì ngăn cản.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát an trụ vào Bát Nhã, mau viên mãn Nhất thiết trí trí, thành tựu thắng trí cho đến đóng cửa tất cả các cảnh giới ác, được thân trời, người, không còn nghèo khổ, các căn được đầy đủ, tướng mạo đẹp đẽ, được trời, người, thế gian kính mến.

 

Khi ấy, Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là đại Bồ tát thành tựu được thắng trí?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Nhờ thành tựu trí này mà các đại Bồ tát thấy tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương, được nghe hết thảy âm thanh của chư Phật thuyết pháp, thấy tất cả Thanh văn, Độc giác, Bồ tát Tăng v.v... ở trong hội và thấy rõ tướng trang nghiêm thanh tịnh của cõi ấy.

Này Xá lợi Tử! Nhờ thành tựu trí này mà các đại Bồ tát không có tưởng về thế giới, không có tưởng về Phật, không có tưởng về Pháp, không có tưởng về Tăng, không có tưởng về Bồ tát Tăng, không có tưởng về Độc giác Thanh văn, không có tưởng về mình, không có tưởng về người, không có tưởng về sự trang nghiêm thanh tịnh của cõi Phật.

Này Xá lợi Tử! Nhờ thành tựu trí này mà các đại Bồ tát tuy hành bố thí nhưng không đắc bố thí, mặc dầu hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật nhưng không đắc tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật; mặc dầu tu bốn niệm trụ nhưng không đắc bốn niệm trụ; mặc dầu tu bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi Thánh đạo nhưng không đắc 37 pháp trợ đạo; mặc dầu đầy đủ Phật mười lực mà không đắc Phật mười lực; mặc dầu có bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng nhưng không đắc bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát ấy được thành tựu thắng trí. Nhờ trí này mà các đại Bồ tát mau viên mãn tất cả Phật pháp. Mặc dầu có thể viên mãn tất cả Phật pháp nhưng không chấp thủ.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành sáu pháp Ba-la-mật đạt được năm loại mắt thanh tịnh, đó là: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.

 

Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát được nhục nhãn thanh tịnh?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy một trăm du thiện na (do-tuần), có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy hai trăm du thiện na, có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy ba trăm... cho đến một ngàn du thiện na. Có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy cõi châu Thiệm bộ, có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy hai đại châu, có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy bốn đại châu, có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy Tiểu thiên thế giới, có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy Trung thiên thế giới, có đại Bồ tát với nhục nhãn có thể thấy Tam thiên đại thiên thế giới.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát đạt được nhục nhãn thanh tịnh.

 

Xá lợi Tử bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát được thiên nhãn thanh tịnh?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Thiên nhãn của đại Bồ tát có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Tứ đại thiên vương chúng, trời Ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại, cũng có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Phạm hội, trời Đại phạm; cũng có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Quang, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang, trời Quang âm; cũng có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Tịnh, trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh; cũng có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Quảng, trời Thiểu quảng, trời Vô lượng quảng, trời Quảng quả; cũng có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Vô tưởng hữu tưởng; cũng có thể thấy như thiên nhãn của tất cả trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện, trời Thiện kiến, trời Sắc cứu cánh.

Xá Lợi Tử! Có Bồ Tát thiên nhãn thấy được tất cả trời Bốn đại vương chúng cho đến Trời Sắc cứu cánh, mà thiên nhãn của các Trời chẳng thể thấy được.

Này Xá lợi Tử! Thiên nhãn của các đại Bồ tát có thể thấy và biết rõ như thật các loại hữu tình chết đây sanh kia trong hằng hà sa số thế giới khắp mười phương. Đó là thiên nhãn thanh tịnh của đại Bồ tát.

 

Xá lợi Tử lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát được tuệ nhãn thanh tịnh?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát có tuệ nhãn thanh tịnh không thấy có pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp thiện, pháp ác, pháp hữu tội, pháp vô tội, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp có nhiễm, pháp lìa nhiễm, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp tạp nhiễm, pháp thanh tịnh...

Này Xá lợi Tử! Tuệ nhãn của đại Bồ tát ấy không thấy có pháp có thể thấy, có thể nghe, có thể hay, có thể biết. Đó là đại Bồ tát được tuệ nhãn thanh tịnh.

 

Xá lợi Tử lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát được pháp nhãn thanh tịnh?

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Pháp nhãn của đại Bồ tát có thể biết rõ như thật những sự sai khác của các loại hữu tình, nghĩa là biết rõ hạng này là tùy tín hành, hạng này là tùy pháp hành, hạng này là vô tướng hành, hạng này là trụ không, hạng này là trụ vô tướng, hạng này là trụ vô nguyện, hạng này là do ba pháp môn giải thoát phát sanh năm căn, do năm căn mà phát sanh vô gián định, do vô gián định mà phát sanh giải thoát tri kiến, do giải thoát tri kiến mà vĩnh viễn đoạn trừ ba kiết sử, đó là thân kiến, giới cấm thủ và nghi. Nhờ đoạn trừ ba kiết sử này mà đắc quả Dự lưu. Đây là bắt đầu phần tu đạo, làm mỏng dục tham và sân mà đắc quả Nhất lai. Từ đây nhờ thượng phẩm tu đạo, trừ sạch dục tham và sân mà đắc quả Bất hoàn. Từ đây lại nhờ tăng thượng tu đạo, trừ sạch năm thuận thượng phần kiết sử, đó là: sắc tham, vô sắc tham, vô minh, mạn, trạo cử. Nhờ đoạn trừ năm thượng phần kiết sử mà đắc quả A la hán.

Nhờ pháp môn giải thoát không mà phát sanh năm căn. Nhờ năm căn mà phát sanh vô gián định. Nhờ vô gián định mà phát sanh giải thoát tri kiến. Nhờ giải thoát tri kiến mà vĩnh viễn đoạn trừ ba kiết, đắc quả Dự lưu, nói rộng cho đến đắc quả A la hán.

Như vậy, nhờ pháp môn giải thoát vô tướng mà phát sanh năm căn. Nhờ năm căn mà phát sanh vô gián định. Nhờ định vô gián mà phát sanh giải thoát tri kiến. Nhờ giải thoát tri kiến mà vĩnh viễn đoạn trừ ba kiết sử, đắc quả Dự lưu, nói rộng cho đến đắc quả A la hán.

Như vậy, nhờ pháp môn giải thoát vô nguyện mà phát sanh năm căn. Nhờ năm căn mà phát sanh định vô gián. Nhờ định vô gián mà phát sanh giải thoát tri kiến. Nhờ giải thoát tri kiến mà vĩnh viễn đoạn trừ ba kiết, đắc quả Dự lưu, nói rộng cho đến đắc quả A la hán.

Đây do không vô tướng giải thoát môn, đây do không vô nguyện giải thoát môn, đây do vô tướng vô nguyện giải thoát môn, nói rộng cũng vậy. Xá Lợi Tử! Đấy là đại Bồ Tát được tịnh pháp nhãn.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Pháp nhãn của các đại Bồ tát có thể biết như thật tất cả pháp tập đều là pháp diệt. Do biết như vậy liền đắc năm căn. Đó là đại Bồ tát đắc pháp nhãn thanh tịnh.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Pháp nhãn của đại Bồ tát có thể biết như thật đại Bồ tát này ban đầu phát tâm tu hành bố thí, trì giới thành tựu tín căn và tinh tấn căn, dùng phương tiện thiện xảo suy nghĩ đến nơi thọ thân của mình để tăng trưởng pháp lành. Đại Bồ tát ấy sanh vào đại tộc Sát đế lợi cho đến sanh vào đại tộc Cư sĩ, hoặc sanh lên cõi trời Tứ đại thiên vương chúng cho đến sanh vào cõi trời Tha hóa tự tại, an trụ vào những nơi đó mà làm cho chúng sanh được thành tựu, bố thí cho hữu tình đủ loại vật ưa thích, làm trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, phụng thờ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, và cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen, không rơi vào những địa vị Thanh văn, Độc giác, cho đến khi đạt quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề không bao giờ thối chuyển.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát được pháp nhãn thanh tịnh.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Pháp nhãn của đại Bồ tát có thể như thật biết: Đại Bồ tát ấy đã được thọ ký quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Đại Bồ tát ấy chưa được thọ ký quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Đại Bồ tát ấy đã đắc Bất thối chuyển, đại Bồ tát ấy chưa đắc Bất thối chuyển. Đại Bồ tát ấy thần thông đã viên mãn. Đại Bồ tát ấy chưa viên mãn thần thông. Đại Bồ tát ấy có thể đến hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương để cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen chư Phật Thế Tôn; đại Bồ tát ấy không thể đến hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương để cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen chư Phật Thế Tôn. Đại Bồ tát ấy đã đắc thần thông, đại Bồ tát ấy chưa đắc thần thông. Đại Bồ tát ấy đã trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, đại Bồ tát ấy chưa trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật. Đại Bồ tát ấy đã làm chúng sanh được thành tựu, đại Bồ tát ấy chưa làm chúng sanh được thành tựu. Đại Bồ tát ấy đã được chư Phật khen ngợi, đại Bồ tát ấy chưa được chư Phật khen ngợi. Đại Bồ tát ấy đã gần gũi chư Phật, đại Bồ tát ấy chưa gần gũi chư Phật. Đại Bồ tát ấy sống lâu vô lượng, đại Bồ tát ấy sống có giới hạn. Đại Bồ tát ấy khi đắc Bồ đề, có vô lượng Bí sô Tăng; Đại Bồ tát ấy khi đắc Bồ đề, Bí sô Tăng có giới hạn. Đại Bồ tát ấy khi đắc Bồ đề có Bồ tát Tăng, đại Bồ tát ấy khi đắc Bồ đề không có Bồ tát Tăng. Đại Bồ tát ấy có hạnh khổ khó hành, đại Bồ tát ấy không có hạnh khổ khó hành. Đại Bồ tát ấy đã ở vào thân cuối cùng, đại Bồ tát ấy chưa ở vào thân cuối cùng. Đại Bồ tát ấy đã ngồi tòa Bồ đề, đại Bồ tát ấy chưa ngồi tòa Bồ đề. Đại Bồ tát ấy bị ma đến quấy nhiễu, đại Bồ tát ấy không có ma đến quấy nhiễu. Đó là đại Bồ tát đắc pháp nhãn thanh tịnh.

Khi ấy, Xá lợi Tử lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát đắc Phật nhãn thanh tịnh?

 

Phật dạy:

- Này Xá lợi Tử! Tâm Bồ đề không gián đoạn, các đại Bồ tát nhập vào Kim cương dụ định nên đắc Nhất thiết tướng trí, thành tựu Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, đắc Phật nhãn thanh tịnh. Nhờ đắc được Phật nhãn này nên các đại Bồ tát không còn chỗ nào mà không thấy, không có gì mà không nghe, không có điều gì mà không biết. Đó là đại Bồ tát đắc Phật nhãn thanh tịnh.

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát muốn đắc năm loại mắt thanh tịnh như vậy thì nên học sáu pháp Ba-la-mật. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì sáu pháp Ba-la-mật ấy có khả năng bao gồm tất cả pháp lành thù thắng. Đó là tất cả pháp lành của Thanh văn, pháp lành của Độc giác, pháp lành của Bồ tát, pháp lành của Như Lai...

Này Xá lợi Tử! Nếu có thuyết rằng: Bát Nhã thẳm sâu năng thu nhiếp tất cả pháp lành thù thắng, đấy là chánh thuyết. Vì sao? Vì Bát Nhã sâu là mẹ của tất cả pháp lành, có thể sanh ra tất cả Ba-la-mật và công đức thù thắng của năm loại mắt v.v... (Q. 481, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát muốn đắc năm loại mắt thanh tịnh như vậy thì phải học Bát Nhã.

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát muốn đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề phải học năm loại mắt.

Này Xá lợi Tử! Nếu đại Bồ tát học năm loại mắt thì nhất định đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. 

 

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã có thể phát sanh sáu phép thần thông Ba-la-mật:

 

Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát có thần cảnh trí chứng thông, có thể làm ra các loại thần biến lớn. Nghĩa là làm chấn động tất cả vật trong hằng hà sa đại địa ở mười phương, biến một thành ra nhiều, biến nhiều thành một, hoặc hiện hoặc ẩn, nhanh chóng không bị chướng ngại. Vượt thẳng qua bờ núi tường vách giống như đi trong hư không. Qua lại trên không trên đất bằng giống như chim bay. Ra vào dưới đất giống như ra vào trong nước. Đi trên nước như đi trên đất. Thân phát ra khói lửa như lửa cháy trên cao nguyên. Trong thân chảy ra những dòng nước như băng tuyết tan chảy… Số biến hóa như vậy nhiều vô lượng, vô biên. (Q.482, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát này tuy đầy đủ công dụng của thần cảnh trí như vậy nhưng đối với sự việc ấy không tự cao; không chấp tánh của thần cảnh trí chứng thông; không chấp vào việc thần cảnh trí chứng thông; không chấp người có thể đắc thần cảnh trí chứng thông. Đối với chấp hay không chấp cả hai đều không có gì để chấp. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh không, vì tự tánh lìa, vì tự tánh xưa nay bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy không vì ham vui mà phát sanh thần cảnh trí chứng thông như vậy, mà chỉ vì muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, phát sanh thần cảnh trí chứng thông Ba-la-mật.

 

Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát với thiên nhĩ trí chứng thông là thiên nhĩ thanh tịnh, tối thắng siêu nhân, có thể như thật nghe mọi thứ tiếng của loài hữu tình, vô tình trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương. Nghĩa là nghe tiếng khắp cả địa ngục, tiếng của bàng sanh, tiếng của ngạ quỷ, tiếng người, tiếng trời, tiếng Thanh văn, tiếng Độc giác, tiếng Bồ tát, tiếng Như Lai và tất cả tiếng của loài hữu tình vô tình khác, dù tiếng lớn hay nhỏ đều nghe không bị chướng ngại.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát này tuy có đầy đủ công dụng của thiên nhĩ trí như vậy nhưng không tự cao, không chấp tánh thiên nhĩ trí chứng thông; không chấp vào việc thiên nhĩ trí chứng thông; không chấp người có thiên nhĩ trí chứng thông. Đối với chấp hay không chấp cả hai đều không có gì để chấp. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh không, vì tự tánh lìa, vì tự tánh xưa nay bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy không phải vì ham vui mà phát sanh thiên nhĩ trí chứng thông Ba-la-mật, mà chỉ vì muốn đắc Nhất thiết trí trí.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, mà phát sanh thiên nhĩ trí chứng thông Ba-la-mật.

 

Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát với tha tâm trí chứng thông có thể như thật biết tâm và tâm sở của các loài hữu tình trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương. Nghĩa là biết các loài hữu tình có tâm tham hay tâm lìa tham, có tâm sân hay tâm lìa sân, có tâm si hay tâm lìa si, có tâm ái hay tâm lìa ái, có tâm thủ hay tâm lìa thủ, có tâm tập trung hay tâm tán loạn, có tâm lớn hay tâm nhỏ, có tâm cao thượng hay tâm thấp hèn, có tâm tịch tịnh hay tâm không tịch tịnh, tâm trạo cử hay tâm không trạo cử, tâm định hay tâm không định, tâm giải thoát hay tâm không giải thoát, tâm hữu lậu hay tâm vô lậu, có tâm hẹp hay có tâm rộng, có tâm cao tột hay không có tâm cao tột… với các tâm này, đại Bồ tát ấy đều biết như thật.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát này tuy đầy đủ công dụng của tha tâm trí thông nhưng trong đó không tự cống cao; không chấp tánh của tha tâm trí chứng thông; không chấp vào việc tha tâm trí chứng thông; không chấp vào người có thể đắc tha tâm trí chứng thông. Đối với chấp hay không chấp cả hai đều không có gì để chấp. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh không, vì tự tánh lìa, vì tự tánh xưa nay bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy không phải vì ham vui mà phát sanh tha tâm trí chứng thông như vậy, mà chỉ vì muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Này Xá lợi Tử! Đó là Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã mà phát sanh tha tâm trí chứng thông Ba-la-mật.

 

Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát với túc trụ tùy niệm trí chứng thông, có thể nhớ như thật tất cả việc đời trước của hữu tình trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương. Nghĩa là nhớ các việc trong quá khứ của một tâm cho đến một trăm tâm của mình và người. Hoặc nhớ lại những việc đã qua trong một tháng cho đến trăm tháng ở quá khứ của mình và người. Hoặc nhớ các việc đời trước trong một năm cho đến trăm năm của mình và người. Hoặc nhớ lại những việc đời trước trong một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, hơn trăm ngàn kiếp, cho đến vô lượng trăm ngàn câu chi, na do tha kiếp. Hoặc nhớ lại tất cả việc đời trước ở kiếp trước. Nghĩa là thời gian như vậy, nơi chốn như vậy, tên như vậy, họ như vậy, loài như vậy, ăn uống như vậy, tồn tại lâu như vậy, tuổi thọ như vậy, khổ vui như vậy. Từ nơi này, qua đời sanh vào chỗ kia, từ chỗ kia qua đời sanh vào chỗ này, dung mạo như vậy, nói năng như vậy, hẹp hòi hay phóng khoáng… Các việc đã qua như vậy đều có thể nhớ cả.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát này đầy đủ các công dụng của túc trụ tùy niệm trí như vậy, nhưng trong đó không tự cống cao, không chấp tánh túc trụ tùy niệm trí chứng thông, không chấp vào việc túc trụ tùy niệm trí chứng thông, không chấp người có thể đắc túc trụ tùy niệm trí chứng thông. Với chấp hay không chấp cả hai đều không có gì để chấp. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh không, vì tự tánh lìa, vì tự tánh xưa nay bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy không phải vì ham vui mà phát sanh túc trụ tùy niệm trí chứng thông, mà chỉ vì muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát tu hành Bát Nhã mà phát sanh túc trụ tùy niệm trí chứng thông Ba-la-mật.

 

Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát với thiên nhãn trí chứng thông thanh tịnh hơn thiên nhãn của người, có thể như thật thấy các màu sắc, hình tượng của loài có tình, chẳng phải có tình trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương. Thấy các hữu tình khi chết, lúc sống, thể sắc đẹp hay xấu, cõi lành hay cõi ác, hoặc thua hoặc hơn, tùy theo lực dụng của nghiệp mà thọ sanh khác biệt. Như vậy, hữu tình nào thành tựu ba diệu hạnh thuộc thân, ngữ, ý, khen ngợi Hiền Thánh, chánh kiến về nhân duyên, thì sau khi qua đời sẽ sanh vào cõi lành, hoặc sanh lên trời, hoặc sanh vào cõi người hưởng các khoái lạc. Còn hữu tình nào tạo ba ác hạnh thuộc thân, ngữ, ý, chê bai Hiền Thánh, tà kiến về nhân duyên, thì sau khi qua đời sẽ đọa vào đường ác, hoặc sanh vào địa ngục, hoặc làm bàng sanh, hoặc làm ngạ quỷ, hoặc sanh nơi biên địa hạ tiện xấu ác. Hữu tình tập trung đó chịu các khổ não.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát này tuy đầy đủ thiên nhãn thanh tịnh như vậy, có thể thấy hữu tình trong các cõi ở mười phương chết đây sanh kia, nhân quả sai khác, nhưng trong đó không tự cống cao, không chấp tánh của thiên nhãn trí chứng thông, không chấp vào việc thiên nhãn trí chứng thông, không chấp người có thể đắc thiên nhãn trí chứng thông như vậy. Đối với chấp hay không chấp cả hai đều không có gì để chấp. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh không, vì tự tánh lìa, vì tự tánh xưa nay bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy không phải vì ham vui mà phát sanh thiên nhãn trí chứng thông như thế, mà chỉ vì muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát tu hành Bát Nhã mà phát sanh thiên nhãn trí chứng thông Ba-la-mật.

 

Này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát với lậu tận trí chứng thông, có thể biết như thật tất cả hữu tình trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương lậu đã tận hay chưa tận. Bồ tát đắc lậu tận thông này không rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác, chỉ hướng đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, không còn mong muốn nghĩa lợi nào nữa.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát này tuy đầy đủ công dụng của lậu tận trí như vậy, nhưng trong đó không cống cao, không chấp tánh của lậu tận trí chứng thông, không chấp vào sự lậu tận trí chứng thông, không chấp người có thể đắc lậu tận trí chứng thông. Với chấp hay không chấp cả hai đều không có gì để chấp. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì tự tánh không, vì tự tánh lìa, vì tự tánh xưa nay bất khả đắc.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy không phải vì ham vui mà phát sanh lậu tận trí chứng thông như vậy, mà chỉ vì muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Này Xá lợi Tử! Đó là đại Bồ tát tu hành Bát Nhã phát sanh lậu tận trí chứng thông Ba-la-mật.

Như vậy, Này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật mau viên mãn lục thông thanh tịnh. Nhờ lục thông viên mãn thanh tịnh này nên mau chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, an trụ vào bố thí Ba-la-mật làm nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không keo kiệt.

Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, an trụ vào tịnh giới Ba-la-mật làm nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không hủy phạm.

Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, an trụ vào nhẫn nhục Ba-la-mật làm nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không sân giận.

Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, an trụ vào tinh tấn Ba-la-mật làm nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không biếng nhác.

Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, an trụ vào tịnh lự Ba-la-mật làm nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không tán loạn.

Có đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, an trụ vào Bát Nhã Ba-la-mật làm nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không ác tuệ.

Như vậy, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã, an trụ vào sáu Ba-la-mật hoặc riêng hoặc chung, nghiêm tịnh đạo Nhất thiết trí trí, vì hoàn toàn biết là không, nên không qua lại, không lấy bỏ. Tuy làm các việc bố thí (để tránh) xan tham, tịnh giới (để tránh) ác giới, an nhẫn (để tránh) sân giận, tinh tấn (để tránh) biếng nhác, tịnh lự (để tránh) tán loạn, trí tuệ (để tránh) ác tuệ, trong đó không chấp chặt bất cứ thứ gì.

Này Xá lợi Tử! Lúc bấy giờ đại Bồ tát, không chấp bố thí, không chấp xan tham, không chấp tịnh giới, không chấp phạm giới, không chấp an nhẫn, không chấp sân giận, không chấp tinh tấn, không chấp biếng nhác, không chấp tịnh lự, không chấp tán loạn, không chấp trí tuệ, không chấp ác tuệ.

Này Xá lợi Tử! Ngay lúc ấy, đại Bồ tát này không chấp hủy nhục, không chấp khen ngợi, không chấp khinh mạn, không chấp cung kính. Vì sao? Này Xá lợi Tử! Vì trong pháp vô sanh, hủy nhục, khen ngợi, khinh mạn, cung kính đều không có. Vì sao? Vì Bát Nhã Ba-la-mật vĩnh viễn chấm dứt tất cả các chấp trước. (Q.482, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Công đức tối thắng tối diệu của đại Bồ tát ấy do tu hành Bát Nhã đạt được, tất cả Thanh văn và Độc giác đều không thể có được.

Này Xá lợi Tử! Đại Bồ tát ấy công đức viên mãn, có thể thành tựu hữu tình, trang nghiêm cõi Phật, mau chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Lại nữa, này Xá lợi Tử! Các đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã, đều có tâm bình đẳng với các hữu tình. Có tâm bình đẳng với các hữu tình rồi thì đại Bồ tát ấy chứng đắc tánh bình đẳng của tất cả hữu tình, và đắc tánh bình đẳng của tất cả pháp. Sau khi chứng đắc tánh bình đẳng của tất cả hữu tình, và chứng đắc tánh bình đẳng của tất cả pháp, Đại Bồ tát ấy an lập tất cả hữu tình vào trong tánh bình đẳng của tất cả pháp. Ở trong hiện pháp đại Bồ tát ấy được hết thảy đức Phật hộ niệm, được tất cả đại Bồ tát thương yêu tôn trọng, được tất cả Thanh văn, Độc giác cung kính. Đại Bồ tát ấy dù sanh ra ở đâu mắt không bao giờ thấy sắc không đáng ưa, tai không bao giờ nghe tiếng không đáng nghe, mũi thường không ngửi mùi không đáng ngửi, lưỡi thường không nếm vị cay đắng, thân thường không cảm giác những gì gây khó chịu, ý thường không chấp lấy những pháp không đáng thích. (Q. 482, ĐBN)

Này Xá lợi Tử! Đối với quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, đại Bồ tát ấy vĩnh viễn không thối chuyển.

Khi đức Phật đang nói công đức thù thắng của các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã này, hơn một trăm Bí sô rời khỏi chỗ và đem thượng y dâng Thế Tôn. Dâng lên Thế Tôn xong, các vị ấy đều phát tâm hướng đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Khi ấy, Thế Tôn liền mỉm cười, từ trong miệng phóng ra ánh sáng đủ loại màu sắc. Bấy giờ, A Nan Đà rời khỏi tòa, trịch áo bày vai phải, quì gối sát đất, chấp tay cung kính thưa:

- Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà Ngài mỉm cười như vậy, chư Phật mỉm cười ắt có nhân duyên?

Đức Phật dạy A Nan Đà:

- Hơn một trăm Bí sô rời khỏi tòa này, từ đây trở về sau sáu mươi mốt kiếp, trong kiếp Tinh Dụ sẽ thành Phật đều đồng một hiệu là Đại Tràng Tướng Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng, Điều Ngự Trương Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Các Bí sô này sau khi xả thân sẽ sanh vào cõi Phật Bất Động ở phương Đông, ở cõi Phật đó, tu Bồ tát hạnh.

Khi ấy, lại có sáu vạn Thiên tử được nghe Phật nói pháp tương ưng Bát Nhã sâu xa, nên rất hoan hỷ tin tưởng thọ nhận. Thế Tôn thọ ký cho họ sẽ ở trong pháp của Từ Thị Thế Tôn xuất gia với lòng tin trong sạch, siêng năng tu phạm hạnh đoạn trừ các phiền não, chứng vô dư Niết bàn.

Bấy giờ, tất cả đại chúng trong hội, nhờ thần lực của Phật nên đều thấy ngàn đức Phật và các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác cùng chúng hội của các Ngài. Oai đức trang nghiêm của chư Phật đó rất khả ái. Ngay khi ấy, tướng trang nghiêm thanh tịnh cõi thế giới Kham Nhẫn này không thể sánh kịp. Mười ngàn chúng sanh trong chúng hội này đều phát nguyện:

- Phước mà tôi tu được, nguyện xin vãng sanh về những cõi Phật kia.

Biết ước nguyện của những người này, đức Thế Tôn lại mỉm cười, trong miệng lại phóng ra ánh sáng đủ màu sắc.

Bấy giờ, A Nan Đà lại rời khỏi tòa, cung kính hỏi Phật lý do Ngài mỉm cười.

Phật dạy:

- Ông có thấy mười ngàn người này không?

A Nan Đà thưa:

- Bạch Thế Tôn! Con có thấy.

Phật dạy:

- Mười ngàn chúng sanh này do nguyện lực của họ mà sau khi qua đời được vãng sanh về cõi Phật. Từ đó về sau không bao giờ xa lìa Phật, luôn cung kính, cúng dường, tôn trọng, ca ngợi, tu hành sáu pháp Ba-la-mật. Sau khi được viên mãn, sẽ chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, đều cùng một Phật hiệu là Trang Nghiêm Vương Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trương Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

 

5. Đoạn Kinh sau đây tương đương với phẩm "Khen Thắng Đức" quyển 10,

Hội thứ I hay phẩm “Vô Đẳng Đẳng” quyển 405, Hội thứ II, ĐBN.

 

Khi ấy, ở trong chúng, cụ thọ Xá lợi Tử, cụ thọ đại Mục Kiền Liên, cụ thọ đại Ẩm Quang, cụ thọ Thiện Hiện v.v... các đại Bí sô, Bí sô ni, đại Bồ tát, Ổ ba sách ca (thiện nam), Ổ ba tư ca (tín nữ) đều rời khỏi tòa chấp tay cung kính thưa:

- Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát được chứng đắc Bát Nhã Ba-la-mật là Đại Ba-la-mật, là Quảng Ba-la-mật, là Đệ nhất Ba-la-mật, là Tôn Ba-la-mật, là Thắng Ba-la-mật, là Diệu Ba-la-mật, là Vi diệu Ba-la-mật, là Cao Ba-la-mật, là Lực Ba-la-mật, là Thượng Ba-la-mật, là Vô thượng Ba-la-mật, là Vô thượng thượng Ba-la-mật, là Đẳng Ba-la-mật, và Vô đẳng Ba-la-mật, là Vô đẳng đẳng Ba-la-mật, là như hư không Ba-la-mật, là Vô đối đãi Ba-la-mật, là Tự tướng không Ba-la-mật, là Cộng tướng không Ba-la-mật, là Thành tựu nhất thiết công đức Ba-la-mật, là Bất khả khuất phục Ba-la-mật, là có thể điều phục tất cả Ba-la-mật. (Q.482, ĐBN)

Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật rất tôn quí, rất thù thắng, tối cao, tối diệu, đầy đủ thế lực lớn, có thể thực hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật không gì sánh bằng; có thể viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật không gì sánh bằng; có thể đầy đủ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã Ba-la-mật không gì sánh bằng; có thể đắc tự thể không gì sánh bằng, đó là thân được trang nghiêm vô biên tướng tốt đẹp vi diệu, có thể chứng pháp không gì sánh bằng. Đó là quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Bạch Thế Tôn! Cũng do tu hành Bát Nhã cực viên mãn nên được sắc vô đẳng đẳng, được thọ tưởng hành thức vô đẳng đẳng, chứng Bồ đề vô đẳng đẳng, quay xe pháp vô đẳng đẳng, lợi ích an vui các loại hữu tình. Chư Phật quá khứ vị lai hiện tại cũng do tu hành Bát Nhã thẳm sâu, năng đối Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề đã sẽ hiện chứng. Vậy nên, Bạch Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát kẻ muốn đến tất cả pháp ở bờ kia rốt ráo, nên tu học Bát Nhã Ba-la-mật.

Bạch Thế Tôn! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã làm cho tất cả trời, người, A tu la, Kiền đạt phược v.v... trong thế gian đều cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen.

Bấy giờ, Thế Tôn dạy Xá lợi Tử:

- Đúng vậy! Như lời ông nói! Các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật làm cho tất cả trời, người, A tu la, Kiền đạt phược v.v... trong thế gian đều cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen. Vì sao? Vì nhờ đại Bồ tát ấy mà thế gian có trời, người xuất hiện. Đó là đại tộc Sát đế lợi, đại tộc Bà la môn, Trưởng giả, Cư sĩ, Chuyển luân Thánh vương và tiểu vương phú quí có quyền lực, trời Tứ đại thiên vương chúng cho đến trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ xuất hiện ở thế gian.

Nhờ đại Bồ tát này mà thế gian xuất hiện Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác, Bồ tát và chư Phật. Nhờ đại Bồ tát này mà thế gian xuất hiện Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Nhờ đại Bồ tát này mà thế gian xuất hiện những thứ để sanh sống. Đó là thức ăn, uống, y phục, giường chiếu, thuốc thang trị bệnh, của cải, gạo thóc, trân bảo, đèn đuốc v.v... Nói tóm lại, tất cả thú vui của trời người, A tu la v.v... và Niết bàn đều phát sanh từ đại Bồ tát ấy. Vì sao? Vì đại Bồ tát ấy tự mình hành sáu pháp Ba-la-mật, và khuyến khích người khác tu hành. Cho nên, nhờ các đại Bồ tát tu hành Bát Nhã mà tất cả hữu tình đều đạt được lợi ích an vui thù thắng.

 

6. Đoạn Kinh sau đây tương đương với phẩm "Hiện Tướng Lưỡi", phần sau quyển 10,

Hội thứ I hay phẩm “Tướng Lưỡi” quyển 405, Hội thứ II, ĐBN.

 

Bấy giờ, đức Thế Tôn hiện tướng lưỡi che khắp Tam thiên đại thiên thế giới. Từ nơi tướng lưỡi này lại phát ra vô lượng tia sáng đủ màu sắc, chiếu khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật mười phương. Khi ấy, mỗi cõi Phật trong hằng hà sa số thế giới ở mười phương đều có vô lượng, vô số các đại Bồ tát thấy ánh sáng lớn này đều nghi ngờ, các vị đến chỗ Phật của cõi mình cúi đầu cung kính thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đây là thần lực của ai, lại do nhân duyên gì mà có ánh sáng lớn chiếu các cõi Phật như vậy?

Khi ấy, mỗi đức Phật trả lời cho các đại Bồ tát:

- Ở phương kia có thế giới Phật tên Kham Nhẫn, Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn đang giảng nói Bát Nhã Ba-la-mật cho chúng đại Bồ tát, hiện tướng lưỡi che khắp Tam thiên đại thiên thế giới. Từ tướng lưỡi lại phát ra vô lượng ánh sáng đủ màu sắc, chiếu đến hằng hà sa số thế giới các cõi Phật ở mười phương. Ánh sáng này là do tướng lưỡi của Phật ấy hiện ra.

Khi ấy, vô lượng, vô biên các đại Bồ tát ở mỗi cõi nghe xong hoan hỷ bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn đến thế giới Kham Nhẫn để chiêm ngưỡng, lễ bái, cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni và các Bồ tát, đồng thời nghe Bát Nhã Ba-la-mật. Cúi xin đức Thế Tôn thương xót cho phép chúng con được đi.

Mỗi đức Phật đều dạy:

- Nay đã đúng lúc, các ông hãy đi tự nhiên.

Bấy giờ, được Phật đồng ý, các đại Bồ tát lễ lạy dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải rồi từ giã ra đi. Các Đại Bồ tát sửa soạn đủ thứ vật quí báu nào tràng phan, lọng, y phục, anh lạc, vòng hoa thơm, trân bảo, vàng bạc, các loại hoa v.v… tấu lên đủ loại âm nhạc vi diệu. Trong chốc lát đã đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni, cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen Phật và Bồ tát, đi nhiễu trăm ngàn vòng rồi lễ Phật và lui qua một bên.

Khi ấy, trời Tứ đại thiên vương chúng cho đến trời Sắc cứu cánh đều đem vô lượng vòng hoa thơm và vô lượng hoa trời thượng diệu đến chỗ đức Phật cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen Phật, Bồ tát, đi nhiễu trăm ngàn vòng, đảnh lễ dưới chân Phật rồi lui qua một bên.

Cũng lúc ấy, các đại Bồ tát trong mười phương và vô lượng trời ở cõi Dục giới và Sắc giới, dâng cúng đủ loại vật báu như tràng phan, lọng, y phục, anh lạc, hương hoa, châu báu và các âm nhạc v.v… Nhờ thần lực của Phật tất cả vật cúng dường ấy vọt lên không trung hợp lại thành một cái lọng, lớn bằng tam thiên đại thiên thế giới, bốn góc trên đỉnh lọng đều có cờ báu được trang nghiêm đủ kiểu rất đáng ưa thích.

Bấy giờ, trong hội có trăm ngàn ức, hàng ngàn ức chúng, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay cung kính thưa:

- Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện đời vị lai sẽ làm Phật, tướng hảo, oai đức như Thế Tôn ngày nay, cõi nước trang nghiêm, đại chúng Thanh văn, Bồ tát, người, trời chuyển pháp luân đều như Phật ngày nay.

Bấy giờ, Thế Tôn biết được tâm nguyện của họ, đối với các pháp đã ngộ vô sanh nhẫn, hiểu rõ tất cả bất sanh, bất diệt, vô tác, vô vi, nên Ngài mỉm cười, từ miệng phóng ra ánh sáng đủ màu sắc.

Lúc đó, A nan đà liền rời khỏi chỗ ngồi, chấp tay cung kính thưa:

- Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà Ngài mỉm cười? Chư Phật mỉm cười không phải là không có nguyên nhân.

Phật bảo: A Nan Đà:

- Trăm ngàn ức, hàng ngàn ức chúng rời khỏi chỗ ngồi này, đối với các pháp đã ngộ vô sanh nhẫn, hiểu rõ tất cả bất sanh, bất diệt, vô tác, vô vi. Các vị ấy ở đời vị lai trải qua sáu mươi tám ức đại kiếp, siêng năng tu hạnh Bồ tát, trong kiếp Hoa Tích sẽ được thành Phật, đều đồng một hiệu là Giác Phần Hoa Như Lai, Ứng Chánh đẳng giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Sĩ Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Bạc già phạm.

 

Thích nghĩa:

 (1). Tam minh (三明 Phạm: Tri-vidya. Pàli: Ti-vijjà). I. Tam Minh. Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp. Trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được vị Vô học. Tam minh gồm có: 1- Túc mệnh trí chứng minh (Phạm: Pùrva-nivàsànusmfti-jĩàna-sàkwàtkriya-vidỳa); cũng gọi Túc trụ tùy niệm trí tác chứng minh, Túc trụ trí chứng minh, Túc trụ trí minh, Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng của mình và chúng sinh từ một đời cho đến trăm nghìn vạn ức đời. 2- Sinh tử trí chứng minh (Phạm: Cyuty-upapattì-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Sinh tử trí minh, Thiên nhãn minh, Thiên nhãn trí: Trí tuệ biết rõ tướng trạng sống chết của chúng sinh lúc tử lúc sinh, sắc thiện sắc ác, hoặc do nhân duyên tà pháp thành tựu ác hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường ác; hoặc do nhân duyên chính pháp thành tựu thiện hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường thiện... 3- Lậu tận trí chứng minh (Phạm: Àsrava-kwaya-jĩàna-sàkwàt-kriyavidỳa), cũng gọi Lậu tận trí minh, Lậu tận minh, Lậu tận trí: Trí tuệ biết rõ như thực đã chứng được lý Tứ đế, giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất cả phiền não. Theo luận Đại tỳ bà sa quyển 102 thì Túc mệnh minh thấy được các việc quá khứ nên sinh tâm chán lìa, Thiên nhãn minh thì thấy được các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa, còn Lậu tận minh thì đã chán lìa rồi bèn ưa thích Niết bàn. Ngoài ra, Túc mệnh minh có thể đoạn trừ thường kiến, Thiên nhãn minh thì dứt trừ được đoạn kiến; còn Lậu tận minh thì xa lìa cả hai bên thường, đoạn mà an trụ ở Trung đạo. Nếu phối với 6 thần thông thì Tam minh này theo thứ tự lấy thần thông thứ 5, thứ 2, thứ 6 trong 6 thần thông làm tự tính.[X. Kinh Tạp a hàm Q.31; luận Đại trí độ Q.2; luận Tập dị môn túc Q.3,15; luận Tạp a tỳ đàm tâm Q.6; luận Câu xá Q.27]. (xt. Lục Thần Thông]. II. Tam Minh. Chỉ cho Bồ tát minh, Chư Phật minh và Vô minh minh. Cứ theo Kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc) thì Bồ tát minh tức Bát Nhã Ba-la-mật, Chư Phật minh tức Phật nhãn, Vô minh minh tức Tất cánh không. [X. Niết bàn Kinh hội sớ Q.16; Hoa nghiêm Kinh thám huyền ký Q.15]. - Từ điển Phật Quang.

(2). Bốn điều thông suốt (tứ vô ngại trí hay tứ vô ngại giải): Phẩm “Các Tướng Công Đức”, quyển 381, tập 16, ghi tứ vô ngại giải như sau:

“Thiện Hiện! Vì sao gọi là bốn vô ngại giải? Thiện Hiện! Hiểu nghĩa vô ngại, hiểu pháp vô ngại, hiểu lời vô ngại, hiểu biện vô ngại. Thiện Hiện! Đấy là bốn vô ngại giải. Thiện Hiện! Sao là hiểu Pháp vô ngại? Nghĩa là trí duyên pháp vô ngại. Thiện Hiện! Sao là hiểu Nghĩa vô ngại? Nghĩa là trí duyên Nghĩa vô ngại. Thiện Hiện! Sao là hiểu Lời vô ngại? Nghĩa là trí duyên lời vô ngại. Thiện Hiện! Sao là hiểu Biện vô ngại? Nghĩa là trí duyên biện vô ngại”.

Bốn sự hiểu biết thông suốt: Còn gọi là bốn trí vô ngại (tứ vô ngại trí): Bốn năng lực lý giải và diễn đạt vô ngại: 1- Pháp vô ngại, 2- Nghĩa vô ngại, 3- Từ vô ngại, 4- Nhạo thuyết vô ngại. Bốn trí không ngăn ngại này cũng chính là Bốn biện tài vô ngại (Tứ vô ngại biện), Bồ Tát khi đạt được bốn trí này thì có thể vì tất cả chúng sinh mà biện thuyết Chánh pháp không ngăn ngại. Xem lại phần thứ I, Tổng luận.

(3). Bốn điều không sợ (Tứ vô sở úy): Phẩm “Quảng Thừa” quyển thứ 06, tập 01, Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba-La-Mật ghi tứ vô sở úy như sau:

Thế nào là bốn? Phật nói lời thành thật rằng ta là bực nhất thiết chánh trí (Chánh Đẳng Giác). Đối với những điều như thật gạn hỏi về các pháp của tất cả đại chúng, Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy an trụ ngôi Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả hàng Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên Vương, Phạm Vương, Ma Vương, cùng chúng sanh khác đều không chuyển được. Đây là vô sở úy thứ nhất.

Phật nói lời thành thật rằng ta là bực tất cả lậu đã dứt diệt. Đối với chỗ gạn hỏi như thật về lậu phiền não đây của tất cả đại chúng, Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy, an trụ ngôi Thánh chúa, ở giữa đại chúng chư sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả Trời, Người cùng chúng sanh khác không chuyển được. Đây là vô sở úy thứ hai.

Phật nói lời thành thật rằng ta đây biết những pháp chướng ngại chánh đạo giải thoát. Đối với những lời gạn hỏi như thật về pháp chướng đạo đây của tất cả đại chúng. Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy, an trụ bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả Nhơn, Thiên cùng chúng sanh khác đều không chuyển được. Đây là vô sở úy thứ ba.

Phật nói lời thành thật rằng những Thánh đạo mà ta đã dạy quyết định có thể ra khỏi thế gian, theo đây thực hành thời có thể hết khổ. Đối với những lời gạn hỏi như thật về Thánh đạo đây của tất cả đại chúng. Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy, an trụ bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả Nhơn, Thiên cùng chúng sanh khác đều không chuyển được. Đây là vô sở úy thứ tư.(Xem lại phần thứ I, Tổng luận)

Như vậy, Kinh ĐBN hay MHBNBLM phân biệt Bốn sự hiểu biết thông suốt (tứ vô ngại trí) và Bốn điều không sợ (Tứ vô sở úy): khác nhau. Chớ nhầm lẫn hai pháp này! Xem lại phần thứ I Tổng luận.

(4). Ổ ba ni sát đàm phần (鄔波尼殺曇分, Phạm: Upaniwadam-api) Cũng gọi Ưu ba ni sa đà phần, Ưu ba ni xa phần. Gọi tắt: Ni sát đàm, Ni tát đàm. Danh từ chỉ số lượng cực kỳ bé nhỏ ở Ấn độ đời xưa. Hi lân âm nghĩa quyển 1 (Đại 54, 937 trung) nói: Tiếng Phạm Ni sát đàm phần là đơn vị cực nhỏ trong số tính đếm; hoặc gọi là Ưu ba ni sái đà, Tuệ lâm âm nghĩa dẫn Du già đại luận dịch là phần nhỏ nhiệm. Như chẻ 1 sợi lông ra làm 100 phần, rồi lại chẻ 1 phần trong 100 phần ấy ra làm trăm nghìn vạn phần, lại lấy 1 phần trong trăm nghìn vạn phần ấy chẻ ra như trước, cho đến lân hư (sát mé hư không), tức đến chỗ không thể chẻ ra được nữa, đó gọi là Ô ba ni sát đàm phần. [X. Kinh Đai-Bát-Nhã Ba-la-mật-đa Q.4; Du già luận lược toản Q.11; Tuệ uyển âm nghĩa Q. thượng]. - Từ điển Phật Quang.

 (5). Thường thì kinh liệt kê hoặc 12 thứ không hay 18 thứ không, nhưng ở đây kinh chỉ ghi vỏn vẹn bảy thứ không? Không biết tại sao?

(6). - Nguyên văn đoạn Kinh bằng chữ Hán trong hoavouu.com:

" Lợi Tử. thị Bồ Tát Ma Ha Tát. bất kiến thiểu pháp ly Pháp Giới giả. bất kiến Pháp Giới ly chư pháp hữu. bất kiến thiểu pháp tức Pháp Giới giả. bất kiến Pháp Giới tức chư pháp hữu. cố. Lợi Tử. pháp dữ Pháp Giới phi tức. ly cố".

 

- Tuvienquangduc.com dịch là:

"Xá Lợi Tử! Đại Bồ Tát này chẳng thấy chút pháp lìa pháp giới ấy, chẳng thấy pháp lìa pháp giới mà có. Chẳng thấy chút pháp tức pháp giới ấy, chẳng thấy pháp giới tức các pháp mà có. Vì cớ sao? Xá Lợi Tử! Vì pháp cùng pháp giới chẳng phải tức ly vậy".

 

- Trong khi Thuvienhoasen.org lại dịch là:

"Này Xá-lợi Tử! Đại Bồ-tát ấy không thấy một pháp nhỏ nào lìa pháp giới, không thấy pháp giới lìa các pháp hữu, không thấy pháp nhỏ tức là pháp giới, không thấy pháp giới tức là các pháp hữu. Vì sao? Này Xá-lợi Tử! Pháp và pháp giới chẳng phải lìa nhau".

Cách dịch của tuvienquangduc. com chính xác hơn, vì thuvienhoasen.org không dịch từ "pháp hữu", nên khó hiểu. Chắc quý vị còn nhớ phẩm "Thiện Đạt", Hội thứ hai. Nói: "Pháp giới tức không phải tất cả pháp, cũng chẳng phải lìa tất cả pháp". Quyển 472, cùng phẩm "Thiện Đạt" nói trên, Phật bảo: "Đại Bồ tát nào muốn học pháp giới thì phải học tất cả pháp. Vì sao? Vì tất cả pháp đều nhập vào pháp giới" - "Các đại Bồ tát khi hành sâu Bát Nhã, nếu thấy có pháp lìa pháp giới, thì chẳng thể đạt sở cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề". Vì vậy, nên biết: "Pháp cùng pháp giới chẳng tức chẳng ly vậy".

Lưu ý: Nếu chưa rõ hoặc từ hoặc giáo nghĩa hay phương cách diễn tả hoặc lối dịch thuật chuyển ngữ, xin quý vị xem lại các phẩm liện hệ thuộc Hội thứ I và Hội thứ II. Trong bản Tổng luận này, thích nghĩa và lược giải của Hội thứ I được xem là rõ ràng và đầy đủ hơn các Hội khác.

(7). Diệt đẳng chí: các Hội khác gọi là diệt tận định, có thích nghĩa trong phần thứ I Tổng luận.

 

Lược giải:

 

Kinh nếu viết quá ngắn, gãy gọn thì khó hiểu, nếu viết quá dài thì khó nắm và gây mệt mỏi. Một trong các pháp hội viết tương đối ngắn gọn có lẽ là Hội thứ II mà chúng ta vừa tụng qua. Hội thứ III tuy ngắn, lại có ít phẩm vì gộp nhiều phẩm của Hội thứ I hay Hội thứ II lại với nhau như đã nói ở trên. Để tránh cho độc giả khỏi mệt mỏi và nắm vững giáo pháp Bát Nhã, nên chúng tôi chia mỗi phẩm ra làm nhiều phân đoạn. Sự phân chia này chỉ có hình thức, lại rất phù hợp với các phẩm liên hệ của hai Hội trước trong việc so chiếu và đọc tụng, nhưng không gây ảnh hưởng hay trở ngại đối với giáo pháp.

Mong rằng sự phân đoạn này mang nhiều tiện lợi cho quý vị hơn là tạo phiền phức!

Về phương diện giáo nghĩa, Hội thứ III không khác hai Hội trước. Có thể nói cùng một thứ rượu, chỉ khác bình! Quý vị có thể theo từng phân đoạn quay lại tham khảo các phẩm liên hệ nếu có thắc mắc.

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn