Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

II- Tinh thần đốn ngộ

25/04/201105:57(Xem: 1279)
II- Tinh thần đốn ngộ

THIỀN TRONG ĐỜI THƯỜNG
Thích Thông Huệ

Chương 7: ĐỐN NGỘ

II- TINH THẦN ĐỐN NGỘ:

“Đốn” là ngay tức khắc, rất nhanh chóng; “Ngộ” là nhận ra. Đốn ngộ hiểu theo nghĩa thông thường là nhận ra thể tánh chân thật của mình một cách nhanh chóng thẳng tắt, không qua thứ lớp tu tập. Đây là sự đột biến trong tâm hành giả, là sự chuyển hoá tận gốc rễ. Nhưng đây cũng là kinh nghiệm tự nội, là trạng thái vô ngôn sâu thẳm của riêng mỗi người, không thể trang trải trên tầng hiển ngôn rườm rà, hoa mỹ. Do vậy, đề cập đến tinh thần Đốn ngộ cũng chỉ là gượng nói, còn muốn biết nóng hay lạnh thế nào, chỉ tự mình uống mới rõ.

1-Ngộ là kết quả của sự thao thức miên trường nhưng không mong cầu nóng vội:

Nhà Thiền có câu “Mê nghe kinh trọn kiếp, ngộ chỉ một sát-na”. Trọn kiếp nghe kinh, nghiên tầm văn cú, dù thuộc làu ba tạng kinh điển cũng chỉ dừng lại ở văn và tư, tức nghe và suy gẫm. Người ấy trở thành học giả, thành người đạo đức, nhưng chỉ có sự hiểu biết trên bình diện chữ nghĩa chứ không thể thâm nhập vào đạo lý diệu mầu. Những gì không có chiều sâu thường không bền vững, đến khi gặp hoàn cảnh bức bách, e người ấy không có sự trầm tĩnh ứng phó kịp thời.

Người tu đạo Phật có thể không là học giả, nhưng nhất định phải là hành giả. Các Thiền sư ngày xưa không giảng giải dài dòng, mà thường dùng những phương tiện thiện xảo tùy cơ, khiến môn đệ bặt đường suy nghĩ. Các Ngài tạo cho môn đệ một nỗi thao thức miên viễn, ray rứt trăn trở với khối nghi mãi không thôi. Đúng thời tiết nhân duyên, Thiền sư chỉ cần điểm nhẹ, khối nghi bùng vỡ, thiền sinh đại ngộ.

Sự thao thức đối với thiền sinh như vậy rất quan trọng và cần thiết. Mỗi người có thể có một nghi vấn riêng, hoặc tự mình đặt ra, hoặc do người khác gieo vào. Chẳng hạn ta có thể đặt câu hỏi: “Mặt mũi đích thực của ta là gì ?” hay “Tại sao Đức Phật bảo chúng sanh đều có Phật tánh mà ta phải sống kiếp cùng tử lang thang?”. Ta phải ôm câu hỏi nầy mọi nơi mọi lúc, và phải tự lực tìm câu giải đáp. Đại nghi thì đại ngộ, và nghi thì miên trường nhưng lúc ngộ chỉ trong chớp nhoáng, khi trực giác phát sinh. Chúng ta đã khảo sát kỹ vấn đề nầy trong chương “Khối nghi và thuật khai tâm” ở trước.

Tuy nhiên, thao thức vì mối nghi không đồng hoá với sự mong cầu kết quả. Chúng ta làm việc gì cũng đều có hy vọng, có mong mỏi việc làm đạt kết quả mau chóng, tốt đẹp. Việc tu hành cũng vậy, nhất là đối với những người lớn tuổi, thấy quỹ thời gian của mình không còn bao nhiêu, càng nóng vội mong mau đến đích; ai chỉ bảo pháp tu thẳng tắt, chóng ngộ, chóng chứng, hiện đời thành Phật là tu theo. Do không có chánh kiến nên người ấy dễ bị lừa gạt, có khi sa vào đường ma lối quỷ.

Thật sự, trên đời không có đường xa nào mà không có gian nan trở ngại. Đường đời còn thế, huống chi đường tu. Thành Phật tác Tổ đâu phải chuyện đơn giản dễ dàng mà muốn đạt kết quả trong phút chốc. “Chiến đấu không gian khổ thì chiến thắng không vinh quang”. Chiến đấu với chính bản thân mình lại là cuộc chiến trường kỳ và gian khổ nhất; nhưng nếu thành công, cuộc chiến ấy mới có ý nghĩa đích thực. Đốn ngộ tuy xảy ra trong một sát-na, nhưng trước khi có sát-na ấy, người tu phải có những điều kiện gì, phải công phu như thế nào, phải chuẩn bị tâm thức ra sao. Đó là những điều chúng ta cần nắm vững trước khi tiến hành việc lớn của đời mình.

Bài kệ của Tú tài Trương Chuyết có hai câu:

Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh
Thú hướng chân như tổng thị tà.

Lúc chưa biết tu, chúng ta dung túng phiền não, ai đối xử không tốt với mình thì mình nhớ mãi không nguôi. Khi biết tu, chúng ta lại thấy phiền não là khổ, muốn đoạn trừ phiền não để được an vui. Ta không biết rằng, chính tâm dẹp trừ lại làm ta mất bình an, càng thêm bệnh. Cảnh giới không phiền não mà ta muốn hướng đến chỉ do ý thức vẽ vời ra, chứ không phải cảnh vốn tự tịnh tự an của thể tánh, nên thú hướng “chân như” ấy chính là tà. Người tu chúng ta cần nhận định rõ để khỏi lầm lẫn giữa trạng thái không phiền não do ý thức tưởng tượng ra, và cảnh giới vốn tự bình an khi đạt đạo.

Một ví dụ về kho chứa vật dụmg lâu ngày. Khi dọn dẹp ta vứt bỏ những vật không đáng giá, nhưng còn giữ lại những món có giá trị cao. Tiếp tục dọn dẹp, ta vứt tất cả các thứ, kho trở thành trống rỗng, nhưng vẫn còn giữ lại cái kho trống ấy. Đây là tâm trạng của người tu chúng ta, lúc đầu bỏ ác tìm thiện, rồi vượt qua cả thiện lẫn ác, mọi ý niệm đều vắng bặt. Tuy nhiên, ta lại chấp chặt vào trạng thái trống vắng của tâm mà không biết đó là cái sở thủ vi tế. Lại nữa, có tâm thủ xả là muốn bỏ cảnh phiền não tìm chốn bình an, tức đem tâm nầy lựa chọn tâm kia, đưa đến sự xung đột nội tâm không dừng nghỉ. Ta cũng không biết rằng, khi ta hướng tâm đến chân như tức xem chân như là một thực tại khách quan, tồn tại ngoài mình; thật ra chân như chính là mình, càng nghĩ càng tìm nó lại càng xa thẳm. Tất cả đều vì chúng ta thấy các pháp đều thật có nên dụng công hữu vi hữu tướng, khổ nhọc nhiều mà kết quả chẳng bao nhiêu. Khéo nhận ra mọi cảnh giới phiền não hay bình an đều như hoa đốm, không thật sanh cũng chẳng thật diệt; khéo an trú nơi bản tâm vô nhất vật thì công phu nhẹ nhàng mà thành tựu viên mãn.

2-Ngộ là Bát-Nhã:

Bát-Nhã là cái biết của trí, là hành vi của trực giác không qua trung gian suy luận, không vận dụng thức tâm phân biệt chủ quan. Bát-Nhã quán triệt muôn pháp trong tận cùng bản chất thâm sâu của chúng, dung nhiếp giữa người và cảnh, giữa chủ thể và đối tượng.

Con người chúng ta khi tiếp duyên xúc cảnh, luôn có ý thức xen vào khiến sự nhận định của mình mang đầy tính cực đoan phiến diện. Ta luôn thấy các pháp theo một khuôn mẫu ước lệ, và đặt tên cho chúng bằng sự tưởng tượng vẽ vời của mình, càng lúc càng xa với thực tại. Thật ra, các pháp tự chúng không đẹp-xấu, hay-dở... mà vô ngại dung thông nhau. Nếu thấy các pháp nơi đầu nguồn cội, nơi trước khi có ý niệm phân ranh, rõ ràng chúng bình đẳng trong Không tánh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Phóng nhi tắc bao la thế giới, thâu nhi tắc tế nhập vi trần”, buông ra thì cùng khắp pháp giới mà thu lại chỉ trong một hạt bụi. Khi không còn tâm phân biệt thì ý niệm lớn nhỏ không tồn tại, lớn như núi Tu-di hay nhỏ như hạt cải đều bình đẳng không khác. Thất của Ngài Duy-Ma chỉ vuông vức một trượng nhưng chứa hết vô vàn toà sư tử, đây là một hình ảnh huyền diệu diễn tả một cách sống động tinh thần dung nhiếp của vạn pháp. Vấn đề nầy không thể dùng ý thức suy lường, mà phải nhờ cái biết thấu thể thực tướng của các pháp. “Cái biết thấu thể” ấy là Bát-Nhã, là cảnh giới bất khả tư nghì của những bậc ngộ đạo mà kinh Lăng Già gọi là “Cảnh giới Thánh trí tự chứng”.

Một đệ tử lớn của Đức Phật, Ngài Tu-Bồ-Đề, sau khi khai ngộ lý Không nơi pháp hội Kim Cang Bát-Nhã, được tôn xưng là bậc Giải Không đệ nhất. Một hôm, Ngài tọa thiền trong thạch động, chư thiên mưa hoa cúng dường. Ngài hỏi :

- Các ông là ai? Vì sao đến đây mưa hoa khen ngợi tôi ?
Vị thủ lãnh chư thiên chắp tay thưa :
- Tôi là Thiên Đế Thích, mấy vị kia đều là thiện nhơn.
- Vì sao các vị ân cần khen ngợi tôi như thế ?
- Chúng tôi kính trọng tôn giả nhập Không tam muội khéo thuyết Bát-Nhã.
- Tôi chưa từng nói một chữ Bát-Nhã, cớ sao các ông khen ngợi ?
- Tôn giả không nói, chúng tôi không nghe. Không nói không nghe là chơn Bát-Nhã(15).

Không có người nói, không có đối tượng nói, không có pháp để nói, nhưng không phải phủ định tất cả, mà thấu suốt thực tướng của chúng. Cái thấy lìa ngã chấp và pháp chấp, nhìn mọi sự mọi vật trên thực tướng vô tướng mới là Bát-Nhã chân chánh, là cái thấy biết của bậc ngộ đạo.

Ngài Bá Trượng lúc còn tham học với Mã Tổ Đạo Nhất, theo hầu làm thị giả. Mỗi lần dâng trai phạn, Tổ đều chỉ vào cái bánh hỏi : “Đây là gì ?”.

Suốt ba năm trường, Ngài vẫn mờ mịt không hiểu. Một hôm, thầy trò đi dạo, thấy đàn vịt trời bay qua. Tổ hỏi:

- Đó là cái gì ?
Ngài thưa :
- Bầy vịt trời.
- Bay đi đâu ?
- Bay qua mất rồi.
Mã Tổ nắm mũi Ngài véo mạnh, Ngài đau quá kêu lên. Tổ bảo:
- Sao lại nói bay qua mất ?
Ngài Bá Trượng nhân đây đại ngộ.

Mã Tổ là bậc Thiện tri thức, thấy môn đệ dụng công ròng rã, hôm nay đã chín muồi, nên mới dùng thủ thuậtthiện xảo. Tác động trực tiếp của Tổ khởi nguồn cho trí Bát-Nhã của Ngài Bá Trượng phóng xuất. Lúc đầu thấy có đàn vịt, lát sau thấy không có đàn vịt, cái thấy biết luôn luôn hiện diện, có vắng thiếu bao giờ? Cho nên khi bị véo mũi, vẫn biết đau, biết la thất thanh. Và đây là đoạn lý thú:

Hôm sau, Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống toà, Sư theo sau đến phương trượng. Mã Tổ hỏi : “Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?”.

Sư thưa :
- Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.
- Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào ?
- Chót mũi ngày nay lại chẳng đau.
- Ngươi hiểu sâu việc hôm qua.
Sư làm lễ, lui ra(16).

Mới đọc qua, ta thật ngỡ ngàng vì thầy trò đối đáp không ăn nhập vào đâu cả. Nhưng đó là ngôn phong của những người đã sáng mắt. Ngài Bá Trượng cuốn chiếu không cho Tổ giảng pháp, ý thưa với Tổ không cần nói thêm, vì Ngài đã nhận ra lẽ thật. Tổ về phương trượng, Ngài theo sau và thưa: “Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau”, hôm qua bị Tổ lừa nhưng hôm nay Ngài không còn lầm nữa. Tổ trắc nghiệm lại chỗ thấy biết của Ngài bằng câu hỏi: “Hoâm qua ngươi để tâm chỗ nào?”; nếu trả lời theo câu hỏi tức chạy theo đầu lưỡi của Thiền sư, lại bị lừa thêm lần nữa. Nhưng Ngài Bá Trượng thâït sự đã sống với cái biết hiện tiền, nên trả lời “Chót mũi ngày nay lại chẳng đau”. Do vậy, Mã Tổ đã ấn chứng cho Ngài bằng câu đơn giản “Ngươi hiểu sâu việc hôm qua”.

Từ việc thấy đàn vịt trời đến sự cuốn chiếu và câu đáp “Chót mũi ngày nay”, đều diễn tả cái thường biết sống động hiện tiền, không phải nhờ tọa thiền tập định. Điều nầy cho thấy, ngộ đạo là sự phóng xuất chớp nhoáng của trí tuệ Bát-nhã, có thể xảy ra trong bất cứ khoảnh khắc nào, nơi chốn nào, hoàn cảnh nào, khi đủ thời tiết nhân duyên. Ví như trái cây đã chín muồi, chỉ cần một cơn gió thoảng, một cánh chim vụt qua, một đụng chạm nhẹ..., cũng làm trái rụng. Ngài Linh Vân sau ba mươi năm “tầm kiếm khách”, chợt ngộ đạo khi thấy hoa đào nở; Ngài Đức Sơn ngộ đạo khi Thiền sư Sùng Tín Long Đàm đưa cho cây nến rồi thổi tắt; Banzan ngộ đạo khi đi ngang chợ, nghe người hàng thịt rao bán hàng của mình ... Thiền sư ngộ đạo là ngộ trong sự sống động của muôn pháp, trong sự biến chuyển không dừng của dòng đời, trong vô thường sanh diệt của thế gian, nên trí tuệ Bát-Nhã là cái thường biết đầy sinh lực. Vì đầy sinh lực nên các Ngài thấy các pháp đều là Phật pháp, nên Ta-bà là Tịnh độ, nên tất cả hoa lá chim muông đều cất tiếng niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng!

3- Ngộ là nhận ra bản tâm ngay tại đây và bây giờ:

Một chàng nông dân thấy con thỏ chạy va vào gốc cây và chết. Chàng mừng rỡ, đem con thỏ về nhà. Từ hôm sau, ngày nào chàng cũng đến ngay gốc cây ấy, đợi những con thỏ khác chết theo cách như vậy. Một chàng khác đi thuyền làm rơi kiếm xuống sông. Chàng khắc một dấu lên mạn thuyền để nhớ nơi mình rơi kiếm, đợi thuyền cặp bến mới nhảy xuống nước lặn tìm.

Chúng ta nghe chuyện “Ôâm cây đợi thỏ” và “Khắc dấu mạn thuyền”, cười cho hai chàng nầy quá dại. Nhưng chúng ta liệu có khôn hơn hai chàng không? Ai cũng nhớ nghĩ về quá khứ và mơ màng chuyện tương lai, không biết rằng quá khứ đã qua tương lai chưa đến, tất cả đều không thật. Chúng ta thích ôn lại, sống lại những kỷ niệm xưa, nhất là những khi vui thú. Ngày hôm qua có người khen, ngày nay muốn nghe khen nữa; hôm trước tọa thiền thấy an lạc, hôm nay cũng mong có lại tâm trạng ấy; có khi biết những cơ hội ngộ đạo của các Thiền sư, mình cũng muốn lập lại cơ hội ấy để được ngộ đạo như các Ngài. Học trò gắng công học tập, chịu khổ nhọc gặm rễ đắng của cây học vấn, hy vọng ngày mai nếm quả ngọt; người lao động cần mẫn làm việc, dành dụm, dè xẻn mong ngày mai mình được hạnh phúc giàu sang; người tu tam thường bất túc, tinh cần công phu mong ngày mai thành tựu đạo quả ... Tất cả đều mong đợi sự thành công ở một thời điểm xa vời thực tại.

Chúng ta nghe thêm hai câu chuyện sau đây:

Một người đánh cá chỉ làm việc vào buổi sáng. Trưa và chiều tối anh ta về thuyền nghỉ ngơi, hóng gió, ca hát có vẻ thong dong lắm. Người bạn anh ta thấy lạ, hỏi sao không lo chí thú làm ăn. Người đánh cá hỏi lại:

- Làm việc cả ngày để chi ?
- Để có tiền nhiều.
- Tiền nhiều để làm gì ?
- Để mua thêm thuyền, đánh được nhiều cá, trở thành người giàu có.
- Giàu có để làm gì ?
- Để về già hưởng phước, nhàn hạ, tha hồ hóng mát, ca hát.
- Thì bây giờ tôi cũng đang hóng mát và ca hát đấy thôi !

Câu chuyện thứ hai có tựa là “Phỏng vấn Thượng Đế” (Interview with God ) đọc được trên Internet. Một người nằm mơ thấy mình lên Thiên đường phỏng vấn Thượng Đế:

- Thưa Ngài, điều gì ở loài người làm Ngài ngạc nhiên nhất ?

Thượng Đế trả lời sau một giây suy nghĩ:

- À à... Đó là lúc nhỏ thì họ mong mau lớn, khi lớn rồi lại mong cho nhỏ lại. Đó là họ phung phí sức khoẻ để kiếm được nhiều tiền, rồi bỏ tiền ra để phục hồi sức khoẻ. Lúc nào họ cũng lo lắng toan tính cho tương lai, để rồi chẳng sống trong tương lai mà cũng không an nơi hiện tại !

Những câu chuyện có vẻ đùa chơi, nhưng diễn tả đúng đắn bi kịch của kiếp người. Con người thường khát khao hạnh phúc; và dù quan niệm về hạnh phúc có khác nhau, nhưng tựu trung đều mang tâm trạng truy đuổi, rong tìm. Người thế tục chủ trương hạnh phúc ở tài sản, danh vọng, gia đình êm ấm; hoặc ở sức khoẻ, ở cảm thọ thẩm mỹ nghệ thuật. Người tu tìm hạnh phúc xuất thế ở một cõi thanh tịnh an lạc, sau khi lìa bỏ thân nầy. Tất cả hy vọng đều được đặt vào thì tương lai, nên con người như kẻ lữ hành, cứ cắm cúi đi mà không biết bao giờ đến đích.

Thật ra, hạnh phúc đang lung linh ngay thực tại muôn màu muôn vẻ, khi tâm ta an trú trong sát-na bất động, chánh niệm tỉnh giác trên từng biến chuyển của thân tâm cảnh. Các pháp luôn nhiệm mầu toàn hảo từ vô thủy đến vô chung; và ngộ đạo là trạng thái đột biến của tâm khi nhận ra thực tướng toàn vẹn toàn bích của các pháp, trong khoảnh khắc hiện tiền. Tại hội Linh Sơn, Đức Phật đưa cành hoa lên, Ngài Ca-Diếp mỉm cười, khởi đầu thành lập Thiền tông. Cành hoa đưa lên là một pháp sống động trong giây phút hiện tại; nụ cười Ngài Ca-Diếp cũng là một pháp sống động trong thực tại đang là. Cành hoa không đưa lên nữa, tâm hoa của Ngài Ca-Diếp vẫn nở mãi không tàn. Nếu vắng bặt mọi ý niệm phân tích nhị nguyên, khéo nhận ra thể tánh bất sanh trong dòng sanh diệt của vạn pháp, ta thấy Đức Phật vẫn còn trên hội Linh Sơn cùng chư Thánh chúng. Cành hoa vẫn tươi, nụ cười vẫn nở, có vắng mặt bao giờ ?

Như vậy, Ngộ là quán triệt thực tướng các pháp ngay tại đây và bây giờ. Nhưng Ngộ từ đâu đến? Ý nghĩa của lời dạy “Tức tâm tức Phật” ra sao?

Kinh Pháp Cú có đoạn:

Tâm vi tế khó thấy
Truy đuổi theo dục trần
Người trí phòng hộ tâm
Phòng tâm thì an lạc.

Con người khi tiếp xúc với trần cảnh, thường duyên theo trần khởi niệm phân biệt không lúc nào yên. Tâm dong ruổi mọi nơi mọi lúc, cả khi ta đang tọa thiền. Tâm lén lút ma mảnh, lại không có hình tướng rõ ràng, có lúc vi tế khó thấy, dẫn lôi ta quay cuồng theo ngũ dục. Người tu là phòng hộ tâm không để lang thang trăm nơi nghìn chốn, tức chăn không cho trâu tâm ăn lúa mạ người. Tâm được phòng hộ kỹ, tất nhiên được an vui, cho nên tu ngay tâm là tu tại gốc.

Nhà Thiền thường dùng hình ảnh của ba mặt trăng: Mặt trăng thứ ba là thức tâm phân biệt, là cái thấy biết theo duyên, có tính cách chủ quan phiến diện xa rời thực tại. Mặt trăng thứ hai là tánh thấy nghe hay biết thường hằng không biến đổi, thể hiện qua sáu căn, là cái biết không duyên. Mặt trăng thứ nhất là bản tâm thanh tịnh, là nguồn cội của muôn pháp, là bộ mặt thật xưa nay của chính mình. Có vị Thiền sư bảo, không bao giờ có mặt trăng thứ hai, ý Ngài muốn phá tình chấp của chúng sanh ưa phân biệt rạch ròi cái nầy cái khác. Thật sự, lúc còn là phàm phu hay khi ngộ đạo cũng chỉ một tâm chứ không đâu khác. Sự chuyển hoá tận gốc rễ không phải loại bỏ vọng tâm để có chơn tâm, mà siêu vượt cả chơn và vọng; không phải loại bỏ ý thức, mà chuyển thức thành trí. Cũng một niệm mà đời ta mê mờ, cũng một niệm mà đời ta sáng tỏ, ấy là sự chuyển y, rắn hoá rồng không đổi vảy.

Thiền sinh tu theo pháp môn Tri vọng, giai đoạn đầu phải nhận diện và theo dõi từng tâm niệm, biết chúng hư dối, không theo.Vọng khởi liền biết, không bị vọng dẫn lôi là đã tiến một bước dài. Sau một thời gian, dài hay ngắn tùy căn cơ, thiền sinh tự mình khám phá Tánh Biết vọng, tức nhận ra mặt trăng thứ hai theo cửa Ý căn, cửa Phổ Hiền. Lúc nầy, thiền sinh thấy rõ:

Chợt sinh biết vọng sinh
Chợt diệt biết vọng diệt
Sinh diệt đợt sóng tâm
Biển tâm ngoài sinh diệt.
(Thiên Chân)

Vọng sanh khởi hay hoại diệt ta đều biết rõ; chỉ cần biết mà không trừ dẹp đè nén, vọng tự biến mất và tâm tự an. Lại nữa, sóng dù nổi hay chìm, dù sanh hay diệt cũng không ngoài biển. Sanh diệt chỉ là tướng trạng của sóng, còn biển thì không sanh diệt bao giờ. Cũng vậy, vọng khởi hay vọng lặng không thể rời tâm thể thường hằng bất biến; đó là nền tảng của vạn pháp, là nguyên uỷ của vũ trụ nhân sinh. Ngài Nam Nhạc dạy : “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”(Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu). “Tâm Không” chẳng phải không có tâm, mà là không tâm sanh diệt, không tâm phân biệt, còn Tánh Biết vẫn hiện tiền. Nói thế không phải là lúc có vọng, mặt trời không chiếu, chỉ vì bị che lấp nên tạm thời không thấy ánh sáng đó thôi. Ngôn từ đôi khi làm ta rối rắm và sai lạc, nên khi đọc kinh sách không nên chấp chặt vào chữ nghĩa, phải nên lãnh ý quên lời mới mong thấu suốt nghĩa lý.

Như vậy, khi hay biết mọi sự mọi vật mà có ý thức phân biệt xen vào, đó là vọng tưởng. Khi vẫn hay biết tất cả mà không khởi niệm, ấy là sự thấy biết như thật. Tất cả đều chỉ một tâm, nên cả ba mặt trăng thật ra không hai không khác. Và vì giác ngộ ở ngay tâm, nên tức tâm là Phật.

Một số trường phái chủ trương rời bỏ tiểu ngã là thân mình, trở về Đại ngã là pháp giới. Ấy ví như hòn bọt thấy mình có cùng bản chất nước với biển cả, nên chấp nó chính là biển, nghĩa là bỏ cái nhỏ hòa nhập với cái lớn. Như thế, vẫn còn tình trạng bỏ ngã phàm nhưng trụ ở ngã thánh; trừ được ngã thô nhưng ngã tế chưa sạch. Hành giả bị một lớp sương mù kiêu mạn che mờ tánh giác, chưa ra khỏi vòng đối đãi nhị nguyên tức chưa thoát khỏi sự ràng buộc của ý thức. Đây là điều rất tế nhị, cần suy gẫm kỹ.

 

II- NỘI DUNG THIỀN TẬP:

1- Lộ trình tâm linh:

Trong Bát Chánh đạo, đi đầu là Chánh kiến. Người tu trước tiên phải nắm vững phương pháp hành trì, như người đi đường trước khi khởi hành phải nghiên cứu lộ trình và nơi đến. Nếu không có kiến giải chơn chánh, tu hành theo chánh pháp, thì dù cực khổ công phu đến mấy cũng không đạt được mục đích cuối cùng, đôi khi lầm lạc vào đường tà lối rẽ. Dĩ nhiên, mỗi người có căn cơ, trình độ, sở thích khác nhau, nên sự chọn lựa pháp tu là do tâm ý của riêng mình. Kinh nghiệm tu tập cũng mang tính cách cá nhân, như mỗi bông hoa có một dáng vẻ, một hương thơm khác nhau, nhưng đều chung sức tỏa sắc khoe hương cho vườn hoa tập thể.

Thiền sinh theo dõi từng vận hành của tâm niệm, thấy chúng khởi lên và diệt đi, không còn dấu vết. Biết rõ chúng là hư dối không thật, ta không theo chúng, tự nhiên tâm liền an. Nhận diện tiến trình sinh diệt của vọng niệm là bước đầu của con đường thiền tập; trong đó, nhận ra bộ mặt của vọng là điều kiện đầu tiên tối cần để chiến đấu và chiến thắng giặc phiền não. Một vị tướng tài muốn trăm trận trăm thắng, phải biết rõ ta và địch. Giặc phiền não có tâm vương tâm sở, trận chiến ngay tự thân là trận chiến ác liệt nhất, nếu ta không nhận diện được giặc thì làm sao có chiến tích lẫy lừng? Đây lại là cuộc trường chinh gian khổ, vì tập khí phiền não tích tụ biết bao đời kiếp, không phải một ngày hai ngày là xong việc. Pháp môn tri vọng là lối chăn trâu trong nhà Thiền, có nhiều mức đôï từ thấp đến cao(5).

Chánh niệm là công phu ở mọi nơi mọi lúc. Thiền sinh duy trì sự tỉnh giác thường xuyên, luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, nhận rõ sự động dụng của thân, sự biến đổi của tâm và sự vô thường của cảnh. Chỉ cần biết rõ tất cả mà không khởi niệm hay cưỡng chế mọi sự việc theo ý mình. Chánh niệm tự động soi sáng và chuyển hoá mọi cảm thọ ở thân và những phiền não cấu nhiễm trong tâm, như ánh nắng chiếu vào nước đá, tự nhiên nước đá tan chảy dù ánh sáng không cố ý mong cầu.

Kiến tánh là kiến chiếu vào tận thể tánh của chính mình. Hành giả nhận ra con người thật, con người nguyên thủy trước khi cha mẹ sinh ra. Kiến tánh là trở về cái uyên nguyên của vũ trụ nhân sinh; cái không thể dùng ý thức tưởng tượng nhưng luôn luôn hiện hữu; cái không hình tướng nhưng trùm khắp và không sanh không diệt; cái tịch lặng muôn đời nhưng chiếu soi tận cùng pháp giới. Trở về thể tánh chơn thật ấy, hành giả đã có chỗ y cứ chung thân, đời tu không còn lui sụt nữa.

2- Thiền tập trong mọi hoàn cảnh:

Trước tiên, chúng ta nên nhận định rằng Thiền không phải chỉ là toạ, nên tu Thiền không chỉ ở lúc ngồi. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu khi tâm ta còn lăng xăng đa sự, toạ thiền là công phu cần thiết và cơ bản giúp ta dễ định tâm hơn cả. Một số người dùng lời dạy của Lục Tổ, hoặc chủ trương Thiền là phải sống trong từng giây phút để bài bác việc tọa thiền. Đây là một điều lầm lẫn lớn lao. Đức Phật mỗi sáng sớm trước khi đi giáo hoá, Ngài đều tọa thiền, sau đó xét căn cơ trình độ của những người hữu duyên Ngài sẽ gặp, để chỉ dạy phương pháp tu thích hợp. Một số vị Tổ sư không chủ trương tọa thiền để đối trị sự cố chấp của môn đệ, cho tọa thiền là cứu cánh. Những phương tiện giáo hoá của các Ngài lập bày chỉ vì đương cơ và chỉ thích hợp với đương thời; ngày nay chúng ta lại áp dụng vào mọi nơi mọi lúc, e có khi không hợp lẽ.

Lúc tọa thiền mà có âm thanh hay tiếng động ồn ào bên ngoài, ta vẫn biết nhưng không duyên theo tiếng hoặc sanh tâm bực bội. Những cảnh tượng quấy rầy lúc đầu làm trở ngại, nhưng đó cũng là cơ hội để ta tu trong nghịch duyên. Tuy thế, không nên cố ý tạo nghịch duyên như tự mình mở nhạc hoặc băng thuyết pháp lúc đang tọa thiền, vì thiền không chủ ý chủ tâm. Trường hợp này thường gặp trong gia đình các Phật tử đông người, không có không gian riêng cho mình tu tập. Ta có thể khắc phục hoàn cảnh bằng cách chọn giờ yên tĩnh hoặc một nơi thích hợp cho công phu thiền tọa, kết hợp với thiền hành.

Tọa thiền là công phu trong lúc tĩnh; tiến thêm một bước là tập tu trong khi động, theo tinh thần của Chánh niệm hay làm việc gì chỉ biết việc đó. Trong ngày, lúc thuận tiện ta có thể thiền hành trong phòng, trên sân thượng, trên đường vắng hay ngoài bãi biễn ..., vừa đi vừa hít thở không khí trong lành, chánh niệm trên từng bước chân, Thiền hành là lối công phu có tính cách tự do, không theo nguyên tắc cố định. Đơn giản là ta đi bách bộ một cách chậm rãi, không có đích đến. Lúc đi ta biết mình đang đi, cái biết này chỉ mới trên bề mặt ý thức nhưng là khởi đầu cần thiết. Tâm tĩnh lặng, ta thấy an lạc hạnh phúc nơi từng bước chân. Đến khi đi chỉ biết là đi mà không còn ngã tướng, thì tuy chân vẫn bước mà ý niệm đi biến mất. Đi trong trạng thái vong ngã thì tức khắc ta đi vào bản thể của chính mình. Đi thẳng vào bản thể hoàn toàn trái ngược với sự đi quanh của ngã tướng; điều này khó nói cho người khác hiểu, chỉ nhờ công phu mới tự mình thầm nhận.

Trong một nhóm tu hành, ta có thể tổ chức những bữa cơm nhiếp tâm. Duy trì chánh niệm trên từng động tác, nghĩa là đang gắp, nhai, nuốt ...ta đều biết rõ nhưng không chia nhỏ những động tác ấy. Ví dụ, trong trí ta cứ thầm nhủ theo từng cử chỉ “gắp-gắp lên miệng - bỏ vào miệng – nhai – nhai - nuốt...” thì những động tác ấy không thể nào tự nhiên được. Các món ăn đặt trên bàn, ta có thể gắp một cách từ tốn tự nhiên, vị chua cay ngọt mặn thế nào ta đều biết. Không phải khi ăn không cần biết ngon dở, vì như thế trởû thành vô tri, dần dần quên mất sự sống. Ta có quyền thấy nghe hay biết tất cả, nhưng điều quan trọng là không sanh tâm khen chê ưa ghét, như thế sẽ không xa rời cuộc sống, mới có cơ hội phát sinh Tri kiến Như thật.

Mặt khác, trong những công việc hàng ngày, chỉ cần tỉnh thức chú tâm vào mọi động tác, vào công việc làm. Khi ta quét nhà, chính sự quét nhà là niềm an lạc, nếu ta không xen vào những tư tưởng phức tạp của ý thức. Khi ta nấu cơm, rửa chén, cuốc đất ... cũng vậy. Nấu cơm để nấu cơm, rửa chén là để rửa chén. Chỉ chú tâm vào việc đang làm, việc làm ấy sẽ được chu toàn, năng suất cao, kết quả tốt; và đặc biệt, nơi hành động đã là mục đích, nơi phương tiện đã là cứu cánh. Như thế, Thiền là sự sống trong mọi sinh hoạt bình thường.

Các huynh đệ đồng tu thường có những buổi pháp đàm, trao đổi những kiến giải và kinh nghiệm trong công phu. Những cuộc trao đổi như thế rất hữu ích, với điều kiện phải có tinh thần hòa ái hoan hỉ, mục đích giúp nhau cùng tu tiến chứ không phải tranh luận hơn thua. Nếu không theo tinh thần Tam hòa(6), dễ gây mất sự đoàn kết nội bộ. Khổng Tử nói: “Tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sư”, ba người cùng đi ắt có người làm thầy ta. Ta có thể học được tất cả mọi người, kể cả những người nhỏ tuổi hơn, yếu kém hơn ta. Có người thường thích phát biểu trước tập thể để chứng tỏ mình tu hay hơn, hiểu biết hơn người khác; có người bảo thủ, luôn cho ý kiến của mình là đúng, không chấp nhận những ý kiến trái ngược... Tất cả đều là hành tung của bản ngã. Người có ngã chấp quá lớn không thể tiếp thu gì thêm, như ly nước đã đầy, không rót được thêm vào. Từ đó, đường tu dần dần đi xuống mà không hay biết. Thiền tông nói lên được cái tinh hoa của đạo Phật nên rất thành tựu về mặt truyền pháp, nhưng do chỉ dạy quá thẳng tắt nên nhiều người tưởng hiểu lý Thiền là xong việc, lấy sự hiểu bằng ý thức làm lẽ sống mà không tinh cần công phu, cuối cùng từ hay chuyển sang dở. Thiền sinh chúng ta nên cảnh giác đối với bệnh khẩu đầu thiền, một bệnh phổ biến của những người nói nhiều làm ít. Tu là phải thúc liễm thân tâm, thận trọng trong từng lời nói và tỉnh giác trong từng hành động, lại cần nói ít hơn những điều mình đã thấy. Người có công phu thiền tập tự nhiên sẽ có một phong cách đặc biệt, trầm tĩnh đúng mực từ lời nói đến việc làm.

Các bậc hiền sĩ ngày xưa thường chủ trương Thà chết vinh hơn sống nhục. Danh dự nhiều khi quý giá hơn tài sản, tính mạng. Nhưng làm sao trong vinh dự được tôn xưng mà ta không ngã mạn cống cao, thì có lúc nào đó bị người khinh chê, ta sẽ không quá buồn khổ. Gặp lửa nóng ta biết ngay mà tránh, còn nước mát lại dễ làm mất cảnh giác, chết đuối lúc nào không hay. Nghịch cảnh như lửa nóng, người tu dễ thức tỉnh nhớ xoay lại mình, còn cảnh ấm êm thuận thảo đôi lúc gây kiêu ngạo. Cho nên nhà Thiền không sợ thất bại, mà lại ngại sự thành công; vì chính thất bại là nghịch duyên cần thiết để hành giả có thêm kinh nghiệm tự thân, biết mình còn xấu dở mà tinh cần tu học.

Có một điều tế nhị chúng ta cần lưu ý: Một hôm nào đó ta gặp một người dáng vẻ tu hành mẫu mực, sống trong cảnh bần hàn và luôn chê bai xem thường danh lợi. Tiếp xúc với người ấy đôi lần, ta rất ngưỡng mộ và muốn tôn làm thầy dạy đạo. Nhưng cần tỉnh táo sáng suốt nhận định rõ vấn đề. Ngụ ngôn Pháp kể chuyện con cáo chê chùm nho xanh, không đáng để nó bỏ công hái. Nhưng thật ra, vì chùm nho trên cây cao quá, cáo ta năm lần bảy lượt nhảy lên mà không với tới, nên mới ra bộ chê bai. Đó chỉ là tâm lý phản ứng trước một thứ mà mình không thể có dù thâm tâm rất muốn. Trong đời, chúng ta có thể gặp rất nhiều hình ảnh “con cáo và chùm nho” như thế.

Cổ đức nói:
Phiền não khởi giai do đa sự
Thị phi sanh dĩ thị đa ngôn.

Con người chúng ta không nhiều thì ít đều có những ham muốn đam mê. Chính sự ham muốn tạo thành kiết sử, trói buộc và sai khiến ta phải tìm mọi cách thỏa mãn; đạt được lại muốn nhiều hơn, không đạt khởi sanh sân hận. Nhu cầu bản thân càng cao thì phải ôm đồm nhiều việc, phiền não càng lẫy lừng. Con người trở thành nạn nhân cho chính dục vọng của mình, ngày càng bất an, thần kinh căng thẳng đưa đến những hậu quả khó lường. Lại nữa, khi ngồi với nhau, thường thì chúng ta hết bàn sự phải quấy lại đến chuyện đông tây kim cổ. Nhưng bàn chuyện người thì có ích gì cho mình, càng nói nhiều càng lắm thị phi. Chúng ta có mâu thuẫn là muốn bình an nhưng lại thích luận bàn thế sự, lại thấy rõ cái dở của người mà không biết tìm khuyết điểm nơi mình. Chúng ta tu là chấp nhận những điểm yếu của mình một cách thẳng thắn, và sửa đổi để ngày càng hoàn thiện. Ta nhận định mọi người mọi vật bằng cặp mắt khách quan, không thần tượng hoá người nào, không lý tưởng hoá vật gì. Trên đời không có cái gì tuyệt đối, không chỉ có thầy mình là hay nhất, không chỉ có pháp tu của mình là đúng nhất. Những cái nhìn thiển cận biên kiến là tư tưởng cục bộ chủ quan, làm đóng khuôn và che mờ thực tại. Đạo Phật là đạo trí tuệ, người con Phật phải có chánh kiến, nhìn mọi vấn đề một cách toàn diện và bao dung được mọi tư tưởng lập trường khác biệt. Từ đó, ta có thể hòa đồng với mọi người và chịu đựng mọi hoàn cảnh mà vẫn giữ bản chất, phong thái riêng của mình.

Thiền sư Vạn Hạnh có bài kệ nổi tiếng:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu vô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Nghĩa:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu nhuốm hồng.
Mặc cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.

Khi biết vạn pháp đều không thật, đều vô thường, thì sự thăng trầm thịnh suy của cuộc sống đối với các Ngài như hạt sương trên đầu ngọn cỏ. Chúng ta chưa được tự tại như các Ngài, nhưng nhờ công phu thiền tập, ít nhiều cũng có sự trầm tĩnh. Trước khi quyết định một việc gì, ta suy nghĩ chín chắn, xử thế có lý có tình và có lập trường vững chắc. Ta không từ nan việc gì trong khả năng mà có ích cho đời, làm nhưng không dính mắc vướng bận. Đời sống của ta sẽ có ý nghĩa dù thọ mạng ngắn hay dài; ta hiến dâng nhiều bao nhiêu thì sự an lạc hạnh phúc đến với ta tương đương như thế.

Một số thiền sinh thường thắc mắc: Trong cuộc sống, ai cũng phải tính toán lo toan cho bản thân, cho gia đình. Người tu càng nhiều việc sắp xếp, tổ chức trong tự viện và những việc Phật sự bên ngoài. Suốt ngày suy tính bận bịu như thế có trái với tôn chỉ nhà Thiền là vô sự vô tâm?. Các bậc ngộ đạo cũng trăm công nghìn việc, nhưng các Ngài sắp xếp việc nào ra việc ấy, tính xong rồi buông xả, nên các Ngài làm tất cả mà cũng như không làm. Chúng ta học theo các Ngài, cũng phải lo toan cho cuộc sống hàng ngày một cách chu đáo, làm tròn mọi trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, nhưng không dính mắc, thì dù đa sự mà vẫn không phiền não.

3- Một vài ngộ nhận trong công phu:

* Có người cho rằng, tu hành là phải tránh bớt duyên khi chưa triệt ngộ, nên chủ trương tự tu tự học khi đã biết cách dụng công. Đây là một quan niệm hữu lý, có cơ sở, nhưng nếu ta cố chấp lại sinh ra cực đoan. Ngày xưa, các vị Thiền sư khi kiến tánh, thường vào núi rừng ẩn tu một thời gian gột sạch tập khí, sau đó mới vào cuộc đời giáo hoá chúng nhân. Ngày nay, chúng ta không thể sống một mình nơi hoang dã, uống nước suối ăn trái rừng qua ngày, chưa kể lúc ốm đau hoặc chướng duyên làm trở ngại. Vì thế, phần đông chúng ta đều chấp nhận cuộc sống chung cùng bạn lữ, tuy kết quả không nhanh chóng bằng người xưa, nhưng được lợi là giúp mình giúp người. Mặt khác, nếu nắm vững pháp tu, trong lúc động lại tiến nhanh hơn khi tĩnh. Cùng sống với tập thể, một mặt ta giúp được người đi sau, mặt khác ta nương vào người để củng cố lòng tin, ý chí, để được bảo vệ trước những cám dỗ của ngũ dục. Nhiều người thích tu nơi vắng vẻ, một thời gian tưởng mình đã xong việc, không ngờ khi trở về thế gian lại sanh phiền não, có trường hợp sa ngã, uổng một đời tu. Đây không những là kinh nghiệm đối với người xuất gia, mà còn cho những đạo tràng cư sĩ tại gia.

* Có người hiểu lầm chỉ có tọa thiền mới là tu, nên xem thời gian tọa thiền trong ngày là chuẩn mực đạo đức. Thật ra, khi mới phát tâm, tọa thiền giúp ta dễ an định tâm, do các căn ít tiếp xúc với trần cảnh. Nhưng trong các giai đoạn sau, khi công phu đã thuần thục, ta cần tu trong mọi thời khắc, mọi nơi chốn, mọi oai nghi. Các Thiền sư, khi trả lời câu hỏi “Thiền là gì?”, thường bảo “Dưới gót chân ông” hoặc “Trong thân chỗ nào không có máu?”. Lục Tổ chủ trương kiến tánh chứ không chủ trương tọa thiền, vì chưa kiến tánh thì chưa bước chân vào cửa Thiền tông.

* Một số thiền sinh quan niệm Thiền là cắt đứt mọi hoạt động tâm lý. Đây là lối tu theo kiểu đá đè cỏ, luôn phải chú tâm đè nén vọng tưởng nên hành giả rất sợ cảnh sợ duyên, không có sự sáng tạo và sức sống riêng cho chính mình; đến khi gặp chướng ngại không biết làm cách nào để tránh. Có người lại hiểu Thiền qua sách vở, nghĩ Thiền dễ tu dễ chứng, chưa gì đã tự tôn xưng, thỏng tay vào chợ. Thật là một lầm lẫn tai hại, sao khỏi đọa vào khổ xứ? Tất cả ngôn từ, dù cao siêu hoa mỹ đến đâu, cũng không diễn đạt đến lẽ thật. Muốn ngộ lý Thiền, ta phải khéo thông qua ngôn ngữ mà thầm lãnh hội thực tại phi ngôn. Thiền là đời sống tự mình kinh nghiệm, tự thấu triệt ngay từ những điều bình dị đơn giản nhất.

* Đức Phật bảo “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, ấy là muốn sách tấn hàng môn đệ, vì quả thật mỗi chúng sanh đều có mầm mống giác ngộ. Không có nhân thành Phật, không thể nào chúng ta tu đến quả vị cuối cùng. Nhưng nếu chúng ta hiểu đơn giản rằng, chữ “sẽ thành” có nghĩa là một tương lai nào đó, thì vô hình trung ta có sự vọng cầu mong mỏi. Như thế là không hợp lý đạo. Phật là Phật tâm tại hiện tiền, chứ không phải là một Đấng Cứu thế bên ngoài hay một quả vị Phật ở thời điểm nào xa xôi. Người tu thiền có tâm mong cầu kết quả, có khi công phu thấy cảnh lạ lại khởi lòng vui mừng hay sợ hãi, thường dễ phát sinh bệnh tật, điên cuồng. Đây là điều chúng ta cần thận trọng ghi nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn