Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

7. Ai biết?

21/02/201115:20(Xem: 1983)
7. Ai biết?

SỐNG THIỀN
Nguyên Minh

CHƯƠNG II: THỰC HÀNH THIỀN QUÁN

Ai biết?

Chúng ta đã thấy sự khác biệt giữa hiểu và biết, hay giữa khả năng suy tư và trực giác. Như thế, khi ta nói “tôi hiểu” hay “cô ấy hiểu”, vấn đề không có gì gợi nên sự thắc mắc. Nhưng với tính chất bao trùm của cái biết thì những phát biểu đại loại như “tôi biết”, “cô ấy biết” dường như có gì đó không thỏa đáng.

Khi thấy được cái biết hiện diện bàng bạc khắp trong vạn vật, thì việc giới hạn nó vào một chủ thể rõ ràng là không hợp lý. Khi nói “tôi biết”, chúng ta hàm ý là tâm nhận biết chứ không phải thân thể bằng xương thịt này nhận biết. Nhưng tâm ta chính là cái biết, không biết thì sao gọi là tâm? Vì thế, nói “tôi biết” cũng như nói “cái biết biết”, và điều này cũng vô lý tương tự như ta thường nói “mưa rơi”. Mưa là hiện tượng nước rơi trong không trung. Không có nước rơi thì không có mưa, nên nói mưa rơi suy cho cùng là vô nghĩa. Ta chỉ cần nói mưa ở đây, mưa ở kia... là đã đủ để diễn đạt đúng sự việc. Tương tự, ta chỉ cần nói “cái biết ở nơi tôi”, “cái biết ở nơi cô ấy”... Và cũng tương tự, ta có “cái biết nơi con ong”, “cái biết nơi con kiến”...

Khi ta nói “cái biết biết”, ta đã cho rằng “cái biết” là một thực thể tồn tại độc lập nằm trong ta, để biết về những gì ở bên ngoài ta. Khi nhận thức theo cách đó, cái biết lập tức bị đóng khung vào chính những gì nó đã tạo ra và không còn là cái biết thật sự nữa.

Chúng ta không đưa vấn đề ra chỉ để hình thành thêm những khái niệm mới, khác lạ hơn hoặc phức tạp hơn. Thực ra những phân tích này là nhằm cho thấy sự vô lý trong thói quen phân biệt các chủ thể độc lập và tách biệt trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Khi nói đến cái biết, chúng ta luôn đi kèm theo với câu hỏi “ai biết?”, và điều đó ngay lập tức giới hạn phạm vi của cái biết vào một khuôn khổ, khiến cho chúng ta biết mà không còn là biết nữa. Sở dĩ như vậy là vì ta đã không nhận thức đúng về cái biết. Như khi nói đến mưa, ta chẳng bao giờ thắc mắc là “ai mưa?”, vì ta nhận thức được mưa là gì. Khi ta nói “trời mưa”, ta cũng không thật sự hàm ý chỉ đến một chủ thể nào cả.[7]Chúng ta cũng nên nhận thức về cái biết theo cách tương tự như vậy, để không vô tình nhốt chặt cái biết vào trong những lớp vỏ khái niệm hoặc bóp méo đi bởi sự phân biệt.

Trong cuộc sống hàng ngày, sẽ không có vấn đề gì khi chúng ta tiếp tục đặt ra câu hỏi “ai biết?”, cũng như duy trì những khái niệm phân biệt các chủ thể độc lập và tách biệt. Nhưng một khi muốn chuẩn bị cho cái nhìn toàn diện và thể nhập vào thực tại, thì việc xem xét lại vấn đề là hết sức cần thiết để có thể chấp nhận và bước vào một thế giới chân thật vô phân biệt.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/09/201010:25(Xem: 3218)
Chưabao giờ các công trình nghiên cứu về những bí mật của Thiền định lạiđược các phương tiện thông tin đại chúng, các hãng truyền thông lớn, đềcập đến nhiều như thời gian vừa qua. Các hãng tin như AP, Reuter cácbáo như News Week, Time... đều có nhiều bài viết chi tiết mô tả nhữngkhám phá của các nhà khoa học Anh, Mỹ qua phương pháp chụp cộng hưởngtừ hoạt động của bộ não các Thiền sư, đã phát hiện ra nhiều điều màtrước đây, khi nói đến hầu hết mọi người đều nghĩ rằng đó chỉ là nhữngcảm giác có được do phương pháp tự kỷ ảm thị hoặc tưởng tượng mà thành... Phải biết gạn đục, khơi trong. Đừng lẫn lộn giữa Pháp và người giảng Pháp, bởi “Pháp” chính là Đạo: giảng Pháp là giảng Đạo. Ta nghe Pháp để “thấy” đạo...
07/01/201109:47(Xem: 2624)
Nếu bạn không suy nghĩ sự đau khổ của chu trình sinh tử, sự tan vỡ ảo tưởng với vòng sinh tử sẽ không sinh khởi.
01/07/201101:18(Xem: 1078)
Thở vào, tâm tĩnh lặng Thở ra, miệng mỉm cười An trú trong hiện tại Giờ phút đẹp tuyệt vời (An lạc từng bước chân- Thích Nhất Hạnh)
02/02/201110:59(Xem: 9379)
Trong 45 năm hoằng pháp độ sinh, Đức Phật đã du hành khắp miền Bắc Ấn độ để giảng dạy con đường giải thoát mà Ngài đã tìm ra. Rất nhiều người đã quy y với Ngài...
28/09/201007:41(Xem: 3774)
Như Lai Thiền trong kinh tạng Pàli, hay "Hành Thiền, một nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng", là một công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến Như Lai Thiền mà không đề cập đến Tổ Sư Thiền. Ở đây chúng tôi hạn chế trong Kinh Tạng Pàli mà không đề cập đến A-tỳ-đàm - Tạng Pàli, với chủ đích muốn giới thiệu cho các Phật tử hiểu rõ Thiền nguyên thủy là gì, trước hết là ngang qua kinh nghiệm bản thân của đức Phật khi ngài chưa thành Đạo, khi Ngài thành Đạo, trong suốt 45 năm thuyết pháp và cuối cùng khi Ngài nhập Niết-bàn.
18/06/201212:00(Xem: 5494)
Nhìn từ một chiều khác của Thiền, thường được nhấn mạnh trong Tổ Sư Thiền, là “hãy giữ lấy tâm không biết.” Nghĩa là, lấy cái “tâm không biết” để đối trị các pháp.
22/04/201319:59(Xem: 5476)
Ngày nay việc thực hành Thiền Quán đã được phổ biến rộng rãi khắp thế giới, tuy nhiên, để đạt được sự thành công như hiện nay, pháp hành này đã trải qua nhiều biến đổi tế nhị. Thay vì được giảng dạy như một phần chính yếu của con đường tu tập Phật giáo, bây giờ pháp hành này thường được trình bày như một môn học thế gian mà những kết quả đạt được thuộc về đời sống trong thế giới này hơn là sự giải thoát siêu thế gian.
04/04/201320:52(Xem: 3784)
"Như Lai Thiền trong kinh tạng Pàli, hay Hành Thiền, một nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng", là một công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến Như Lai Thiền mà không đề cập đến Tổ Sư Thiền.
09/04/201311:38(Xem: 6981)
Người Tây Phương đã có những công trình nghiên cứu đạo Phật một cách qui mô vào cuối thế kỷ 19. Những học giả người Anh, người Đức, tiêu biển nhất là những hội viên của Pali Text Society và Royal Asiatic Academy đã để lại những dịch phẩm, tác phẩm mà đến nay vẫn mang giá trị to lớn cho Phật học thế giới. Một số cá nhân đi xa hơn trở thành những tu sĩ Tây phương tại các quốc gia Phật giáo. Họ tìm thấy môi trường tu tập tuyệt vời khi sống giữa những người Phật tử Á Đông.
22/09/201015:49(Xem: 5029)
Tổ Hoàng Bá giữ một vai trò rất quan trọng trong lịch sử Thiền Tông vì đệ tử của tổ là tổ Lâm Tế, người đã sánglập ra tông Lâm Tế. Muốn hiểu rõ về tông Lâm Tế thì cần biết rõ về tổ Hoàng Bá là người đã đào tạo tổ LâmTế. Tại Trung Hoa, sau thời Lục Tổ thì Thiền Tông chia làm5 tông: Lâm Tế, Tào Động, Quy Nhưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn. Phần lớn các chùa tại Việt Nam trước đây đều thuộc tông Lâm Tế. Tại Nhật Bản thì hiện nay Zen (Thiền Tông)chỉ có hai tông được phát triển mạnh nhất là Lâm Tế (Nhật: Rinzai) và Tào Động (Nh: Soto)...