52. Thiền Sư Bảo Thông

12/10/202119:59(Xem: 34663)
52. Thiền Sư Bảo Thông

199_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Bao Thong

Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học bài thứ 200 về Thiền Sư Bảo Thông. Ngài thuộc đời thứ 3 sau Lục Tổ Huệ Năng, là đệ tử đắc pháp của TS Hy Thiên Thạch Đầu. Ngài có họ Dương, người Dĩnh Châu, tỉnh An Huy (732-824).

Ban sơ Ngài đến tham vấn TS Hy Thiên, và TS Hy Thiên hỏi :”cái gì là tâm của con?”. Sư thưa :”nói năng chính là tâm của con”. Sư bị TS Hy Thiên nạt đuổi ra. Sư Phụ giải thích, lời nói phải phát xuất từ chân tâm, có chánh niệm, mới đem lại sự bình an cho người. Sư Phụ có nhắc lời thơ của Sư ông Làng Mai  "miệng thơm lời chánh ngữ, hoa nở tự vườn tâm".

Tuần sau, ngài Bảo Thông lại đến thưa hỏi, nói năng là tâm, không còn cái nào khác, xin Sư phụ khai thị cho biết.
TS Hy Thiên bảo :”từ bỏ nhướng mày, chớp mắt, đem tâm lại cho ta”.

Ngài Bảo Thông thưa :”không thể tìm cái tâm mà không có nhướng mày chớp mắt. Không tâm có thể đem lại được”.
TS Hy Thiên bảo :”nguyên lai có tâm, sao nói không Tâm, không Tâm thì trọn đồng với không”. Tâm nằm trong chỗ nhướng mày, chớp mắt, mỗi cử chỉ, hành động đều có tâm. Tâm này là tâm sanh diệt, Chân tâm là cái Thấy tâm sanh diệt.
Ngài Bảo Thông ngay chỗ này liền đạt ngộ, sụp lạy tạ ơn Sư phụ Hy Thiên.

Một hôm Ngài Bảo Thông đứng hầu TS Hy Thiên.
Sư phụ Thạch Đầu hỏi :”người là Tăng tham thiền hay là Tăng châu viện”.
Ngài Bảo Thông thưa là Thiền sinh. Sư phụ nói sao là thiền?
Ngài Bảo Thông thưa, thiền của con là nhướng mày chớp mắt trong tâm thức vắng lặng.
Sư phụ hỏi :”ngoài nhuớng mày chớp mắt, đem bản lai diện mục trình cho ta xem”.
Ngài Bảo Thông thưa, thỉnh Sư phụ xem con.
Sư phụ bảo bản lai diện mục vốn không vật, người cũng không vật.
Ngài Bảo Thông thưa, đã không vật tức là vật thật, không thể nói ra được, là chân như Phật tánh, tự chứng tự biết.
Sp Thạch Đầu khi nghe đệ tử trình thưa, ấn chứng và bảo :”tâm của con thấy ý chỉ như vậy thì khéo hộ trì”.


Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/2013(Xem: 9377)
1. Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (Phạn ngữ: Mahà-Prajnàpàramità- Sùtra) là bộ kinh vĩ đại nhất của Phật giáo Bắc truyền, xét về số lượng cũng như diệu lý. Kinh gồm 600 quyển, chiếm tới 3 tập với 3.000 trang in khổ lớn của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu (ĐTK/ĐCTT, No 220, các tập 5,6,7), do Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng (602-664) dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán.
04/04/2013(Xem: 7505)
Vaisâli (Tỳ-da-li), thủ phủ của Vajji (Bạt-kỳ), một cường quốc theo chế độ cộng hòa thị tộc của người Vajji, mà các lân bang quen gọi là Licchavì, là một đô thị phát triển trù phú thời đức Thích Tôn tại thế, và những người Licchavì giàu có, vinh quang, được ví như các thiên thần cõi trời Ðao-lợi (Trayastrimsa).
04/04/2013(Xem: 8050)
Kinh Giải Thâm Mật gồm năm quyển do Tam tạng Pháp sư Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc niên hiệu Trinh Quán thứ 21 (năm 647) đời Ðường. Tương truyền bản tiếng Phạn bộ kinh này có mười vạn bài tụng, bản dịch hiện nay là bản lược dịch có một ngàn năm trăm bài tụng, chia làm 8 phẩm. Trước đó, quyển kinh này đã có ba bản dịch
04/04/2013(Xem: 7784)
Kinh Hoa Nghiêm, gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, là bộ kinh điển trọng yếu hiển bày ý nghĩa tuyệt vời về nhân hạnh quả đức của Phật-đà như tạp hoa trang nghiêm rộng lớn viên mãn, vô tận vô ngại, qua các vị Bồ-tát lớn Phổ Hiền, Văn-thù, sau khi Phật thành đạo tại các nơi như Bồ Đề Tràng v.v…
04/04/2013(Xem: 8427)
Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn của hệ thống Kinh tạng Đại thừa Phật giáo, được các học giả phương Tây cho là 1 trong 20 Thánh thư phương Đông. Sự hành trì tụng niệm một cách sâu rộng và bền bỉ của Phật tử đối với Kinh Pháp Hoa cho thấy rằng đây là một bộ kinh đặc biệt về cả hai mặt triết lý và huyền bí. Ở Việt Nam, Kinh Pháp Hoa được trì tụng hàng ngày như một thời khóa tu học kể cả chư tăng lẫn Phật tử tại gia.
04/04/2013(Xem: 8255)
Kinh A Di Đà (Phạn: Sukhàvatyamrta-vỳuha) còn gọi là kinh Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm, kinh Chư Phật Sở Hộ Niệm, kinh Tiểu Vô Lượng Thọ, là một bản kinh ngắn của Phật giáo Bắc truyền, nhưng rất quan trọng đối với tín ngưỡng Tịnh độ, là một trong 3 bản kinh căn bản của tông Tịnh độ.
04/04/2013(Xem: 9022)
Từ ngữ A-hàm (Àgama) nói theo nghĩa rộng là chỉ cho những giáo thuyết được truyền thừa, hoặc các Thánh điển do sưu tập các giáo thuyết ấy tạo thành. Do vậy, thông thường nói Kinh A-hàm tức chỉ cho 4 bộ hoặc 5 bộ Thánh điển của Phật giáo Nguyên thủy.
03/04/2013(Xem: 7749)
Kinh Duy Ma Cật xuất hiện vào thế kỷ thứ hai sau Tây lịch, nay không còn trọn nguyên văn chữ Phạn, dịch thuật chỉ dựa vào bản Hán và Tây Tạng. Trước có 6 bản dịch, nay còn chỉ 3 bản: 1. Phật thuyết Duy Ma Cật kinh, Chi Khiêm đời Ngô dịch, 2 quyển. 2. Duy Ma Cật Sở Thuyết kinh, do Cưu Ma La Thập dịch, gồm 3 quyển. 3. Thuyết Vô Cấu Xưng kinh, do Huyền Trang dịch, gồm 6 quyển.
03/04/2013(Xem: 7495)
Kinh tạng Nikàya, Pàli và A-hàm Hán tạng là những bộ kinh thuộc Phật giáo truyền thống, còn gọi là Kinh tạng Nguyên thủy. Đó là những bộ kinh chứa đựng những gì Đức Phật đã dạy suốt trong 45 năm truyền giáo, gồm những giáo lý căn bản như Tứ diệu đế, Duyên khởi, Vô ngã ...
03/04/2013(Xem: 8696)
Không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tôn giả Đại Ca Diếp tập họp 500 vị đại Tỳ kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ Xá Ly, để chuẩn bị kết tập kinh luật. Trong số 500 Tỳ kheo này, 499 vị đã đắc quả A La Hán, chỉ trừ tôn giả A Nan.