Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

51. Phẩm “Hạnh Nguyện” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

08/07/202020:24(Xem: 545)
51. Phẩm “Hạnh Nguyện” (Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

Pham Hanh Nguyen 


TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

 

 

PHẨM “HẠNH NGUYỆN”

Phần đầu quyển 331, Hội thứ I, ĐBN

(Tương đương phần cuối phẩm “Mộng Hành” quyển thứ 19, MHBNBLM)

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le



 


 

 

Tóm lược:

 

Này Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình bị lệ thuộc cảnh chúa tôi thì phát nguyện rằng: Ta phải tinh cần, chẳng tiếc thân mạng, tu hành sáu phép Ba-la-mật, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, khiến mau viên mãn, chóng chứng quả vị Giác ngộ tối cao. Trong cõi Phật của ta, không có ai là chúa, không có ai là tôi, ai muốn làm việc gì đều được tự do, cho đến chẳng thấy hình tượng chúa tể, cũng chẳng nghe danh tự chúa tể, chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác dùng pháp thống nhiếp gọi là Pháp Vương.

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát ấy do sáu phép Ba-la-mật này, mau được viên mãn, gần gũi quả vị Giác ngộ tối cao.

Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình sống trong các cảnh giới sai biệt: Địa ngục, quỷ giới, súc sanh, A tu la, nhơn, thiên, thấy rồi phát nguyện: Khi ta thành đạo, trong cõi Phật ta, không các cảnh giới sai biệt cũng không có danh tự sai biệt là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh v.v… Tất cả hữu tình đều cùng một loài, cùng tu một pháp là lục Ba-la-mật, an trụ pháp không nội cho đến pháp không không tánh tự tánh; an trụ chơn như, an trụ pháp giới, pháp tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế v.v…; an trụ tứ Thánh đế, tu hành 37 pháp trợ đạo; tu hành bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; tu hành tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ; tu hành tam giải thoát môn; tu hành năm loại mắt, sáu phép thần thông; tu hành pháp môn Đà la ni, Tam ma địa; tu hành Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; tu hành pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; tu hành Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; tu hành Bồ tát hạnh; tu hành quả vị Giác ngộ tối cao.

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát ấy do sáu phép Ba-la-mật này, mà mau được viên mãn, gần gũi quả vị Giác ngộ tối cao.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình sanh ra trong bốn loài sai biệt: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh(1). Thấy như vậy rồi, mới phát nguyện khi thành Phật rồi trong cõi Phật Ta, các loài hữu tình đều là hóa sanh.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình không có năm loại thần thông, đối với việc làm không được tự tại. Thấy rồi phát nguyện, nếu Ta thành Phật, trong cõi Ta các loại hữu tình có năm tuệ thần thông đều được tự tại.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình thọ dụng đoàn thực(2), thân có các thứ đại tiểu tiện, máu mủ hôi thối, thật đáng chán bỏ, thệ nguyện rằng: Khi Ta thành Chánh Đẳng Chánh giác rồi, trong cõi Phật của Ta, các hữu tình đều cùng thọ dụng món ăn diệu pháp hỷ, thân thể thơm sạch, không có các việc đại tiểu tiện dơ uế.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình thân không ánh sáng, có làm việc gì phải nhờ đến ánh sáng bên ngoài. Nghĩ như thế rồi mới thệ nguyện: Nếu chứng quả vị Giác ngộ tối cao, trong cõi Phật của ta, thân các loài hữu tình đầy đủ ánh sáng, chẳng nhờ ánh sáng bên ngoài.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy nơi cư ngụ của các hữu tình có ngày có đêm, có tháng nửa tháng, thời tiết số năm, chuyển biến chẳng thường, thì ước nguyện rằng: Trong cõi Phật của ta, không có ngày đêm, và tháng nửa tháng, thời tiết số năm v.v…

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình tuổi thọ ngắn ngủi. Đã nghĩ vậy rồi, phát lời nguyện: Ta phải tinh cần, tu học, chóng mau chứng quả, khiến trong cõi Phật của ta, tuổi thọ của các loài hữu tình dài lâu, khó biết kiếp số.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình không có các tướng tốt, mới ước nguyện, khi Ta thành Phật, cõi nước Ta, các loại hữu tình đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc viên mãn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy loài hữu tình xa lìa các căn lành, mới phát nguyện: Trong cõi Phật của ta, các loại hữu tình, tất cả đều thành tựu căn lành vi diệu thù thắng. Do căn lành này, thường cúng dường chư Phật, nương vào phước lực này, tùy theo chỗ thọ sanh, được hưởng nhiều phúc lợi.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình có đủ các bệnh về thân tâm, mới phát nguyện: Khi Ta thành Phật, cõi nước của ta, các loại hữu tình, thân tâm thanh tịnh, không có nỗi khổ về bệnh, cho đến không nghe tên của các loại bệnh cũng chẳng nghe các bệnh phiền não như tham, sân, si, mạn v.v…

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy có hữu tình có đủ các ý thích: Hoặc có người thích hướng đến Thanh văn thừa, hoặc có người thích hướng đến Độc giác thừa, hoặc có người thích hướng đến Vô thượng thừa. Thấy như vậy rồi mới ước nguyện, khi Ta thành Phật rồi thì cõi nước Ta chỉ có một thừa duy nhất, là Đại thừa mà thôi.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình khởi tăng thượng mạn; chưa có thể thật sự xa lìa thập ác mà cho ta đã tu xong thập thiện; chưa đắc thiền, chưa đắc định mà cho ta đắc thiền, đắc định; chưa đắc tứ vô lượng mà cho ta đã hoàn tất từ, bi, hỷ, xả; chưa đắc các thần thông mà cho là đã chứng các thần thông; chưa đắc bậc chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện mà cho là đắc bậc chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện; chưa đắc quả vị Độc giác mà cho là đắc quả vị Độc giác; chưa đắc lục Ba-la-mật mà cho là đắc lục Ba-la-mật. Nói rộng ra, chưa đắc tất cả pháp Phật mà cho rằng ta đã chứng đắc tất cả pháp Phật.

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát ấy, thấy việc đó rồi, nghĩ thế này: Ta phải làm thế nào để cứu giúp các loại hữu tình như thế, khiến họ xa lìa sự kết buộc của tăng thượng mạn. Đã nghĩ vậy rồi, phát lời nguyện: Ta phải tinh cần, chẳng tiếc thân mạng, tu hành sáu phép Ba-la-mật, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, khiến mau viên mãn, chóng chứng quả vị Giác ngộ tối cao. Trong cõi Phật của ta, không có hạng tăng thượng mạn như thế, tất cả hữu tình lìa tăng thượng mạn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy các hữu tình chấp trước các pháp, đó là chấp trước sắc, chấp trước thọ, tưởng, hành, thức; chấp trước 12 xứ, 18 giới; chấp trước tất cả pháp Phật. Đại Bồ tát ấy, thấy việc đó rồi, phát thệ nguyện: Trong cõi Phật của ta, các loại hữu tình không có các loại chấp trước như thế.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu phép Ba-la-mật, thấy có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hào quang giới hạn, tuổi thọ giới hạn, các chúng đệ tử số lượng giới hạn. Đại Bồ tát ấy, thấy việc đó rồi, nghĩ thế này: Ta làm thế nào để được hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, và các chúng đệ tử số lượng không giới hạn. Đã nghĩ vậy rồi, phát lời nguyện: Ta phải tinh cần, chẳng tiếc thân mạng, tu hành sáu phép Ba-la-mật, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật khiến mau viên mãn, chóng chứng quả vị Giác ngộ tối cao. Bấy giờ, thân ta hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, số lượng đệ tử được tăng lên vô lượng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu Ba-la-mật, thấy cõi nước của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, có chu vi giới hạn. Đại Bồ tát Ma ha tát này thấy việc đây rồi, liền nghĩ: Ta phải làm sao cho cõi Phật này có chu vi vô hạn. Đã suy nghĩ rồi, tác lời nguyện này: Ta phải tinh siêng chẳng đoái thân mạng, tu hành sáu Ba-la-mật, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật khiến cho mau viên mãn chứng quả vị Giác ngộ tối cao. Đại thiên thế giới mười phương đều như số cát sông Hằng hợp làm một cõi, Ta ở trong ấy thuyết pháp giáo hoá vô lượng vô số vô biên hữu tình.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có đại Bồ tát tu đủ sáu Ba-la-mật, thấy các hữu tình đường sanh tử quá dài, ác cõi hữu tình số ấy vô biên. Đại Bồ tát này thấy việc đây rồi, liền nghĩ: Ngằn mé sanh tử y như hư không, các cõi hữu tình cũng lại như thế. Tuy không thật có các loại hữu tình trôi lăn trong sanh tử hoặc được Niết bàn, mà các hữu tình vọng chấp là có, xoay quanh sanh tử, chịu khổ vô biên. Ta phải làm sao phương tiện cứu vớt. Đã suy nghĩ rồi, tác lời nguyện này: Ta phải tinh siêng chẳng đoái thân mạng, tu hành sáu Ba-la-mật, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật khiến cho chóng chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Vì các hữu tình thuyết Vô thượng pháp, đều khiến giải thoát đại khổ sanh tử, cũng khiến chứng biết sanh tử, giải thoát đều vô sở hữu, đều rốt ráo không.

Thiện Hiện! Đại Bồ tát này do sáu Ba-la-mật đây, mau được viên mãn gần gũi Vô thượng Bồ đề.

 

Thích nghĩa:

(1). Hóa sanh: Noãn sanh là sanh ra từ trứng như trứng nở ra gà; thai sanh là sanh ra từ bào thai như loài có vú; thấp sanh là sanh nơi ẩm thấp như muỗi. Hóa sanh chỉ cho các loài không do cha mẹ sanh, mà do nghiệp lực sanh ra tùy theo họ ưa thích nơi nào liền thụ sanh nơi đó. Những người tu theo Tịnh Độ chẳng hạn, niệm Phật viên mãn thì khi chết hóa sanh từ các hoa sen trong cõi Cực lạc của Phật A Di Đà.

(2). Đoàn thực hay suyển thực là thức ăn vo tròn. Theo tục lệ Ấn độ, dân Ấn không dùng muỗng nĩa để ăn mà hay dùng tay vo tròn thức ăn rồi bỏ vào miêng. Đoàn thực, nói chung là thức ăn cõi Dục, chia làm hai loại: 1- Thô thực: Như cơm, bánh, miến, mì v.v... 2- Tế thực: Như bơ, dầu, hương vị và các đồ uống v.v...

 

Lược giải:

 

Phần cuối của phẩm "Mộng Hành" quyển thứ 19, MHBNBLM nói lên ước nguyện sâu xa của một vị Bồ tát giống như ước nguyện của Pháp Tạng Tỳ kheo trong Kinh Vô Lượng Thọ trước khi thành Phật A di đà. Đó cũng là ước nguyện của Văn T, của Phổ Hiền, của Đức Quán Âm Bồ tát hoặc bất cứ một vị Bồ tát nào trong hằng sa thế giới.

Tu Bồ tát đạo hay Bồ tát hạnh là thực hiện Bồ đề tâm, quyết tâm đạt Bồ đề vì lợi ích của hữu tình, nhằm dẫn dắt cho chúng sanh đến Niết bàn dầu phải trải qua bao thử thách gian khổ trong vô lượng kiếp. Nhưng muốn thực hiện hạnh nguyện đó thì trước nhất phải tu đủ sáu phép Ba-la-mật còn gọi là tu lục độ vạn hạnh mới có thể đạt Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, để phục vụ chúng sanh. Hạnh nguyện của một vị Bồ tát là muốn thực hiện một thế giới lý tưởng, tạo một mô hình gương mẫu mà vô lượng vô biên thế giới hằng ước mơ về mọi phương diện vật chất cũng như tinh thần.

 

Phần cuối phẩm “Mộng Hành” quyển thứ 19, MHBNBLM ghi như sau:

“Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Có đại Bồ Tát lúc hành bố thí Ba-la-mật, hoặc thấy chúng sanh đói rét, y phục rách rưới, phát nguyện rằng: Trong thời gian tôi hành bố thí Ba-la-mật đó, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có sự đói rét như vậy. Những đồ dùng, thức ăn, thức uống, y phục… giống như cõi Trời Tứ Thiên Vương, Trời Đao Lợi, Trời Dạ Ma, Trời Đâu Suất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự tại.

Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ bố thí Ba-la-mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.

Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành trì giới Ba-la-mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh sát sanh, trộm cướp nhẫn đến tà kiến, bị chết yểu, nhiều bịnh, tướng xấu, thiếu oai đức, nghèo hèn, tàn tật, phải phát nguyện rằng: Trong thời gian tôi hành Trì giới Ba-la-mật đây, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có nghiệp ác và quả báo xấu như vậy.

Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ Trì giới Ba-la-mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.

Lại này Tu Bồ Đề! Lúc hành Nhẫn nhục Ba-la-mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh giận dữ, thù ghét, mắng nhiếc, đánh đập, tàn sát lẫn nhau, phải phát nguyện rằng: Trong thời gian tôi hành Nhẫn nhục Ba-la-mật đây, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có những sự đó, tất cả đều xem nhau như cha, như mẹ, như anh chị em, như thiện tri thức, đều có lòng từ bi.

Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ Nhẫn nhục Ba-la-mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.

Lại này Tu Bồ Đề! Lúc thực hành Tinh tấn Ba-la-mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh lười biếng, chẳng siêng tu pháp lành, rời bỏ ba thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật, Phật thừa, phải phát nguyện rằng: Trong thời gian tôi hành Tinh tấn Ba-la-mật, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có sự như vậy, tất cả đều siêng tu tinh tấn, đều được đắc độ nơi pháp Nhất thừa.

Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ Tinh tấn Ba-la-mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.

Lại này Tu Bồ Đề! Lúc hành Thiền Ba-la-mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh bị ngũ cái che đậy: dâm dục, ngủ nghỉ, điệu hối, nghi ngờ, mất thiền, mất định, mất vô lượng tâm, phát nguyện rằng: Lúc tôi tu Thiền Ba-la-mật, nguyện khi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi đều không có sự như vậy.

Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ Thiền Ba-la-mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.

Lại này Tu Bồ Đề! Lúc hành Bát Nhã Ba-la-mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh ngu si, mất chánh kiến thế gian, xuất thế gian hoặc cho rằng không nghiệp, không nhân duyên, hoặc cho rằng thân là thường còn, hoặc cho rằng đoạn diệt, hoặc nói là vô sở hữu, phải phát nguyện rằng: Trong thời gian tôi hành Bát Nhã Ba-la-mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có sự như vậy.

Này Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ Bát Nhã Ba-la-mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.

Lại này Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu Ba-la-mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh an trụ nơi ba tụ: Một là chánh định tụ, hai là tà định tụ, ba là bất định tụ, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi hành lục Ba-la-mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện khi tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có tà định tụ, cũng không có danh từ tà tụ.

Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ sáu Ba-la-mật, gần kề Nhất thiết tướng trí”.

Chúng ta có thể lấy “Tứ hoằng thệ nguyện” sau đây làm châm ngôn để kết luận cho phẩm "Hạnh Nguyện" này:

"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
 Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
    Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
         Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành".

 


***

Tu Viện Quảng Đức Youtube Channel

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn