Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần [1.5d]

18/04/201317:54(Xem: 7266)
Phần [1.5d]

Tạng Luật
Vinayapitaka

Phân Tích Giới Tỷ-Kheo - I
(Bhikkhuvibhanga I)

Tỳ kheo Indacanda Nguyệt Thiêndịch
2004

---o0o---

V. CHƯƠNG TĂNG TÀNG (SAṄGHĀDISESA)(tiếp theo)

ĐIỀU TĂNG TÀNG (SAṄGHĀDISESA) THỨ MƯỜI:

[592] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Vel,uvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta đã đi đến gặp Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto; đến rồi đã nói với Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto điều này:

- Này các đệ, hãy đi. Chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo.

Được nói như thế, Kokālika đã nói với Devadatta điều này:

- Này đại đức, sa-môn Gotama thật sự có đại thần lực, có đại năng lực. Làm thế nào chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo được?

- Này các đệ, hãy đi. Chúng ta sẽ đi đến gặp sa-môn Gotama và yêu cầu năm sự việc: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỷ-kheo nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.” Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm sự việc này. Và chúng ta đây sẽ công bố cho dân chúng biết về năm sự việc này.

- Này đại đức, với năm sự việc này thì có thể tiến hành việc chia rẽ hội chúng của sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Này đại đức, bởi vì dân chúng có niềm tin với khổ hạnh.

[593] Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Devadatta đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỷ-kheo nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.

- Này Devadatta, thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống ở rừng; vị nào muốn thì cứ cư ngụ ở trong làng. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị khất thực; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ việc thỉnh mời. Vị nào muốn thì hãy là vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ y của gia chủ. Này Devadatta, ta cho phép chỗ trú ngụ là gốc cây trong tám tháng. Cá thịt là thanh tịnh với ba điều kiện là: “Không thấy, không nghe, và không nghi ngờ.”

[594] Khi ấy, Devadatta (biết rằng): “Đức Thế Tôn không cho phép năm sự việc này,” nên mừng rỡ, phấn chấn cùng phe cánh từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi vào thành Rājagaha công bố cho dân chúng biết về năm sự việc:

- Này các đạo hữu, chúng tôi đã đi đến gặp sa-môn Gotama và yêu cầu năm sự việc: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỷ-kheo nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.” Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi sẽ thọ trì và thực hành năm sự việc này.

[595] Ở nơi ấy, những người dân không có đức tin, không hoan hỷ, kém trí tuệ thì nói như vầy:

- Các sa-môn Thích Tử này đúng là có sự từ bỏ, có sở hành đoạn trừ; còn sa-môn Gotama là kẻ xa hoa nên nghĩ đến việc xa hoa.

Còn những người có đức tin, hoan hỷ, sáng suốt, có trí tuệ, những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?

Các tỷ-kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?

Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỷ-kheo lại và hỏi Devadatta rằng:

- Này Devadatta, nghe nói ngươi ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)... Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỷ-kheo nào ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Vị tỷ-kheo ấy nên được nói bởi các tỷ-kheo như vầy: ‘Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc[1]thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỷ-kheo nói như vậy mà vị tỷ-kheo ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỷ-kheo ấy nên được các tỷ-kheo nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy thì như thế là điều tốt, nếu không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

[596]Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỷ-kheo: ...(như trên)... Vị này là “vị tỷ-kheo” được đề cập trong ý nghĩa này.

Hội chúng hợp nhấtnghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết lập trong cùng ranh giới (sīmā).

Ra sức chia rẽ: vị (nghĩ rằng): “Làm thế nào để những người này trở thành khác biệt, trở thành tách biệt, trở thành nhiều phần?” rồi tầm cầu phe cánh, kết hợp nhóm bọn.

Cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ: là mười tám sự việc làm chia rẽ.[2]

Nắm lấy: là chọn lấy.

Loan truyền: là khơi lên.

Chấp giữ: là không chịu từ bỏ.

[597] Vị tỷ-kheo ấy: Vị tỷ-kheo là người chia rẽ hội chúng.

Bởi các tỷ-kheo: là bởi các vị tỷ-kheo khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ việc ấy thì như thế là điều tốt, nếu (vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị tỷ-kheo ấy nên được kéo[3]đến giữa hội chúng rồi nên được nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ việc ấy thì như thế là điều tốt, nếu (vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[598] Vị tỷ-kheo ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỷ-kheo, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Vị tỷ-kheo tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

[599] Tội tác ác (dukkaṭa) do lời đề nghị. Các trọng tội (thullaccaya) do hai lời thông báo (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt lời thông báo (thứ ba) thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).[4]Đối với vị vi phạm tội Saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo hết hiệu lực.

Tội Tăng tàng (Saṅghādisesa):...(như trên)... vì thế được gọi là “tội Tăng tàng.”

[600] Hành sự đúng Pháp, vị nhận biết là hành sự đúng Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, vị có sự hoài nghi, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, vị (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự sai Pháp, vị (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, vị có sự hoài nghi thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, vị nhận biết là hành sự sai Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[601] Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên,[5]vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều Tăng tàng (Saṅghādisesa) thứ mười.

*******

ĐIỀU TĂNG TÀNG (SAṄGHĀDISESA) THỨ MƯỜI MỘT:

[602] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Vel,uvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Các tỷ-kheo đã nói như vầy:

- Devadatta là người nói sai Pháp, Devadatta là người nói sai Luật. Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy?

Được nói như thế, Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto đã nói với các vị tỷ-kheo ấy như vầy:

- Các đại đức chớ có nói như thế. Devadatta là người nói đúng Pháp. Devadatta là người nói đúng Luật. Devadatta nắm được và phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.

Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, …(như trên)… Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỷ-kheo lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai?

Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỷ-kheo lại và hỏi các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, nghe nói trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỷ-kheo lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các tỷ-kheo, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, . .(như trên)... Này các tỷ-kheo, vì sao những kẻ rồ dại ấy, trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai vậy? Này các tỷ-kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Các tỷ-kheo là những kẻ ủng hộ của chính vị tỷ-kheo ấy tức là những kẻ tuyên bố ly khai dầu là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị. Và các vị ấy nói như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỷ-kheo này. Vị tỷ-kheo này là người nói đúng Pháp. Vị tỷ-kheo này là người nói đúng Luật. Vị tỷ-kheo này nắm được và phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.’Các vị tỷ-kheo ấy nên được nói bởi các tỷ-kheo như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỷ-kheo này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỷ-kheo này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỷ-kheo nói như vậy mà các vị tỷ-kheo ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì các vị tỷ-kheo ấy nên được các tỷ-kheo nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy thì như thế là điều tốt, nếu không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

[603]Của chính vị ấy: là của chính vị tỷ-kheo là người chia rẽ hội chúng.

Các tỷ-kheo là: Các vị tỷ-kheo khác là.

Những kẻ ủng hộ: (Vị chia rẽ hội chúng) có quan điểm gì, có điều mong mỏi gì, có sự thích ý gì thì các vị ấy cũng có quan điểm ấy, có điều mong mỏi ấy, có sự thích ý ấy.

Những kẻ tuyên bố ly khai: là những vị đứng trong phe, trong nhóm của vị ấy.

Một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị: là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị và các vị ấy nói như vầy: “Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỷ-kheo này. Vị tỷ-kheo này là người nói đúng Pháp. Vị tỷ-kheo này là người nói đúng Luật. Vị tỷ-kheo này nắm được và phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.”

[604] Các vị tỷ-kheo ấy: những kẻ ủng hộ là các vị tỷ-kheo ấy.

Bởi các tỷ-kheo: là bởi các vị tỷ-kheo khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỷ-kheo này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỷ-kheo này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ thì như thế là điều tốt, nếu (các vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị tỷ-kheo ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỷ-kheo này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỷ-kheo này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ thì như thế là điều tốt, nếu (các vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[605] Các vị tỷ-kheo ấy nên được các tỷ-kheo nhắc nhở. Và này các tỷ-kheo, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỷ-kheo tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỷ-kheo tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỷ-kheo tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Hội chúng nhắc nhở các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Các tỷ-kheo tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

[606] Tội tác ác (dukkaṭa) do lời đề nghị. Các trọng tội (thullaccaya) do hai lời thông báo (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt lời thông báo (thứ ba) thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa). Đối với các vị vi phạm tội Saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo hết hiệu lực. Hai ba vị nên được nhắc nhở chung (một lượt), không nên nhắc nhở nhiều hơn số lượng đó.

Tội Tăng tàng (Saṅghādisesa):...(như trên)... vì thế được gọi là “tội Tăng tàng.”

[607] Hành sự đúng Pháp, các vị nhận biết là hành sự đúng Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, các vị có sự hoài nghi, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, các vị (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự sai Pháp, các vị (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, các vị có sự hoài nghi thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, các vị nhận biết là hành sự sai Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[608] Các vị chưa được nhắc nhở, các vị dứt bỏ, các vị có tâm bị rối loạn, các vị bị thọ khổ hành hạ, các vị bị điên, các vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều Tăng tàng (Saṅghādisesa) thứ mười một.

*******

ĐIỀU TĂNG TÀNG (SAṄGHĀDISESA) THỨ MƯỜI HAI:

[609] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, ở tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa hành xử sai nguyên tắc.

Các tỷ-kheo đã nói như vầy:

- Này đại đức Channa, chớ có làm điều như vậy. Việc ấy không được phép.

Vị ấy đã nói như vầy:

- Này các đại đức, điều gì khiến các ngươi nghĩ là ta cần được dạy bảo? Chính ta mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng ta, Giáo Ph��p là của chúng ta, Giáo Pháp đã được chứng đạt bởi ngài thái tử của chúng ta. Cũng giống như cơn gió mạnh thổi qua thì gom tụ cỏ, cành khô, lá rụng đó đây chung lại thành đống; cũng giống như dòng sông phát xuất từ ngọn núi thì gom tụ các loại rong rêu chung lại thành đống; tương tợ y như thế, các ngươicó tên khác nhau, có họ khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có gia tộc khác nhau đã được xuất gia và quy tụ chung lại. Điều gì khiến các ngươi nghĩ là ta cần được dạy bảo? Chính ta mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng ta, Giáo Pháp là của chúng ta, Giáo Pháp đã được chứng đạt bởi ngài thái tử của chúng ta.

Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao trong khi được các tỷ-kheo dạy bảo đúng theo Pháp, đại đức Channa lại tỏ ra ương ngạnh?

Sau đó, các vị tỷ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỷ-kheo lại và hỏi đại đức Channa rằng:

- Này Channa, nghe nói trong khi được các tỷ-kheo dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)... không nên làm. Này kẻ rồ dại, vì sao trong khi được các tỷ-kheo dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh vậy? Này các tỷ-kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Ngay cả vị tỷ-kheo có bản tánh khó dạy,[6]trong khi được dạy bảo bởi các tỷ-kheo về các điều học thuộc về giới bổn lại tỏ ra ương ngạnh: ‘Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.’ Vị tỷ-kheo ấy nên được nói bởi các tỷ-kheo như vầy: ‘Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỷ-kheo đúng theo Pháp, các tỷ-kheo cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.’ Và khi được nói như vậy bởi các tỷ-kheo mà vị tỷ-kheo ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỷ-kheo ấy nên được các tỷ-kheo nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy thì như thế là điều tốt, nếu không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

[610]Ngay cả vị tỷ-kheo có bản tánh khó dạy: là vị khó dạy, là hội đủ các đức tính làm cho vị ấy trở thành khó dạy, không nhẫn nhịn, thọ nhận sự giáo huấn không nghiêm chỉnh.

Về các điều học thuộc về giới bổn: về các điều học thuộc về giới bổn pātimokkha.

Bởi các tỷ-kheo: là bởi các vị tỷ-kheo khác.

Đúng theo Phápnghĩa là điều học đã được đức Thế Tôn quy định; điều ấy nghĩa là đúng theo Pháp.

Vị ấy khi được dạy bảo lại tỏ ra ương ngạnh: “Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.”

[611] Vị tỷ-kheo ấy: là vị tỷ-kheo có bản tánh khó dạy ấy.

Bởi các tỷ-kheo: là bởi các vị tỷ-kheo khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỷ-kheo đúng theo Pháp, các tỷ-kheo cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ thì như thế là điều tốt, nếu (vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vị tỷ-kheo ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỷ-kheo đúng theo Pháp, các tỷ-kheo cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ thì như thế là điều tốt, nếu (vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[612] Vị tỷ-kheo ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỷ-kheo, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy), trong khi được dạy bảo bởi các tỷ-kheo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở v�� tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy), trong khi được dạy bảo bởi các tỷ-kheo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh . Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy.Hội chúng nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy), trong khi được dạy bảo bởi các tỷ-kheo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh . Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy.Hội chúng nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Vị tỷ-kheo tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

[613] Tội tác ác (dukkaṭa) do lời đề nghị. Các trọng tội (thullaccaya) do hai lời thông báo (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt lời thông báo (thứ ba) thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa). Đối với vị vi phạm tội Saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo hết hiệu lực.

Tội Tăng tàng (Saṅghādisesa): ...(như trên)... vì thế được gọi là “tội Tăng tàng.”

[614] Hành sự đúng Pháp, vị nhận biết là hành sự đúng Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, vị có sự hoài nghi, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, vị (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự sai Pháp, vị (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, vị có sự hoài nghi thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, vị nhận biết là hành sự sai Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[615] Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều Tăng tàng (Saṅghādisesa) thứ mười hai.

*******

ĐIỀU TĂNG TÀNG (SAṄGHĀDISESA) THỨ MƯỜI BA:

[616] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị nhóm Assaji và Punabbasuka[7]là các vị thường trú [8]tại vùng Kiṭāgiri là những tỷ-kheo tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc như vầy: họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình tràng hoa kết một mặt, tràng hoa kết hai mặt, thảm hoa, vòng hoa, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa che ngực.Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, dùng chung một tấm trải, dùng chung một tấm đắp, dùng chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngữa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ dùng tay đánh nhau. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây này;” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách.

[617] Vào lúc bấy giờ, có vị tỷ-kheo nọ đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi. Khi đang đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, vị ấy đã trú tại vùng Kiṭāgiri. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỷ-kheo ấy đã mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kiṭāgiri để khất thực. Vị ấy có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duổi. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỷ-kheo ấy đã nói như vầy:

- Người này là ai mà trông giống như kẻ ngu trong nhóm người ngu, giống như kẻ khờ trong nhóm người khờ, giống như kẻ ngớ ngẩn trong nhóm người ngớ ngẩn vậy? Khi gã đi đến, ai mà chịu bố thí đồ ăn đây? Trong khi các ngài thuộc nhóm Assaji và Punabbasuka của chúng ta thì lịch thiệp, thân thiện, nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao, luôn mời mọc đến thăm viếng, không có hợm hĩnh, khuôn mặt lại rạng rỡ, luôn mở đầu câu chuyện, nhờ vậy các ngài mới có đồ khất thực cúng dường.

Có người nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy vị tỷ-kheo ấy đang đi khất thực ở vùng Kiṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần vị tỷ-kheo ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỷ-kheo ấy và nói điều này:

- Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?

- Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.

- Thưa ngài, xin hãy đi. Chúng ta sẽ đi về nhà.

Khi ấy, người nam cư sĩ ấy đã dẫn vị tỷ-kheo ấy về nhà, dâng thức ăn, và nói điều này:

- Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?

- Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.

- Thưa ngài, như thế thì xin ngài đảnh lễ bằng đầu ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri đã bị hủ hoá. các vị nhóm Assaji và Punabbasuka là các vị thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỷ-kheo tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc như vầy: họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, ...(như trên)... Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây sùng đạo, có niềm tin, bây giờ không còn sùng đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỷ-kheo tốt ra đi, còn các tỷ-kheo tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỷ-kheo đến vùng Kiṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri có thể tồn tại.”

- Này đạo hữu, được rồi,

Vị tỷ-kheo ấy sau khi lắng nghe người nam cư sĩ ấy đã ra đi về hướng thành Sāvatthi. Tuần tự, vị ấy đã đến thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapinḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.

[618] Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỷ-kheo đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỷ-kheo ấy điều này:

- Này tỷ-kheo, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỷ-kheo, ngươi từ đâu đến vậy?

- Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, con đi đường xa không mệt lắm. Bạch ngài, con đây đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi. Khi đang đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, con đã trú tại vùng Kiṭāgiri. Bạch ngài, khi ấy vào buổi sáng, con đã mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kiṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, có người nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy con đang đi khất thực ở vùng Kiṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần con, sau khi đến đã đảnh lễ con và nói điều này: “Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?” “Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.” “Thưa ngài, xin hãy đi. Chúng ta sẽ đi về nhà.”Bạch ngài, sau đó người nam cư sĩ đã dẫn con về nhà, dâng thức ăn, rồi đã nói điều này: “Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?” “Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.” “Thưa ngài, như thế thì xin ngài đảnh lễ bằng đầu ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri đã bị hủ hoá. các vị nhóm Assaji và Punabbasuka là các vị thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỷ-kheo tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc như vầy: họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, ...(như trên)... Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây sùng đạo, có niềm tin, bây giờ không còn sùng đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỷ-kheo tốt ra đi, còn các tỷ-kheo tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỷ-kheo đến vùng Kiṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri có thể tồn tại.” Bạch Thế Tôn, con từ xứ đó đi đến.

[619] Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ­ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỷ-kheo lại rồi hỏi các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, nghe nói các vị nhóm Assaji và Punabbasuka là các vị thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỷ-kheo tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc như vầy: họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. … (như trên) … . Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Những người trước đây sùng đạo, có niềm tin, bây giờ không còn sùng đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỷ-kheo tốt ra đi, còn các tỷ-kheo tồi cư ngụ, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các tỷ-kheo, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, … (như trên) … Này các tỷ-kheo, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại thực hiện hành xử sai nguyên tắc như thế? Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình tràng hoa kết một mặt, tràng hoa kết hai mặt, thảm hoa, vòng hoa, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa che ngực. Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, dùng chung một tấm trải, dùng chung một tấm đắp, dùng chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngữa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ dùng tay đánh nhau. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây này,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Những người trước đây sùng đạo, có niềm tin, bây giờ không còn sùng đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỷ-kheo tốt ra đi, còn các tỷ-kheo tồi cư ngụ. Này các tỷ-kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên)… và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.

[620] Sau khi khiển trách các vị tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp thoại rồi bảo Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên) rằng:

- Này Sāriputta và Moggallāna, hai ngươi hãy đi đến vùng Kiṭāgiri rồi hãy thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka, các vị này là những đệ tử của hai ngươi.[9]

- Bạch ngài, các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka thì dữ tợn và thô lỗ, làm thế nào chúng con thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo ấy được?

- Này Sāriputta và Moggallāna, như thế thì hai ngươi hãy đi cùng với nhiều tỷ-kheo.

- Bạch ngài, xin vâng. Sāriputta và Moggallāna đã trả lời đức Thế Tôn.

[621] Và này các tỷ-kheo, nên thực thi như vầy: Trước hết, các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka cần được quở trách; sau khi quở trách, cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở rồi cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

- Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.” Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.” Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri,” vị ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.” Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri,” vị ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri” đã được hội chúng thực thi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

[622] Sau đó, hội chúng tỷ-kheo dẫn đầu là Sāriputta và Moggallāna đã đi đến vùng Kiṭāgiri và đã thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka: : “Các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.” Khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các vị ấy không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh,[10]không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỷ-kheo hài lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, họ bị sa đọa do có sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bỏ đi, họ hoàn tục.

Các vị tỷ-kheo ít ham muốn, ...(như trên)... Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasukakhi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỷ-kheo hài lòng, họ lại mắng chửi, họ lại nói xấu, họ bị sa đọa do có sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bỏ đi, họ hoàn tục?

[623] Rồi các vị tỷ-kheo ấy đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỷ kheo lại và hỏi các tỷ-kheo rằng:

- Này các tỷ-kheo, nghe nói khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các tỷ-kheo nhóm Assaji và Punabbasuka không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỷ-kheo hài lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, họ bị sa đọa do có sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bỏ đi, họ hoàn tục, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các tỷ-kheo, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, ...(như trên)... Này các tỷ-kheo, vì sao những kẻ rồ dại ấy khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, ...(như trên)... lại hoàn tục? Này các tỷ-kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỷ-kheo, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

Vị tỷ-kheo sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Vị tỷ-kheo ấy nên được nói bởi các tỷ-kheo như vầy: ‘Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được nói bởi các tỷ-kheo như thế, vị tỷ-kheo ấy lại nói với các tỷ-kheo ấy như vầy: ‘Các tỷ-kheo có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau họ lại xua đuổi vị này, họ lại không xua đuổi vị kia. Vị tỷ-kheo ấy nên được nói bởi các tỷ-kheo như vầy: ‘Đại đức chớ có nói như thế. Các tỷ-kheo không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được các tỷ-kheo nói như vậy mà vị tỷ-kheo ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỷ-kheo ấy nên được các tỷ-kheo nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy thì như thế là điều tốt, nếu không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

[624] Vị tỷ-kheo (sống nương tựa) vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ: là ngôi làng, là thị trấn, là thành phố, và ngay cả ngôi làng và thị trấn.

Sống nương tựa: các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bịnh là phụ thuộc vào nơi ấy.

Gia đìnhnghĩa là có bốn loại gia đình: gia đình Sát-đế-lỵ, gia đình Bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình hạng cùng đinh.

Kẻ làm hư hỏng các gia đình: là kẻ làm các gia đình trở thành hư hỏng với bông hoa, hoặc với trái cây, hoặc với bột tắm, hoặc với với đất sét, hoặc với gỗ chà răng, hoặc với tre, hoặc bằng cách thức chữa bệnh, hoặc bằng cách đi bộ đưa tin.

Có hành động sai trái: vị trồng bông hoa, vị bảo kẻ khác trồng, vị tưới bông hoa, vị bảo kẻ khác tưới, vị hái bông hoa, vị bảo kẻ khác hái, vị kết lại bông hoa, vị bảo kẻ khác kết lại.

[625] Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.

Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy: Trước kia họ sùng đạo, vì vị ấy họ trở nên không còn sùng đạo. Họ đã có niềm tin trở thành không có niềm tin.

Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.

[626] Vị tỷ-kheo ấy: là vị tỷ-kheo làm hư hỏng các gia đình.

Bởi các tỷ-kheo: là bởi các vị tỷ-kheo khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Và khi được các tỷ-kheo nói như thế, vị tỷ-kheo ấy lại nói với các tỷ-kheo ấy như vầy: “Các tỷ-kheo có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau các vị lại xua đuổi vị này, các vị lại không xua đuổi vị kia.

[627]Vị tỷ-kheo ấy: là vị tỷ-kheo được thực thi hành sự.

Bởi các tỷ-kheo: là bởi các vị tỷ-kheo khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỷ-kheo không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!.

Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ thì như thế là điều tốt, nếu (vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Vị tỷ-kheo ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỷ-kheo không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ thì như thế là điều tốt, nếu (vị ấy) không dứt bỏ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[628] Vị tỷ-kheo ấy nên được các tỷ-kheo nhắc nhở. Và này các tỷ-kheo, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỷ-kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên án các tỷ-kheo có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi.Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên án các tỷ-kheo có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi.Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự vi��c ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỷ-kheo này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên án các tỷ-kheo có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi.Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỷ-kheo tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy, vị ấy nên im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Vị tỷ-kheo tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

[629] Tội tác ác (dukkaṭa) do lời đề nghị. Các trọng tội (thullaccaya) do hai lời thông báo (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt lời thông báo (thứ ba) thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa). Đối với vị vi phạm tội Saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo hết hiệu lực.

Tội Tăng tàng (Saṅghādisesa):Chỉ có hội chúng ban cho hành phạt parivāsacủa tội đó, cho thực hành lại từ đầu, ban cho hành phạt mānatta, cho giải tội, không phải một số vị, không phải một cá nhân; vì thế được gọi là “tội Tăng tàng.” Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; vì thế được gọi là “tội Tăng tàng.”

[630] Hành sự đúng Pháp, vị nhận biết là hành sự đúng Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, vị có sự hoài nghi, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự đúng Pháp, vị (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, không dứt bỏ thì phạm tội Tăng tàng (Saṅghādisesa).

Hành sự sai Pháp, vị (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, vị có sự hoài nghi thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Hành sự sai Pháp, vị nhận biết là hành sự sai Pháp thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[631] Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ,[11]vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều Tăng tàng (Saṅghādisesa) thứ mười ba.

*******

[632] Bạch chư đại đức, mười ba điều Tăng tàng (Saṅghādisesa)đã được đọc tụng xong, chín điều bị phạm tội (ngay từ giây phút) đầu tiên, bốn điều (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba. Vị tỷ-kheo vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này và che giấu biết được bao nhiêu ngày thì vị tỷ-kheo ấy phải chịu hành phạt parivāsakhông theo ý muốn bấy nhiêu ngày. Vị tỷ-kheo đã trải qua hành phạt parivāsanên thực hành thêm sáu đêm mānatta dành chotỷ-kheo. Vị tỷ kheo có hành phạt mānattađã được hoàn tất thì vị tỷ-kheo ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỷ-kheo nhóm hai mươi vị. Nếu hội chúng tỷ-kheo nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một mà giải tội cho vị tỷ-kheo ấy thì vị tỷ-kheo ấy chưa được giải tội và các tỷ-kheo ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.

Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Dứt chương Mười ba pháp.

********

Tóm Lược Chương này:

Sự xuất ra (tinh dịch),
việc xúc chạm cơ thể,
(nói lên) lời dâm dật,
tình dục cho bản thân,
mai mối, và liêu cốc,
trú xá, không nguyên cớ,
điều nhỏ nhặt nào đó,
và chia rẽ (hội chúng),
kẻ ủng hộ vị ấy,
và (ương ngạnh) khó nói,
làm hư các gia đình,
là mười ba điều học
Saṅghādisesa.


[1]Ekuddeso: chung sự đọc tụng giới bổn Pātimokkha đang được hiện hành (theo ngài Buddhaghosa).

[2]Xin xem Đại Phẩm - Mahāvagga, chương Kosambī thứ X.

[3]Ngài Buddhaghosa giải thích là “... nắm lấy các tay và các chân kéo đến giữa hội chúng ...”

[4]Sở dĩ không đề cập đến tội thullaccaya thứ ba vì khi dứt câu: “Yassa nakkhamati so bhāseyya” ở chữ “yya” thì vị ấy phạm tội Saṅghādisesa nên không thành lập tội thullaccaya thứ ba.

[5]Hai điều “vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ,”tạng Thái Lan có chú thích rằng: “Được thấy ở cácsách khác.”

[6]Về vấn đề này, ngài Buddhaghosa đề cập đến bài kinh Anumānasutta thuộc Majjhimanikāya I (HT Minh Châu dịch là Kinh Tư Lượng số 15 của Kinh Trung Bộ 1).

[7]Theo ngài Buddhaghosa, hai vị này là các vị đứng đầu trong nhóm Lục Sư. Theo thứ tự được ngài trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở thành Sāvatthi, hai vị khác đã được đề cập trước đây là Mettiya và Bhummajaka ở thành Rājagaha, hai vị này ở vùng núi Kīṭā.

[8]Được gọi là “āvāsika” nghĩa là trong trường hợp ấy chỗ trú ngụ (āvāso) tức là trú xá (vihāra) thuộc về vị ấy. Vị thường trú có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ cũ kỹ, v.v... được gọi là “āvāsika” còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là “nevāsika” (Theo ngài Buddhaghosa).

[9]Ngài Buddhaghosa còn cho biết rằng hai tỷ-kheo này (luôn cả sáu vị được gọi là Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các đầu đề (mātikā).

[10]Theo ngài Buddhaghosa là 18 phận sự của vị bị thực thi hành sự xua đuổi (Xin xem Tiểu Phẩm – Cullavagga, chương I, [119]).

[11]Hai điều “vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ”, tạng Thái Lan, có chú thích rằng: “Không được thấy ở tạng Miến Điện.

-ooOoo-

Nguồn: www.budsas.org

Trình bày: Linh Thoại

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn