53. Thiền Sư Tề An

12/10/202120:01(Xem: 28719)
53. Thiền Sư Tề An
200_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Te An



Nammô A Di Đà Phật


Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học bài thứ 201 về Thiền Sư Tề An. Ngài thuộc đời thứ 3 sau Lục Tổ Huệ Năng, là đệ tử đắc pháp của TS Mã Tổ Đạo Nhất. Ngài Tề An họ Lý quê ở Giang Tô.

TS Tề An có túc duyên nhiều đời, khi Ngài ra đời trong nhà đầy hào quang, có một Thiền sư đến nhà thăm và nói lời tiến tri rằng " đây là vị sứ giả dựng cờ vô thắng, xoay mặt trời Phật soi trở lại".

Sư phụ giải thích : "dựng cờ vô thắng" là ý nói không tranh thắng bại. "Xoay mặt trời Phật soi trở lại" là quay lại bản tâm trí tuệ của mình.

Lớn lên, Ngài xuất gia với Thiền Sư Vân Tông, sau đó Ngài đến đảnh lễ Mã Tổ. Ngài Mã Tổ thấy tướng mạo Tề An đẹp đẽ, cho vào thất truyền pháp và ngài Tề An đắc pháp.

Ngài Tề An về Giang Tô lập đạo tràng hướng dẫn đại chúng tu học.

Có một vị Tăng đến hỏi TS Tề An :”thế nào là bản thân Lô Xá Na?”
Sư bảo :”đem cái bình đồng kia đến cho ta”.
Vị tăng liền lấy tịnh bình đem lại.
Sư bảo:”hẩy đem để lại chỗ cũ”
Vị Tăng đem bình để lại chỗ cũ rồi thưa hỏi lại câu trước.
Sư bảo :”Đức Phật đã quá khứ lâu rồi”.

Sư Phụ giải thích có ba Lô Xá Na :
1-thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Xá Na, có trùm khắp trong không gian và thời gian.
2-viên mãn báo thân Tỳ Lô Xá Na, là thân Phước báu đầy đủ công Đức, trí tuệ chiếu sáng không còn vô minh phiền não.
3- thiên bá ức hoá thân Lô Xá Na, là ứng thân Phật ra đời giáo hoá, vắng lặng, không trụ trong sanh tử.

Sư Tề An bảo :”Đức Phật đã quá khứ lâu rồi”, Sư Phụ giải thích, cái dụng của pháp thân là "bưng bình đi tới, đi lui" , đó là thanh tịnh pháp Tỳ Lô Giá Na, nhưng vị tăng không hiểu nỗi cái dụng ngay trong gi
ờ phút hiện tại, nên bị Tổ quở là ”Đức Phật đã quá khứ lâu rồi”.

Sư phụ có nhắc lại lời của Triết gia Tây Phương Heraclitus rằng "Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, vì dòng nước chảy qua chảy qua, không bao giờ lập lại nữa.



Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/2013(Xem: 9369)
1. Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (Phạn ngữ: Mahà-Prajnàpàramità- Sùtra) là bộ kinh vĩ đại nhất của Phật giáo Bắc truyền, xét về số lượng cũng như diệu lý. Kinh gồm 600 quyển, chiếm tới 3 tập với 3.000 trang in khổ lớn của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu (ĐTK/ĐCTT, No 220, các tập 5,6,7), do Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng (602-664) dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán.
04/04/2013(Xem: 7493)
Vaisâli (Tỳ-da-li), thủ phủ của Vajji (Bạt-kỳ), một cường quốc theo chế độ cộng hòa thị tộc của người Vajji, mà các lân bang quen gọi là Licchavì, là một đô thị phát triển trù phú thời đức Thích Tôn tại thế, và những người Licchavì giàu có, vinh quang, được ví như các thiên thần cõi trời Ðao-lợi (Trayastrimsa).
04/04/2013(Xem: 8041)
Kinh Giải Thâm Mật gồm năm quyển do Tam tạng Pháp sư Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc niên hiệu Trinh Quán thứ 21 (năm 647) đời Ðường. Tương truyền bản tiếng Phạn bộ kinh này có mười vạn bài tụng, bản dịch hiện nay là bản lược dịch có một ngàn năm trăm bài tụng, chia làm 8 phẩm. Trước đó, quyển kinh này đã có ba bản dịch
04/04/2013(Xem: 7772)
Kinh Hoa Nghiêm, gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, là bộ kinh điển trọng yếu hiển bày ý nghĩa tuyệt vời về nhân hạnh quả đức của Phật-đà như tạp hoa trang nghiêm rộng lớn viên mãn, vô tận vô ngại, qua các vị Bồ-tát lớn Phổ Hiền, Văn-thù, sau khi Phật thành đạo tại các nơi như Bồ Đề Tràng v.v…
04/04/2013(Xem: 8394)
Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn của hệ thống Kinh tạng Đại thừa Phật giáo, được các học giả phương Tây cho là 1 trong 20 Thánh thư phương Đông. Sự hành trì tụng niệm một cách sâu rộng và bền bỉ của Phật tử đối với Kinh Pháp Hoa cho thấy rằng đây là một bộ kinh đặc biệt về cả hai mặt triết lý và huyền bí. Ở Việt Nam, Kinh Pháp Hoa được trì tụng hàng ngày như một thời khóa tu học kể cả chư tăng lẫn Phật tử tại gia.
04/04/2013(Xem: 8245)
Kinh A Di Đà (Phạn: Sukhàvatyamrta-vỳuha) còn gọi là kinh Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm, kinh Chư Phật Sở Hộ Niệm, kinh Tiểu Vô Lượng Thọ, là một bản kinh ngắn của Phật giáo Bắc truyền, nhưng rất quan trọng đối với tín ngưỡng Tịnh độ, là một trong 3 bản kinh căn bản của tông Tịnh độ.
04/04/2013(Xem: 9004)
Từ ngữ A-hàm (Àgama) nói theo nghĩa rộng là chỉ cho những giáo thuyết được truyền thừa, hoặc các Thánh điển do sưu tập các giáo thuyết ấy tạo thành. Do vậy, thông thường nói Kinh A-hàm tức chỉ cho 4 bộ hoặc 5 bộ Thánh điển của Phật giáo Nguyên thủy.
03/04/2013(Xem: 7729)
Kinh Duy Ma Cật xuất hiện vào thế kỷ thứ hai sau Tây lịch, nay không còn trọn nguyên văn chữ Phạn, dịch thuật chỉ dựa vào bản Hán và Tây Tạng. Trước có 6 bản dịch, nay còn chỉ 3 bản: 1. Phật thuyết Duy Ma Cật kinh, Chi Khiêm đời Ngô dịch, 2 quyển. 2. Duy Ma Cật Sở Thuyết kinh, do Cưu Ma La Thập dịch, gồm 3 quyển. 3. Thuyết Vô Cấu Xưng kinh, do Huyền Trang dịch, gồm 6 quyển.
03/04/2013(Xem: 7467)
Kinh tạng Nikàya, Pàli và A-hàm Hán tạng là những bộ kinh thuộc Phật giáo truyền thống, còn gọi là Kinh tạng Nguyên thủy. Đó là những bộ kinh chứa đựng những gì Đức Phật đã dạy suốt trong 45 năm truyền giáo, gồm những giáo lý căn bản như Tứ diệu đế, Duyên khởi, Vô ngã ...
03/04/2013(Xem: 8632)
Không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tôn giả Đại Ca Diếp tập họp 500 vị đại Tỳ kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ Xá Ly, để chuẩn bị kết tập kinh luật. Trong số 500 Tỳ kheo này, 499 vị đã đắc quả A La Hán, chỉ trừ tôn giả A Nan.