Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần [2.8c]

18/04/201318:02(Xem: 8779)
Phần [2.8c]

Tạng Luật
Vinayapitaka

Phân Tích Giới Tỷ-Kheo - II
(Bhikkhuvibhanga II)

Tỳ kheo Indacanda Nguyệt Thiêndịch
---o0o---

VIII. CHƯƠNG ƯNG ĐỐI TRỊ (PĀCITTIYAKAṆḌAṂ)
(tiếp theo)

PHẦN GIÁO GIỚI - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:

[406] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo trưởng lão trong khi giáo giới các tỷ-kheo ni được lợi lộc thuộc về các vật dụng như y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và dược phẩm trị bệnh. Khi ấy, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư đã bàn bạc rằng:

- Này các đại đức, hiện nay các tỷ-kheo trưởng lão trong khi giáo giới các tỷ-kheo ni được lợi lộc thuộc về các vật dụng như y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và dược phẩm trị bệnh. Này các đại đức, vậy chúng ta cũng giáo giới các tỷ-kheo ni.

Sau đó, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư đã đi đến gặp các tỷ-kheo ni và nói điều này:

- Này các sư tỷ, hãy đi đến gặp chúng tôi. Chúng tôi cũng sẽ giáo giới.

Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy đã đi đến gặp các tỷ-kheo nhóm Lục Sư, sau khi đến đã đảnh lễ các tỷ-kheo nhóm Lục Sư rồi ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi thuyết Pháp thoại đến các tỷ-kheo ni chỉ một chút ít; sau khi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí rồi giải tán (nói rằng):

- Này các sư tỷ, hãy đi đi.

Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với các tỷ-kheo ni ấy đang đứng một bên điều này:

- Này các tỷ-kheo ni, chắc hẳn việc giáo giới có hiệu quả?

- Bạch ngài, làm sao sự giáo giới sẽ có hiệu quả khi các ngài đại đức nhóm Lục Sư sau khi thuyết Pháp thoại chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí và giải tán?

Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các tỷ-kheo ni ấy bằng bài Pháp thoại. Rồi các tỷ-kheo ni ấy sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng tỷ-kheo lại rồi đã hỏi các tỷ-kheo nhóm Lục Sư rằng:

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các ngươi sau khi thuyết Pháp thoại cho các tỷ-kheo ni chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí và giải tán, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi thuyết Pháp thoại cho các tỷ-kheo ni chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí và giải tán vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại và bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, ta cho phép chỉ định vị giáo giới tỷ-kheo ni. Và này các tỷ-kheo, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỷ-kheo cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỷ-kheo tên (như vầy) là vị giáo giới tỷ-kheo ni. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỷ-kheo tên (như vầy) là vị giáo giới tỷ-kheo ni. Đại đức nào đồng ý với việc chỉ định vị tỷ-kheo tên (như vầy) là vị giáo giới tỷ-kheo ni, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: … (như trên)…

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỷ-kheo tên (như vầy) là vị giáo giới tỷ-kheo ni. Đại đức nào đồng ý với việc chỉ định vị tỷ-kheo tên (như vầy) là vị giáo giới tỷ-kheo ni, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Vị tỷ-kheo tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni. Sự việc được hội chúng đồng ý nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

Sau đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các tỷ-kheo nhóm Lục Sư bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, ...(như trên)... Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào chưa được chỉ định mà giáo giới tỷ-kheo ni thìphạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỷ-kheo như thế.

[407] Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo trưởng lão được chỉ định trong khi giáo giới các tỷ-kheo ni được lợi lộc thuộc về các vật dụng như y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và dược phẩm trị bệnh y như thế. Khi ấy, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư đã bàn bạc điều này:

- Này các đại đức, hiện nay các tỷ-kheo trưởng lão được chỉ định trong khi giáo giới các tỷ-kheo ni được lợi lộc thuộc về các vật dụng như y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và dược phẩm trị bệnh y như thế. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy đi ra khỏi ranh giới, sau khi chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni cho nhau, rồi chúng ta hãy giáo giới các tỷ-kheo ni.

Sau đó, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư đã đi ra khỏi ranh giới, sau khi chỉ định là vị giáo giới tỷ-kheo ni cho nhau, rồi đã đi đến gặp các tỷ-kheo ni và nói điều này:

- Này các sư tỷ, chúng tôi cũng đã được chỉ định. Hãy đi đến gặp chúng tôi. Chúng tôi cũng sẽ giáo giới.

Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy đã đi đến gặp các tỷ-kheo nhóm Lục Sư, sau khi đến đã đảnh lễ các tỷ-kheo nhóm Lục Sư rồi ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi thuyết Pháp thoại đến các tỷ-kheo ni chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí rồi giải tán (nói rằng):

- Này các sư tỷ, hãy đi đi.

Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với các tỷ-kheo ni ấy đang đứng một bên điều này:

- Này các tỷ-kheo ni, chắc hẳn việc giáo giới có hiệu quả?

- Bạch ngài, làm sao sự giáo giới sẽ có hiệu quả khi các ngài đại đức nhóm Lục Sư sau khi thuyết Pháp thoại chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí và giải tán?

Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các tỷ-kheo ni ấy bằng bài Pháp thoại. Rồi các tỷ-kheo ni ấy sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng tỷ-kheo lại rồi đã hỏi các tỷ-kheo nhóm Lục Sư rằng:

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các ngươi sau khi thuyết Pháp thoại cho các tỷ-kheo ni chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí và giải tán, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi thuyết Pháp thoại cho các tỷ-kheo ni chỉ một chút ít rồi trải qua cả ngày với chuyện nhảm nhí và giải tán vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại và bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, ta cho phép chỉ định vị giáo giới tỷ-kheo ni là vị tỷ-kheo hội đủ tám điều kiện: 1/ Là vị có giới, sống thu thúc trong sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, là vị đã được thành tựu về hành xứ,[1]thấy được sự sợ hãi trong những tội nhỏ nhặt, là vị thọ trì và thực hành trong các điều học; 2/ là vị nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe, các Pháp nào là toàn hảo đoạn đầu, toàn hảo đoạn giữa, toàn hảo đoạn cuối, đầy đủ về ý nghĩa và văn tự, đề cao về Phạm hạnh trong sạch một cách toàn vẹn và đầy đủ, các Pháp có hình thức như thế được nghe nhiều, được thuộc nằm lòng, được ôn tập bằng khẩu, được suy xét bằng tâm, được khéo phân tích bằng kiến thức; 3/ cả hai giới bổn Patimokkha được khéo truyền thừa một cách chi tiết, khéo được chia chẽ, khéo được thực hành, khéo được xác định theo từng phần theo từng câu; 4/ là vị có giọng nói rõ ràng, có cách nói lôi cuốn; 5/ được nhiều tỷ-kheo ni quý mến và ưa thích; 6/ có năng lực giáo giới các tỷ-kheo ni; 7/ trước đây không có vi phạm điều đã được đức Thế Tôn chỉ ra là tội nặng đối với vị ni đã xuất gia mặc y ca-sa, [2]; 8/ là vị được hai mươi năm hoặc hơn hai mươi năm (tỷ-kheo). Này các tỷ-kheo, ta cho phép chỉ định vị tỷ-kheo hội đủ tám điều kiện này làm vị giáo giới tỷ-kheo ni.

[408] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Chưa được chỉ địnhnghĩa là chưa được chỉ định bằng hành sự với thông báo đến lần thứ tư.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

[409] Giáo giới: vị giáo giới với tám Trọng Pháp thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya). Vị giáo giới với pháp khác thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị giáo giới cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[410] Vị tỷ-kheo được chỉ định ấy nên quét dọn chỗ ngụ, chuẩn bị nước uống nước rửa, sắp đặt chỗ ngồi, sau khi giự lại vị thứ nhì rồi nên ngồi xuống. Các tỷ-kheo ni đi đến nơi ấy nên đảnh lễ vị tỷ-kheo ấy rồi nên ngồi xuống ở một bên. Vị tỷ-kheo được chỉ định ấy nên hỏi rằng: “Này các sư tỷ, các cô đã đến đầy đủ chưa?”[3]Nếu (các tỷ-kheo ni) đáp rằng: “Bạch ngài, chúng tôi đã đến đầy đủ.” “Này các sư tỷ, tám Trọng Pháp có được thực hành không?” Nếu (các tỷ-kheo ni) đáp rằng: “Bạch ngài, có được thực hành,” “Này các sư tỷ, đây là lời giáo giới” rồi nên ban lời giáo giới. Nếu (các tỷ-kheo ni) đáp rằng: “Bạch ngài, không được thực hành,” (các tỷ-kheo ni) nên được nhắc lại rằng:

Tỷ-kheo ni đã tu lên bậc trên được một trăm năm nên thực hành phận sự thích hợp là sự đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay đến vị tỷ-kheo vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Tỷ-kheo ni không nên an cư mùa mưa ở trú xứ không có tỷ-kheo. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Tỷ-kheo ni vào mỗi nửa tháng nên mong mỏi hai việc từ hội chúng tỷ-kheo: việc hỏi ngày Uposatha và việc đi đến (để nghe) giáo giới. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Tỷ-kheo ni sau khi mãn mùa (an cư) mưa nên hành lễ Pavāraā ở cả hai hội chúng dựa trên ba yếu tố: hoặc do thấy, hoặc do nghe, hoặc vì nghi ngờ. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Tỷ-kheo ni vi phạm giới nghiêm trọng nên thực hành hành phạt mānatta nửa tháng ở cả hai hội chúng. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Cô ni tu tập sự (sikkhamānā) đã thực hành điều học về sáu pháp trong hai năm nên tầm cầu xin sự tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Tỷ-kheo ni không vì bất cứ nguyên do gì được phép mắng chửi hoặc gièm pha tỷ-kheo. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.

Kể từ hôm nay, việc khuyên bảo của các tỷ-kheo ni đến các tỷ-kheo bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của các tỷ-kheo đến các tỷ-kheo ni không bị ngăn cấm. Pháp này cần được thực hành tốt đẹp, thực hành nghiêm chỉnh, tôn trọng, cung kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.”

Nếu (các tỷ-kheo ni) đáp rằng: “Bạch ngài, chúng tôi đã đến đầy đủ,” vị nói về Pháp khác thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Nếu (các tỷ-kheo ni) đáp rằng: “Bạch ngài, chúng tôi chưa đầy đủ,”[4]vị nói về tám Trọng Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Sau khi không ban lời giáo giới, vị nói về Pháp khác thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[411] Hành sự sai Pháp - nhận biết là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - nhận biết là chưa đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Hành sự sai Pháp - nhận biết là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - có sự hoài nghi, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Hành sự sai Pháp - nhận biết là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - (lầm tưởng) là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[412] Hành sự sai Pháp - có sự hoài nghi, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - nhận biết là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... (lầm tưởng) là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[413] Hành sự sai Pháp - (lầm tưởng) là hành sự đúng Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - nhận biết là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... (lầm tưởng) là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[414] Hành sự sai Pháp - nhận biết là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - (lầm tưởng) là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[415] Hành sự sai Pháp - có sự hoài nghi, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - (lầm tưởng) là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[416] Hành sự sai Pháp - (lầm tưởng) là hành sự đúng Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - (lầm tưởng) là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[417] Hành sự đúng Pháp - (lầm tưởng) là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - nhận biết là chưa đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

Hành sự đúng Pháp - (lầm tưởng) là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - có sự hoài nghi, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

Hành sự đúng Pháp - (lầm tưởng) là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - (lầm tưởng) là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

[418] Hành sự đúng Pháp - có sự hoài nghi, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - nhận biết là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

[419] Hành sự đúng Pháp - nhận biết là hành sự đúng Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni chưa đầy đủ - nhận biết là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... (lầm tưởng) là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

[420] Hành sự đúng Pháp - (lầm tưởng) là hành sự sai Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - (lầm tưởng) là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

[421] Hành sự đúng Pháp - có sự hoài nghi, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - (lầm tưởng) là chưa đầy đủ, vị giáo giới ...(như trên)... có sự hoài nghi, vị giáo giới ...(như trên)... nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

[422] Hành sự đúng Pháp - nhận biết là hành sự đúng Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - (lầm tưởng) là chưa đầy đủ, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

Hành sự đúng Pháp - nhận biết là hành sự đúng Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - có sự hoài nghi, vị giáo giới thì phạm tội dukkaṭa.

Hành sự đúng Pháp - nhận biết là hành sự đúng Pháp, hội chúng tỷ-kheo ni đầy đủ - nhận biết là đầy đủ, vị giáo giới thì vô tội.

[423] Vị đang ban cho phần đọc tụng,[5]vị đang ban cho phần thẩm vấn, [6]vị nhắc lại khi được nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy nhắc lại,” vị hỏi câu hỏi, vị giảng giải khi được hỏi câu hỏi, các tỷ-kheo ni lắng nghe vị đang nói vì lợi ích của người khác, vị (giáo giới) cho cô ni tu tập sự, (vị giáo giới) cho sa-di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ nhất.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:

[424] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo trưởng lão giáo giới các tỷ-kheo ni theo phiên. Vào lúc bấy giờ là phiên của đại đức Cūḷapanthaka giáo giới các tỷ-kheo ni. Các tỷ-kheo ni đã nói như vầy:

- Bây giờ ngày hôm nay, sự giáo giới sẽ là không có hiệu quả. Bây giờ ngài đại đức Cūḷapanthaka sẽ nói đi nói lại chính lời cảm hứng ấy.

Sau đó, các tỷ-kheo ni ấy đã đi đến gặp đại đức Cūḷapanthaka, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Cūḷapanthaka rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Cūḷapanthaka đã nói với các tỷ-kheo ni ấy đã ngồi ở một bên điều này:

- Này các sư tỷ, các cô đã đến đầy đủ chưa?

- Bạch ngài, chúng tôi đã đến đầy đủ.

- Này các sư tỷ, tám Trọng Pháp có được thực hành không?

- Bạch ngài, có được thực hành.

- Này các sư tỷ, đây là lời giáo giới.

Sau khi ban lời trên, vị ấy đã đọc đi đọc lại bài cảm hứng này:

Tâm hướng thượng, chẳng lười,
hiền triết tu trí đạo,
vị ấy không ưu sầu,
an tịnh, luôn chánh niệm.

[425] Các tỷ-kheo ni đã nói như vầy:

- Không phải chúng ta đã nói rằng: “Bây giờ ngày hôm nay, sự giáo giới sẽ là không có hiệu quả. Bây giờ ngài đại đức Cūḷapanthaka sẽ nói đi nói lại chính lời cảm hứng ấy” hay sao?

Đại đức Cūḷapanthaka đã nghe được lời nói trao đổi này của các tỷ-kheo ni ấy. Khi ấy, đại đức Cūḷapanthaka đã bay lên không trung rồi đi kinh hành trong không trung trên bầu trời, rồi đứng lại, rồi ngồi xuống, rồi nằm xuống, rồi biến thành khói, rồi cháy rực lên, rồi biến mất. Vị ấy nói lên chính bài cảm hứng ấy và nhiều lời dạy khác của đức Phật. Các tỷ-kheo ni đã nói như vầy:

- Thưa ngài, thật là kỳ diệu! Thưa ngài, thật là phi thường! Quả thật từ trước đến nay sự giáo giới cho chúng tôi không được hiệu quả như vầy trước đây như là (sự giáo giới) của ngài đại đức Cūḷapanthaka!

Sau đó, đại đức Cūḷapanthaka đã giáo giới các tỷ-kheo ni ấy cho đến khi trời tối hẳn mới giải tán (nói rằng):

- Này các sư tỷ, hãy đi đi.

Khi ấy, cửa thành đã đóng nên các tỷ-kheo ni ấy đã trú lại bên ngoài thành đến sáng sớm mới đi vào thành phố. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các tỷ-kheo ni này không còn Phạm hạnh; họ đã ở lại với các tỷ-kheo trong tu viện bây giờ mới đi vào thành phố.

Các tỷ-kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao đại đức Cūḷapanthaka lại giáo giới các tỷ-kheo ni khi mặt trời đã lặn?

…(như trên)…

- Này Cūḷapanthaka, nghe nói ngươi còn giáo giới các tỷ-kheo ni khi mặt trời đã lặn, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này Cūḷapanthaka, vì sao ngươi còn giáo giới các tỷ-kheo ni khi mặt trời đã lặn vậy? Này Cūḷapanthaka, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Nếu vị tỷ-kheo dầu đã được chỉ định giáo giới tỷ-kheo ni khi mặt trời đã lặn thìphạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).”

[426] Đã được chỉ địnhnghĩa là đã được chỉ định bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư.

Khi mặt trời đã lặn: khi mặt trời đã đi xuống ở bên dưới.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Giáo giới: vị giáo giới với tám trọng pháp hoặc với pháp khác thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[427] Khi (mặt trời) đã lặn, nhận biết là đã lặn, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Khi (mặt trời) đã lặn, có sự hoài nghi, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Khi (mặt trời) đã lặn, (lầm tưởng) là chưa lặn, vị giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Vị giáo giới cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi (mặt trời) chưa lặn, (lầm tưởng) là đã lặn, phạm tội dukkaṭa.

Khi (mặt trời) chưa lặn, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.

Khi (mặt trời) chưa lặn, nhận biết là chưa lặn, thì vô tội.

[428] Vị đang ban cho phần đọc tụng, vị đang ban cho phần vấn đáp,vị nhắc lại khi được nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy nhắc lại,” vị hỏi câu hỏi, vị giảng giải khi được hỏi câu hỏi, các tỷ-kheo ni lắng nghe vị đang nói vì lợi ích của người khác, vị (giáo giới) cho cô ni tu tập sự, (vị giáo giới) cho sa-di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ nhì.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ BA:

[429] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng Sākya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi đi đến ni viện rồi giáo giới cho các tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư. Các tỷ-kheo ni đã nói với các tỷ-kheo ni nhóm Lục Sư điều này:

- Này các ni sư, hãy đi. Chúng ta sẽ đi nghe giáo giới.

- Này các ni sư, chúng tôi cũng nên đi vì lý do giáo giới, tuy nhiên các ngài đại đức nhóm Lục Sư giáo giới cho chúng tôi ngay tại đây.

Các tỷ-kheo ni phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi đi đến ni viện lại giáo giới cho các tỷ-kheo ni?

Sau đó, các tỷ-kheo ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi đi đến ni viện lại giáo giới cho các tỷ-kheo ni?

…(như trên)…

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các ngươi sau khi đi đến ni viện rồi giáo giới cho các tỷ-kheo ni, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi đi đến ni viện lại giáo giới cho các tỷ-kheo ni vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào sau khiđi đến ni viện rồi giáo giới cho các tỷ-kheo ni thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỷ-kheo như thế.

[430] Vào lúc bấy giờ, bà Mahāpajāpati Gotamī bị bệnh. Các tỷ-kheo trưởng lão đã đi đến thăm bà Mahāpajāpati Gotamī, sau khi đến đã nói với bà Mahāpajāpati Gotamī điều này:

- Này Gotamī, sức khoẻ bà có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?

- Thưa các ngài, sức khoẻ tôi không có khá. Mọi việc không được thuận tiện. Thưa các ngài, xin hãy giảng Pháp.

- Này sư tỷ, không được phép đi đến ni viện để giảng Pháp cho các tỷ-kheo ni. Rồi trong lúc ngần ngại đã không thuyết giảng.

Sau đó, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến thăm bà Mahāpajāpati Gotamī, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã nói với bà Mahāpajāpati Gotamī điều này:

- Này Gotamī, sức khoẻ bà có khá không? Mọi việc có được thuận tiện không?

- Bạch ngài, trước đây các tỷ-kheo trưởng lão đi đến gặp con thường giảng Pháp cho con, vì thế con được an lạc. Giờ đây, các vị (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã ngăn cấm,” trong lúc ngần ngại không thuyết giảng, vì thế con không được an lạc.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpati Gotamī bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, ta cho phép sau khi đi đến ni viện được giáo giới tỷ-kheo ni bị bệnh. Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào sau khi đi đến ni viện rồi giáo giới cho các tỷ-kheo ni thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ), ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: vị tỷ-kheo ni bị bệnh. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.

[431] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Ni việnnghĩa là nơi nào các tỷ-kheo ni cư ngụ dầu chỉ một đêm.

Sau khi đi đến: sau khi đi lại nơi ấy.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Giáo giới: vị giáo giới với tám trọng pháp hoặc với pháp khác thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Ngoại trừ có duyên cớ: trừ ra có duyên cớ.

Vị tỷ-kheo ni bị bệnhnghĩa là không thể đi vì việc giáo giới hoặc vì việc cộng trú.

[432] Người nữ đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên, sau khi đi đến ni viện rồi giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có duyên cớ.

Người nữ đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, sau khi đi đến ni viện rồi giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có duyên cớ.

Người nữ đã tu lên bậc trên, (lầm tưởng) là chưa tu lên bậc trên, sau khi đi đến ni viện rồi giáo giới thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có duyên cớ.

Vị giáo giới bằng Pháp khác thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Vị giáo giới cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng thì phạm tội dukkaṭa.

Người nữ chưa tu lên bậc trên, (lầm tưởng) là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa.

Người nữ chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.

Người nữ chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên, thì vô tội.

[433] Khi có duyên cớ, vị đang ban cho phần đọc tụng, vị đang ban cho phần vấn đáp, vị nhắc lại khi được nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy nhắc lại,” vị hỏi câu hỏi, vị giảng giải khi được hỏi câu hỏi, các tỷ-kheo ni lắng nghe vị đang nói vì lợi ích của người khác, vị (giáo giới) cho cô ni tu tập sự, (vị giáo giới) cho sa-di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ ba.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:

[434] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo trưởng lão trong khi giáo giới các tỷ-kheo ni có nhận được lợi lộc thuộc về các vật dụng như y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và dược phẩm trị bệnh. Khi ấy, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư nói như vầy:

- Các tỷ-kheo trưởng lão không vì tôn kính Pháp mà giáo giới các tỷ-kheo ni; các tỷ-kheo trưởng lão giáo giới các tỷ-kheo ni vì nguyên nhân lợi lộc.

Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỷ-kheo nhóm Lục Sư lại phát ngôn như vầy: “Các tỷ-kheo trưởng lão không vì tôn kính Pháp mà giáo giới các tỷ-kheo ni; các tỷ-kheo trưởng lão giáo giới các tỷ-kheo ni vì nguyên nhân lợi lộc”?

…(như trên)…

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các ngươi phát ngôn như vầy: “Các tỷ-kheo trưởng lão không vì tôn kính Pháp mà giáo giới các tỷ-kheo ni; các tỷ-kheo trưởng lão giáo giới các tỷ-kheo ni vì nguyên nhân lợi lộc,” có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại phát ngôn như vầy: “Các tỷ-kheo trưởng lão không vì tôn kính Pháp mà giáo giới các tỷ-kheo ni; các tỷ-kheo trưởng lão giáo giới các tỷ-kheo ni vì nguyên nhân lợi lộc”? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào nói như vầy: ‘Các tỷ-kheo giáo giới cho các tỷ-kheo ni vì nguyên nhân lợi lộc’ thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).”

[435] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Vì nguyên nhân lợi lộc: vì nguyên nhân y phục, vì nguyên nhân vật thực, vì nguyên nhân chỗ trú ngụ, vì nguyên nhân vật dụng là dược phẩm trị bệnh, vì nguyên nhân tôn vinh, vì nguyên nhân cung kỉnh, vì nguyên nhân kính trọng, vì nguyên nhân đảnh lễ, vì nguyên nhân cúng dường.

[436] Nói như vầy: Vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ vị đã tu lên bậc trên được hội chúng chỉ định làm vị giáo giới tỷ-kheo ni rồi nói như vầy: “Vị giáo giới vì nguyên nhân y phục, vì nguyên nhân vật thực, vì nguyên nhân chỗ trú ngụ, vì nguyên nhân vật dụng là dược phẩm trị bệnh, vì nguyên nhân tôn vinh, vì nguyên nhân cung kỉnh, vì nguyên nhân kính trọng, vì nguyên nhân đảnh lễ, vì nguyên nhân cúng dường.” Vị nói thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[437] Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, vị nói như thế thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, vị nói như thế thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Hành sự sai Pháp, (lầm tưởng) là hành sự đúng Pháp, vị nói như thế thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[438] Vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ vị đã tu lên bậc trên khôngđược hội chúng chỉ định làm vị giáo giới tỷ-kheo ni rồi nói như vầy: “Vị giáo giới vì nguyên nhân y phục, vì nguyên nhân vật thực, vì nguyên nhân chỗ trú ngụ, vì nguyên nhân vật dụng là dược phẩm trị bệnh, vì nguyên nhân tôn vinh, vì nguyên nhân cung kỉnh, vì nguyên nhân kính trọng, vì nguyên nhân đảnh lễ, vì nguyên nhân cúng dường.” Vị nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[439] Vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ vị chưa tu lên bậc trên được hội chúng chỉ định hoặc không được chỉ định làm vị giáo giới tỷ-kheo ni rồi nói như vầy: “Vị giáo giới vì nguyên nhân y phục, vì nguyên nhân vật thực, vì nguyên nhân chỗ trú ngụ, vì nguyên nhân vật dụng là dược phẩm trị bệnh, vì nguyên nhân tôn vinh, vì nguyên nhân cung kỉnh, vì nguyên nhân kính trọng, vì nguyên nhân đảnh lễ, vì nguyên nhân cúng dường.” Vị nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[440] Hành sự sai pháp, (lầm tưởng) là hành sự đúng pháp, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai pháp, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai pháp, nhận biết là hành sự sai pháp, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[441] Vị nói về vị đang giáo giới theo thói thường vì nguyên nhân y phục, vì nguyên nhân vật thực, vì nguyên nhân chỗ trú ngụ, vì nguyên nhân vật dụng là dược phẩm trị bệnh, vì nguyên nhân tôn vinh, vì nguyên nhân cung kỉnh, vì nguyên nhân kính trọng, vì nguyên nhân đảnh lễ, vì nguyên nhân cúng dường; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ tư.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:

[442] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỷ-kheo nọ đi khất thực ở một con đường nọ trong thành Sāvatthi. Có vị tỷ-kheo ni nọ cũng đi khất thực ở con đường ấy. Khi ấy, vị tỷ-kheo ấy đã nói với vị tỷ-kheo ni ấy điều này:

- Này sư tỷ, hãy đi. Vật thực được bố thí ở chỗ kia.

Vị ni ấy cũng đã nói như vầy:

- Thưa ngài, hãy đi. Vật thực được bố thí ở chỗ kia.

Do sự gặp gỡ thường xuyên, họ đã trở nên thân thiết.

Vào lúc bấy giờ, y của hội chúng được chia ra. Khi ấy, vị tỷ-kheo ni ấy sau khi đi nghe giáo giới đã đi đến gặp vị tỷ-kheo ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỷ-kheo ấy rồi đứng ở một bên. Vị tỷ-kheo ấy đã nói với vị tỷ-kheo ni ấy đang đứng một bên điều này:

- Này sư tỷ, đây là phần chia y của tôi; cô nên nhận lấy.

- Thưa ngài, xin vâng. Y của tôi đã tồi tệ.

Khi ấy, vị tỷ-kheo ấy đã cho y đến vị tỷ-kheo ni ấy. Ngay cả y của vị tỷ-kheo ấy cũng đã tàn tệ. Các tỷ-kheo đã nói với vị tỷ-kheo ấy điều này:

- Này đại đức, hãy làm y của đại đức bây giờ đi.

Khi ấy, vị tỷ-kheo ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao vị tỷ-kheo lại cho y đến tỷ-kheo ni?

…(như trên)…

- Này tỷ-kheo, nghe nói ngươi cho y đến tỷ-kheo ni, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

- Này tỷ-kheo, là nữ thân quyến của ngươi hay không phải là nữ thân quyến?

- Bạch Thế Tôn, không phải là nữ thân quyến.

- Này kẻ rồ dại, người nam không phải là thân quyến lại không biết điều gì tốt đẹp hay không tốt đẹp, điều gì làm hài lòng hay không làm hài lòng người nữ không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi cho y đến tỷ-kheo ni không phải là thân quyến vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào cho y đến tỷ-kheo ni không phải là thân quyến thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỷ-kheo như thế.

[443] Vào lúc bấy giờ, các vị tỷ-kheo trong khi ngần ngại không đưa y ra trao đổi với các tỷ-kheo ni. Các tỷ-kheo ni phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các ngài đại đức lại đưa y ra trao đổi với chúng tôi?

Các tỷ-kheo đã nghe được các tỷ-kheo ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ­ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, ta cho phép đưa ra trao đổi với năm hạng là tỷ-kheo, tỷ-kheo ni, cô ni tu tập sự, sa-di, sa-di ni. Này các tỷ-kheo, ta cho phép đưa ra trao đổi với năm hạng này. Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào nào cho y đến tỷ-kheo ni không phải là thân quyến thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ) ngoại trừ sự trao đổi.

[444] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

(Người nữ) Không phải là thân quyếnnghĩa là người nữ không có liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Y nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.

Ngoại trừ sự trao đổi: trừ ra sự trao đổi.

[445] Không phải là nữ thân quyến, nhận biết không phải là nữ thân quyến, vị cho y ngoại trừ sự trao đổi thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Không phải là nữ thân quyến, có sự hoài nghi, vị cho y ngoại trừ sự trao đổi thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Không phải là nữ thân quyến, (lầm) tưởng là nữ thân quyến, vị cho y ngoại trừ sự trao đổi thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Vị cho y đến cô ni tu lên bậc trên ở một hội chúng ngoại trừ sự trao đổi thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Là nữ thân quyến, (lầm) tưởng không phải là nữ thân quyến, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Là nữ thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Là nữ thân quyến, nhận biết là nữ thân quyến thì vô tội.

[446] Của vị (tỷ-kheo ni) là nữ thân quyến, sự trao đổi vật lớn bằng vật nhỏ hoặc là vật nhỏ bằng vật lớn, vị tỷ-kheo ni lấy do sự thân thiết, vị ni lấy trong chốc lát, vị cho vật dụng khác ngoại trừ y, (cho đến) cô ni tu tập sự, (cho đến) sa-di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ năm.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:

[447] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, tỷ-kheo Udāyi là rành rẽ trong việc may y. Có vị tỷ-kheo ni nọ đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

- Thưa ngài, tốt thay ngài đại đức hãy may y cho tôi.

Sau đó, đại đức Udāyi đã may y cho tỷ-kheo ni ấy, sau khi khéo nhuộm, khéo sửa soạn, đã vẽ lên hình ảnh gợi cảm,[7]rồi gấp lại, và để riêng. Sau đó, vị tỷ-kheo ni ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

- Thưa ngài, y của tôi đâu rồi?

- Này sư tỷ, hãy mang đi và để riêng y này còn được gấp như vầy. Khi nào hội chúng tỷ-kheo ni đi đến nghe giáo giới, khi ấy hãy khoác y này lên và đi ở phía sau của hội chúng tỷ-kheo ni.

Sau đó, vị tỷ-kheo ni ấy đã mang đi và để riêng y ấy còn được gấp như thế. Đến khi hội chúng tỷ-kheo ni đi đến nghe giáo giới, khi ấy mới khoác y ấy lên và đi ở phía sau cùng của hội chúng tỷ-kheo ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các tỷ-kheo ni này thật là quá quắt, trơ trẽn, vô liêm sĩ bởi vì dám vẽ hình ảnh gợi cảm lên trên y?

Các tỷ-kheo ni đã nói như vầy:

- Việc làm này là của ai?

- Là của ngài đại đức Udāyi.

- Hình ảnh như thế này của những kẻ quá quắt, trơ trẽn, vô liêm sĩ không thể trưng bày, phải chăng là của ngài đại đức Udāyi?

Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao đại đức Udāyi lại may y cho tỷ-kheo ni?

…(như trên)…

- Này Udāyi, nghe nói ngươi may y cho tỷ-kheo ni, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

- Này Udāyi, là nữ thân quyến của ngươi hay không phải là nữ thân quyến?

- Bạch Thế Tôn, không phải là nữ thân quyến.

- Này kẻ rồ dại, người nam không phải là thân quyến lại không biết điều gì tốt đẹp hay không tốt đẹp, điều gì làm hài lòng hay không làm hài lòng người nữ không phải là thân quyến. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại may y cho tỷ-kheo ni không phải là thân quyến vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào may y hoặc bảo may y cho tỷ-kheo ni không phải là thân quyến thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).”

[448] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

(Người nữ) không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Ynghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.

May: vị tự mình may thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) theo từng mũi kim đâm.

Bảo may: vị bảo may thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya). Được ra lệnh một lần, (vị kia) dầu may nhiều lần vị (ra lệnh) phạm (chỉ một) tội ưng đối trị (pācittiya).

[449] Không phải là nữ thân quyến, nhận biết không phải là nữ thân quyến, vị may y hoặc bảo may y thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Không phải là nữ thân quyến, có sự hoài nghi, vị may y hoặc bảo may y thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Không phải là nữ thân quyến, (lầm) tưởng là nữ thân quyến, vị may y hoặc bảo may y thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Vị may y hoặc bảo may y cho cô ni tu lên bậc trên ở một hội chúng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Là nữ thân quyến, (lầm) tưởng không phải là nữ thân quyến, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Là nữ thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Là nữ thân quyến, nhận biết là nữ thân quyến, thì vô tội.

[450] Trường hợp vị (tỷ-kheo ni) là nữ thân quyến, vị may hoặc bảo may vật dụng khác ngoại trừ y, (trường hợp) cô ni tu tập sự, (trường hợp) sa-di ni, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ sáu.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:

[451] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi hẹn trước rồi đi chung đường xa với các tỷ-kheo ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống y như chúng ta đi dạo với vợ, các sa-môn Thích tử này cũng đi dạo với các tỷ-kheo ni y như thế.

Các tỷ-kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi hẹn trước rồi đi chung đường xa với các tỷ-kheo ni?

…(như trên)…

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các ngươi sau khi hẹn trước rồi đi chung đường xa với các tỷ-kheo ni, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi hẹn trước rồi đi chung đường xa với các tỷ-kheo ni vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào sau khi hẹn trước rồi đi chung đường xa với vị tỷ-kheo ni ngay cả từ làng này sang làng khác[8]thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỷ-kheo như thế.

[452] Vào lúc bấy giờ, nhiều tỷ-kheo và tỷ-kheo ni đang đi đường xa từ thành Sāketa đến thành Sāvatthi. Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy sau khi nhìn thấy các tỷ-kheo ấy đã nói điều này:

- Chúng tôi sẽ cùng đi với các ngài đại đức.

- Này các sư tỷ, không được phép hẹn trước rồi đi chung đường xa với vị tỷ-kheo ni. Hoặc là các cô hãy đi trước hoặc là chúng tôi sẽ đi trước.

- Thưa các ngài, các ngài đại đức là những người cao quý. Chính các ngài đại đức hãy đi trước.

Sau đó, các tỷ-kheo ni ấy trong khi đi sau ở giữa đường đã bị bọn đạo tặc cướp giật còn bị làm ô uế nữa. Sau đó, các tỷ-khưu ni ấy đã đi đến thành Sāvatthi và đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo ni. Các tỷ-kheo ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo. Các tỷ-kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ­ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, ta cho phép trên con đường cần phải đi chung với đoàn xe, được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng, sau khi hẹn trước được đi chung đường xa với vị tỷ-kheo ni. Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào sau khi hẹn trước rồi đi chung đường xa với vị tỷ-kheo ni ngay cả (đi) từ làng này sang làng khác thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ), ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: con đường cần phải đi chung với đoàn xe, được xác định là có sự nguy hiểm, có sự kinh hoàng. Đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.

[453] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Với: cùng chung.

Sau khi hẹn trước: Vị hẹn trước rằng: “Này sư tỷ, chúng ta hãy đi. Thưa ngài, chúng ta hãy đi. Thưa ngài, chúng ta hãy đi. Này sư tỷ, chúng ta hãy đi. Hôm nay hoặc hôm qua hoặc ngày mai chúng ta hãy đi” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Ngay cả từ làng này sang làng khác: Ở ngôi làng trong khoảng cách đi được của con gà trống thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) theo mỗi một khoảng giữa của các ngôi làng (như thế) Không phải trong làng, ở trong rừng, thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) theo từng khoảng cách nửa yojana.[9]

Ngoại trừ có duyên cớ: trừ ra có duyên cớ.

Con đường cần phải đi chung với đoàn xenghĩa là không có đoàn xe không thể đi được.

Có sự nguy hiểmnghĩa là trên con đường ấy chỗ cắm trại của bọn cướp được thấy, chỗ ăn được thấy, chỗ đứng được thấy, chỗ ngồi được thấy, chỗ nằm được thấy.

Có sự kinh hoàngnghĩa là trên con đường ấy dân chúng bị giết bởi bọn cướp được thấy, bị cướp giật được thấy, bị đánh đập được thấy. Sau khi đi đến chỗ có sự kinh hoàng, khi nhìn thấy không có sự kinh hoàng thì nên giải tán (nói rằng): “Này các sư tỷ, hãy đi đi.”

[454] Khi đã hẹn trước, nhận biết là đã hẹn trước, vị đi chung đường xa ngay cả từ làng này sang làng khác thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có duyên cớ.

Khi đã hẹn trước, có sự hoài nghi, vị đi chung đường xa ngay cả từ làng này sang làng khác thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có duyên cớ.

Khi đã hẹn trước, (lầm) tưởng là không hẹn trước, vị đi chung đường xa ngay cả từ làng này sang làng khác thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có duyên cớ.

Vị tỷ-kheo hẹn trước còn vị tỷ-kheo ni không hẹn trước, thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không hẹn trước, (lầm) tưởng là đã hẹn trước, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không hẹn trước, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không hẹn trước, nhận biết là không hẹn trước, thì vô tội.

[455] Khi có duyên cớ, các vị sau khi không hẹn trước rồi đi, vị tỷ-kheo ni hẹn trước còn vị tỷ-kheo không hẹn trước, các vị đi ngoài giờ hẹn ước, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ bảy.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:

[456] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi hẹn trước rồi cùng lên một chiếc thuyền với các tỷ-kheo ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống y như chúng ta du ngoạn với vợ trên một chiếc thuyến, các sa-môn Thích tử này sau khi hẹn trước rồi du ngoạn với các tỷ-kheo ni trên một chiếc thuyến y như thế.

Các tỷ-kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỷ-kheo nhóm Lục Sư sau khi hẹn trước rồi cùng lên một chiếc thuyền với các tỷ-kheo ni?

Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hỏi các tỷ-kheo nhóm Lục Sư rằng:

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các ngươi sau khi hẹn trước rồi cùng lên một chiếc thuyền với các tỷ-kheo ni, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi hẹn trước rồi cùng lên một chiếc thuyền với các tỷ-kheo ni vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào sau khi hẹn trước rồi cùng với vị tỷ-kheo ni lên chung một chiếc thuyền đi ngược giòng hoặc đi xuôi giòng thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỷ-kheo như thế.

[457] Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỷ-kheo và tỷ-kheo ni đang đi đường xa từ thành Sāketa đến thành Sāvatthi. Khoảng giữa đường, có con sông cần phải vượt qua. Khi ấy, các tỷ-kheo ni ấy đã nói với các tỷ-kheo ấy điều này:

- Chúng tôi sẽ vượt qua cùng với các ngài đại đức.

- Này các sư tỷ, không được phép hẹn trước rồi cùng lên một chiếc thuyền với vị tỷ-kheo ni. Hoặc là các cô hãy vượt qua trước hoặc là chúng tôi sẽ vượt qua trước.

- Thưa các ngài, các ngài đại đức là những người cao quý. Chính các ngài đại đức hãy vượt qua trước.

Sau đó, các tỷ-kheo ni ấy trong khi vượt qua sau đã bị bọn đạo tặc cướp giật còn bị làm ô uế nữa. Sau đó, các tỷ-khưu ni ấy đã đi đến thành Sāvatthi và đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo ni. Các tỷ-kheo ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo. Các tỷ-kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ­ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, ta cho phép khi vượt ngang qua (sông) sau khi hẹn trước được lên chung một chiếc thuyền với vị tỷ-kheo ni. Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào sau khi hẹn trước rồi cùng với vị tỷ-kheo ni lên chung một chiếc thuyền đi ngược giòng hoặc đi xuôi giòng thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ), ngoại trừ vượt ngang qua (sông).

[458] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Với: cùng chung.

Sau khi hẹn trước: Vị hẹn trước rằng: “Này sư tỷ, chúng ta hãy lên (thuyền). Thưa ngài, chúng ta hãy lên (thuyền). Thưa ngài, chúng ta hãy lên (thuyền). Này sư tỷ, chúng ta hãy lên (thuyền). Hôm nay hoặc hôm qua hoặc ngày mai chúng ta hãy lên (thuyền)” thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi vị tỷ-kheo ni đã lên (thuyền), vị tỷ-kheo lên (thuyền) thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya). Khi vị tỷ-kheo đã lên (thuyền), vị tỷ-kheo ni lên (thuyền) thì phạm tội pācittiya. Hoặc cả hai cùng lên (thuyền) thì phạm tội pācittiya.

Đi ngược giòng: đi lên phía trên.

Đi xuôi giòng: đi xuống phía dưới.

Ngoại trừ vượt ngang qua (sông): trừ ra sự vượt ngang qua (sông). Ở ngôi làng trong khoảng cách đi được của con gà trống thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) theo mỗi một khoảng giữa của các ngôi làng (như thế) Không phải trong làng, ở trong rừng, thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) theo từng khoảng cách nửa yojana.

[459] Khi đã hẹn trước, nhận biết là đã hẹn trước, vị lên chung một chiếc thuyền đi ngược giòng hoặc đi xuôi giòng thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya), ngoại trừ vượt ngang qua (sông).

Khi đã hẹn trước, có sự hoài nghi, vị lên chung một chiếc thuyền đi ngược giòng hoặc đi xuôi giòng thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya), ngoại trừ vượt ngang qua (sông).

Khi đã hẹn trước, (lầm) tưởng là không hẹn trước, vị lên chung một chiếc thuyền đi ngược giòng hoặc đi xuôi giòng thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya), ngoại trừ vượt ngang qua (sông).

Vị tỷ-kheo hẹn trước còn vị tỷ-kheo ni không hẹn trước, thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không hẹn trước, (lầm) tưởng là đã hẹn trước, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không hẹn trước, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không hẹn trước, nhận biết là không hẹn trước, thì vô tội.

[460] Khi vượt ngang qua (sông), các vị không hẹn trước rồi lên (thuyền), vị tỷ-kheo ni hẹn trước còn vị tỷ-kheo không hẹn trước, các vị lên (thuyền) ngoài giờ hẹn ước, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ tám.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:

[461] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, tỷ-kheo ni Thullanandā là vị thường tới lui với gia đình nọ và nhận vật thực thường kỳ. Và các tỷ-kheo trưởng lão đã được gia chủ ấy thỉnh mời. Khi ấy vào buổi sáng, tỷ-kheo ni Thullanandā đã mặc y, cầm y bát, đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã nói với gia chủ ấy điều này:

- Này gia chủ, việc gì mà nhiều vật thực loại cứng loại mềm được chuẩn bị như thế này vậy?

- Thưa ni sư, tôi đã thỉnh mời các ngài trưởng lão.

- Này gia chủ, các trưởng lão của ngươi là những vị nào vậy?

- Ngài Sārīputta, ngài Mahāmoggallāna, ngài Mahākaccāna, ngài Mahākoṭṭhita, ngài Mahākappina, ngài Mahācunda, ngài Anuruddha, ngài Revata, ngài Upāli, ngài Ānanda, ngài Rāhula.

- Này gia chủ, việc gì khiến ngươi lại thỉnh mời những tép riu trong khi các khổng long đang còn tồn tại?

- Thưa ni sư, những vị nào là các khổng long của cô vậy?

- Ngài Devadatta, ngài Kokālika, ngài Katamorakatissako con trai của Khaṇḍadevī, ngài Samuđadatto.

Lời nói này của tỷ-kheo ni Thullanandā đã bị gián đoạn nửa chừng và các tỷ-kheo trưởng lão đã đi vào.

- Này gia chủ, có đúng là các khổng long đã được ngươi thỉnh mời không?

- Này ni sư, ngay mới đây cô đã gọi các ngài đại đức là những tép riu, bây giờ là các khổng long. Rồi đã kéo ra khỏi nhà và chấm dứt phần bữa ăn thường kỳ.

Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao Devadatta dầu biết vật thực được tỷ-kheo ni môi giới cho vẫn thọ thực?

…(như trên)…

- Này Devadatta, nghe nói ngươi biết vật thực được tỷ-kheo ni môi giới cho vẫn thọ thực, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi biết vật thực được tỷ-kheo ni môi giới cho vẫn thọ thực vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào biết thức ăn được tỷ-kheo ni môi giới cho vẫn thọ thực thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỷ-kheo như thế.

[462] Vào lúc bấy giờ, có vị tỷ-kheo nọ xuất gia ở thành Rājagaha đã đi đến nhà thân quyến. Dân chúng (nói rằng): “Lâu lắm ngài đại đức mới đến,” rồi đã làm bữa ăn thịnh soạn. Có vị tỷ-kheo ni thường lui tới với gia đình ấy đã nói với những người ấy điều này:

- Này các đạo hữu, hãy dâng bữa ăn đến ngài đại đức.

Khi ấy, vị tỷ-kheo ấy (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn dã cấm đoán thọ thực khi biết thức ăn được tỷ-kheo ni môi giới cho” trong khi ngần ngại đã không thọ nhận và không thể đi khất thực nên bữa ăn đành phải nhịn. Sau đó, vị tỷ-kheo ấy đã đi về tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỷ-kheo. Các tỷ-kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ­ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, khi có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ ta cho phép thọ thực dầu biết thức ăn được tỷ-kheo ni môi giới cho. Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào biết thức ăn được tỷ-kheo ni môi giới cho vẫn thọ thực thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ) ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ.

[463] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Biếtnghĩa là vị tự mình biết, hoặc các người khác thông báo cho vị ấy, hoặc vị ni ấy thông báo.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Môi giới cho nghĩa là đối với những người trước đây không có ý định dâng cúng, không có ý định tiếp đãi, vị ni ấy môi giới rằng: “Ngài là vị trì tụng, ngài là vị nghe nhiều, ngài là vị trì Kinh, ngài là vị thông Luật, ngài là vị Pháp sư, hãy dâng cúng đến ngài, hãy tiếp đãi ngài.”

Thức ănnghĩa là bất cứ vật thực nào thuộc về năm loại vật thực.

Ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ: trừ ra có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ.

Có sự chuẩn bị trước bởi gia chủnghĩa là các thân quyến, hoặc (những người) đã nói lời thỉnh cầu, hoặc đã được chuẩn bị thường kỳ.

Ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ, vị (nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn,” rồi thọ lãnh thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Mỗi một lần nuốt xuống thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[464] Khi được môi giới cho, nhận biết đã được môi giới cho, vị thọ thực thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya) ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ.

Khi được môi giới cho, có sự hoài nghi, vị thọ thực thì phạm tội tác ác (dukkaṭa) ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ.

Khi được môi giới cho, (lầm) tưởng là không được môi giới cho, vị thọ thực thì vô tội ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ.

Được vị ni tu lên bậc trên từ một hội chúng môi giới cho, vị thọ thực thì phạm tội tác ác (dukkaṭa) ngoại trừ có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ.

Khi không được môi giới cho, (lầm) tưởng là đã được môi giới cho, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không được môi giới cho, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Khi không được môi giới cho, nhận biết là không được môi giới cho, thì vô tội.

[465] Khi có sự chuẩn bị trước bởi gia chủ, cô ni tu tập sự môi giới cho, vị sa-di ni môi giới cho, tất cả (các thức khác) trừ ra năm loại vật thực, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ chín.

*******

ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:

[466] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, người vợ cũ của đại đức Udāyi đã xuất gia nơi các tỷ-kheo ni. Tỷ-kheo ni ấy thường xuyên đi đến gặp đại đức Udāyi. Đại đức Udāyi cũng thường xuyên đi đến gặp tỷ-kheo ni ấy.

Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi đã cùng với tỷ-kheo ni ấy một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao đại đức Udāyi lại cùng với tỷ-kheo ni một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo?

…(như trên)…

- Này Udāyi, nghe nói ngươi cùng với tỷ-kheo ni một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với tỷ-kheo ni một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên)… Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào cùng với tỷ-kheo ni một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo thì phạm tội ưng đối trị (pācittiyaṃ).”

[467] Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Tỷ-kheo ninghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng.

Với: cùng chung.

Một nam một nữ: chỉ có vị tỷ-kheo và vị tỷ-kheo ni.

Kín đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với tai.

Kín đáo đối với mắt: nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu lên.

Kín đáo đối với tai: nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng) bình thường.

Ngồi: Khi vị tỷ-kheo ni đang ngồi, vị tỷ-kheo ngồi gần hoặc nằm gần thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya). Trong khi vị tỷ-kheo đang ngồi, vị tỷ-kheo ni ngồi gần hoặc nằm gần thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya). Hoặc cả hai đang ngồi hoặc cả hai đang nằm thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

[468] Chỗ kín đáo, nhận biết là chỗ kín đáo, vị ngồi xuống một nam một nữ thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Chỗ kín đáo, có sự hoài nghi, vị ngồi xuống một nam một nữ thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Chỗ kín đáo, (lầm) tưởng là chỗ không kín đáo, vị ngồi xuống một nam một nữ thì phạm tội ưng đối trị (pācittiya).

Chỗ không kín đáo, (lầm) tưởng là chỗ kín đáo, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Chỗ không kín đáo, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Chỗ không kín đáo, nhận biết là chỗ không kín đáo, thì vô tội.

[469] Có bất cứ người nam nào có trí suy xét là người thứ nhì, vị đứng không ngồi, không mong mỏi chỗ kín đáo, đang bận tâm chuyện khác rồi ngồi xuống, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ mười.

Phần Giáo Giới là phần thứ ba.

*******

Tóm lược phần này:

Chưa chỉ định, trời lặn,
ni viện, vì tài vật,
cho y, vị may y,
hẹn hò đi đường xa,
chung thuyền, vị thọ thực
vật thực ni mội giới,
một nam và một nữ,
các điều ấy là mười.

*******


[1]Ācāra-gocara: hành xứ, tức là sở hành và các chỗ đi lại, thân cận. Nghĩa là không tà mạng như là cho tre, v.v... và không đi đến các nơi không nên đi như gái điếm, v.v... Gia đình có đầy đủ đức tin được xem là gocara (xứ), tức là nơi có thể đi đến (diễn dịch theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).

[2]Khi còn tại gia, không có đụng chạm cơ thể với tỷ-kheo ni, không thực hiện việc đôi lứa với các cô ni tu tập sự và các sa-di ni (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).

[3]Samaggattha bhaginiyoti” được ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Sabbā āgatthatāti” nên được dịch như trên thay vì “Các cô chị có được hợp nhất không?”

[4]Vaggamhāyyāti” thay vì dịch “Bạch ngài, chúng tôi là nhóm” chúng tôi dịch như trên cho phù hợp mạch văn.

[5]Vị đang đọc tụng phần tám Trọng Pháp bằng Pāli (theo ngài Buddhaghosa).

[6]Vị đang đọc phần chú giải của phần Pāli văn của tám Trọng Pháp (theo ngài Buddhaghosa).

[7]Chú giải cho biết rằng: “Sau khi nhuộm y, đại đức Udāyi đã dùng nhiều màu sắc phác hoạ hình ảnh người nam và người nữ đang thực hiện việc đôi lứa” (!).

[8]Gāmantaraṃ= gāma-antara: khoảng giữa của các làng.

[9]Tài liệu The Buddhist Monastic Codecho biết khoảng cách của nửa Yojana là 8 km hoặc 5 miles.

---o0o---

Nguồn: www.budsas.org

Trình bày: Linh Thoại

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn