7. Ai biết?

21/02/201115:20(Xem: 5658)
7. Ai biết?

SỐNG THIỀN
Nguyên Minh

CHƯƠNG II: THỰC HÀNH THIỀN QUÁN

Ai biết?

Chúng ta đã thấy sự khác biệt giữa hiểu và biết, hay giữa khả năng suy tư và trực giác. Như thế, khi ta nói “tôi hiểu” hay “cô ấy hiểu”, vấn đề không có gì gợi nên sự thắc mắc. Nhưng với tính chất bao trùm của cái biết thì những phát biểu đại loại như “tôi biết”, “cô ấy biết” dường như có gì đó không thỏa đáng.

Khi thấy được cái biết hiện diện bàng bạc khắp trong vạn vật, thì việc giới hạn nó vào một chủ thể rõ ràng là không hợp lý. Khi nói “tôi biết”, chúng ta hàm ý là tâm nhận biết chứ không phải thân thể bằng xương thịt này nhận biết. Nhưng tâm ta chính là cái biết, không biết thì sao gọi là tâm? Vì thế, nói “tôi biết” cũng như nói “cái biết biết”, và điều này cũng vô lý tương tự như ta thường nói “mưa rơi”. Mưa là hiện tượng nước rơi trong không trung. Không có nước rơi thì không có mưa, nên nói mưa rơi suy cho cùng là vô nghĩa. Ta chỉ cần nói mưa ở đây, mưa ở kia... là đã đủ để diễn đạt đúng sự việc. Tương tự, ta chỉ cần nói “cái biết ở nơi tôi”, “cái biết ở nơi cô ấy”... Và cũng tương tự, ta có “cái biết nơi con ong”, “cái biết nơi con kiến”...

Khi ta nói “cái biết biết”, ta đã cho rằng “cái biết” là một thực thể tồn tại độc lập nằm trong ta, để biết về những gì ở bên ngoài ta. Khi nhận thức theo cách đó, cái biết lập tức bị đóng khung vào chính những gì nó đã tạo ra và không còn là cái biết thật sự nữa.

Chúng ta không đưa vấn đề ra chỉ để hình thành thêm những khái niệm mới, khác lạ hơn hoặc phức tạp hơn. Thực ra những phân tích này là nhằm cho thấy sự vô lý trong thói quen phân biệt các chủ thể độc lập và tách biệt trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Khi nói đến cái biết, chúng ta luôn đi kèm theo với câu hỏi “ai biết?”, và điều đó ngay lập tức giới hạn phạm vi của cái biết vào một khuôn khổ, khiến cho chúng ta biết mà không còn là biết nữa. Sở dĩ như vậy là vì ta đã không nhận thức đúng về cái biết. Như khi nói đến mưa, ta chẳng bao giờ thắc mắc là “ai mưa?”, vì ta nhận thức được mưa là gì. Khi ta nói “trời mưa”, ta cũng không thật sự hàm ý chỉ đến một chủ thể nào cả.[7]Chúng ta cũng nên nhận thức về cái biết theo cách tương tự như vậy, để không vô tình nhốt chặt cái biết vào trong những lớp vỏ khái niệm hoặc bóp méo đi bởi sự phân biệt.

Trong cuộc sống hàng ngày, sẽ không có vấn đề gì khi chúng ta tiếp tục đặt ra câu hỏi “ai biết?”, cũng như duy trì những khái niệm phân biệt các chủ thể độc lập và tách biệt. Nhưng một khi muốn chuẩn bị cho cái nhìn toàn diện và thể nhập vào thực tại, thì việc xem xét lại vấn đề là hết sức cần thiết để có thể chấp nhận và bước vào một thế giới chân thật vô phân biệt.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2013(Xem: 10506)
Vào mùa Xuân năm 1992, chiếc máy Fax trong văn phòng của giáo sư Richard Davidson ở khoa Tâm lý học thuộc Viện Đại học Wisconsin bất ngờ in ra một bức thư của Tenzin Gyatso, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng. Giáo sư Davidson là một nhà thần kinh học được đào tạo từ Viện Đại học Harvard, ông đã nổi danh nhờ công trình nghiên cứu về các tình cảm tích cực, và tin đồn về những thành tựu khoa học của ông đã lan truyền đến miền Bắc Ấn Độ.
22/04/2013(Xem: 12670)
Tại các quốc gia Âu Mỹ, pháp thiền trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy thường được hiểu như là pháp thiền minh sát, cho đến nổi có nhiều người thực hành trong truyền thống này xem mình như là các thiền giả minh sát. Tuy nhiên, các bản kinh Pali -- tài liệu cổ xưa ghi lại các bài giảng của Đức Phật, không xem thiền minh sát như là một hệ thống tu thiền độc lập nhưng là một thành tố của một cặp kỷ năng hành thiền gọi là Samatha và Vipassanà, An Chỉ và Minh Quán -- hay Chỉ và Quán.
10/04/2013(Xem: 10323)
Như chúng ta đã biết, con đường giải thoát sinh tử khổ đau là con đường Giới, Định, Tuệ. Nói gọn là con đường Thiền định với "Ba mươi bảy phẩm trợ đạo" là tiêu biểu. Thế Tôn dạy: "Này các Tỷ kheo, khi nào các Thầy có giới khéo thanh tịnh và Chánh tri kiến, các Thầy hãy y cứ trên giới, tu tập Tứ Niệm Xứ theo ba cách: Nhiệt tâm, Chánh niệm tỉnh giác và nhiếp phục tham ưu ở đời"
09/04/2013(Xem: 20575)
Người Tây Phương đã có những công trình nghiên cứu đạo Phật một cách qui mô vào cuối thế kỷ 19. Những học giả người Anh, người Đức, tiêu biển nhất là những hội viên của Pali Text Society và Royal Asiatic Academy đã để lại những dịch phẩm, tác phẩm mà đến nay vẫn mang giá trị to lớn cho Phật học thế giới. Một số cá nhân đi xa hơn trở thành những tu sĩ Tây phương tại các quốc gia Phật giáo. Họ tìm thấy môi trường tu tập tuyệt vời khi sống giữa những người Phật tử Á Đông.
09/04/2013(Xem: 10405)
Thiền định , thiền quán và thiền định thiền quán song tu, hay nói gọi theo thời xưa là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu, của Đại thừa được đặt trên thực tại tối hậu mà các kinh thường gọi là Thật tướng của tất cả các pháp.
04/04/2013(Xem: 9571)
"Như Lai Thiền trong kinh tạng Pàli, hay Hành Thiền, một nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng", là một công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến Như Lai Thiền mà không đề cập đến Tổ Sư Thiền.
02/04/2013(Xem: 4181)
Tất cả những ai đến thực tập Thiền Minh Sát Tuệ [hay Thiền Minh Sát] đều mong phát triển Trí Tuệ thật nhanh. Tất cả những ai chưa khai triển Trí Tuệ đều mong phát sanh Trí Tuệ thật nhanh. Tất cả những ai đã có vài Tuệ giác đều mong phát triển thêm Trí Tuệ thật nhanh. Mọi người mong phát triển Trí Tuệ thật nhanh.
21/03/2013(Xem: 19484)
NIẾT BÀN, phỏng dịch theo nguyên bản mang tựa đề: “NIRVANA IN A NUTSHELL” của SCOTT SHAW, do Barnes & Noble ấn hành năm 2003. Tác giả Scott Shaw là một nhà văn điêu luyện, một nhà giáo, một nhà võ và đồng thời là một Phật tử thuận thành.
28/12/2012(Xem: 17404)
Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầuthiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinhđiển thiền ngữ” (六十六條經典禪語),có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinhđiển [Phật giáo]”, được phổ biếntrên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010,có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật họclàm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đãthêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.
17/11/2012(Xem: 5665)
Thân người có ba chứng bệnh là bệnh thuộc về phong, bệnh thuộc về hàn và bệnh thuộc về nhiệt, nhưng ba chứng bệnh này gây họa không lớn, chỉ khổ trong một đời. Tâm cũng có ba nhóm bệnh, nhưng ba bệnh này gây họa thật nghiêm trọng, khiến con người phải chịu khổ đau vô lượng kiếp. Chỉ có Đức Phật, một đại lương y mới có thể ban thuốc chữa trị. Người tu hành trong vô lượng thế giới mãi bị các căn bệnh hiểm nghèo này, hôm nay mới có cơ hội tu dưỡng đức hạnh. Thế nên phải có ý chí kiên định, siêng năng tu tập, không tiếc thân mạng. Như một chiến tướng xông trận, nếu lòng không kiên định thì không thể phá giặc, phá giặc loạn tưởng