Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

III- Ðốn ngộ tiệm tu

25/04/201105:57(Xem: 1278)
III- Ðốn ngộ tiệm tu

THIỀN TRONG ĐỜI THƯỜNG
Thích Thông Huệ

Chương 7: ĐỐN NGỘ

III- ĐỐN NGỘ TIỆM TU:

Vào thế kỷ thứ VI, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa. Ngài thấy người tu hầu như đều công phu theo lối Thiền mặc tọa và Tứ thiền Bát định, nên không ai có sự chân ngộ. Tổ bắt đầu xiển dương Thiền Đốn ngộ, và bài kệ nổi tiếng sau đây nói rõ chủ trương của Ngài:

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
Tạm dịch:
Không lập văn tự
Ngoài giáo riêng truyền
Chỉ thẳng tâm người
Kiến tánh thành Phật.

Không cần chữ nghĩa dài dòng rối rắm, Thiền sư có thủ thuật truyền riêng ngoài giáo điển, giúp môn nhân lập tức nhận ra bản tâm thanh tịnh của chính mình. Kiến tánh tức thành Phật.

Quả là một tiếng sét giữa trời quang! Người theo học Thiền Đốn ngộ về sau rất đông, nhưng người phản bác cũng không ít, nhất là khi Lục Tổ xiển dương tông phái. Người phản bác nêu lập luận: Chư Phật phải cần khổ tu hành đến ba a-tăng-kỳ kiếp mới thành tựu đạo quả, nay nói chỉ thấy tánh là thành Phật, làm sao tin nổi? Ngài Đức Sơn Tuyên Giám, người chuyên giảng kinh Kim Cang và trước tác bộ Thanh Long Sớ sao, hàng hậu bối sau Lục Tổ hơn trăm năm, đã phẫn nộ muốn “Ruồng tận hang ổ, tiêu diệt hết bọn ma phương Nam để đền ơn Phật Tổ”!

Trên thực tế, ta thấy mọi việc thường xảy ra tuần tự, có thứ lớp. Ví như một cây từ khi mọc đến lúc ra hoa trái phải mất một thời gian, dài ngắn tùy loài; con người từ khi mới sanh đến tuổi trưởng thành phải trải qua hai mươi năm... Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đột biến làm thay đổi trong giây phút. Trường hợp tế vi như đột biến gen trong tế bào, tạo nên một giòng sinh vật khác; trường hợp rõ hơn như người trúng số độc đắc, từ khốn cùng bỗng giàu lên nhanh chóng; tình huống trọng đại như cả một vùng đang yên ổn thanh bình, bỗng bị hủy diệt bởi vũ khí hạt nhân ... Đặc biệt hơn, những cảnh trong mộng diễn biến với đủ tình tiết, khi người tỉnh giấc cảnh biến mất ngay, không còn dấu vết. Cũng vậy, có những hành giả bỗng nhiên có đột biến trong tâm, tự nhiên thấu suốt vấn đề một cách nhanh chóng mà không qua thứ lớp tu tập. Đó là những vị có trực giác bén nhạy, có chủng tử Bát-Nhã sâu dày. Thiền Đốn ngộ lập cước trên cái thấy biết như thật về tất cả các pháp khi chúng đang là, mà kinh Pháp Hoa gọi là “như thị tri, như thị kiến”. Cái thấy biết ấy không qua trường lớp đào tạo, không qua thứ lớp tu tập mà là sự phóng xuất chớp nhoáng của trực giác Bát-Nhã. Vào thời điểm diệu kỳ không báo trước, đột ngột then máy huyền vi mở ra, hành giả thấy rõ mình là ai trước khi cha mẹ sanh, trước cả lúc vũ trụ hình thành. Đây là sự chấn động mãnh liệt, sự đổi đời triệt để khiến phải khóc cười ra tiếng, như Lục Tổ đã từng la lên “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ ...”

Nhưng nhận ra bản tánh thanh tịnh mới chỉ là bước đầu vào cửa Thiền tông. Nói “Kiếâùn tánh thành Phật” nghĩa là đã có chánh nhân tu hành, nhưng tập khí lâu đời đâu dễ dàng gột sạch? Tuy đường tu không còn lầm lạc, niềm tin không còn thối chuyển, chỗ thấy không còn mai một, nhưng vẫn phải mất bao nhiêu thời gian công sức bào mòn tập khí, sống thuần thục bằng tâm thể bất sanh. Đây là bước lớn thứ hai trên đường đạo. Kinh Kim Cang nói : “Tất cả Hiền Thánh chỉ do một pháp vô vi mà có sai khác”. Pháp thân vô tướng chỉ có một, nhưng do sống trọn vẹn hay chưa mà có thứ bậc sai khác : Tam Hiền là các quả vị Trụ-Hạnh-Hồi hướng ; thập Thánh là mười quả của Thập Địa Bồ-tát. Nhà Thiền cũng có câu : “Ở trong Viên Giác mà chưa từng viên giác là phàm phu. Muốn chứng Viên Giác mà chưa tột Viên Giác là Bồ-tát. Đầy đủ Viên Giác và an trụ trong Viên Giác là Như Lai”.

Và đây là bài kệ truyền tụng nổi tiếng:

Đốn ngộ tuy đồng Phật
Đa sanh tập khí thâm.
Phong đình ba thượng dũng
Lý hiện niệm du xâm.
Tạm dịch:
Đốn ngộ tuy bằng Phật
Nhiều đời tập khí vây.
Gió dừng, còn sóng dữ
Lý hiện, niệm còn đầy.

Bậc đốn ngộ tuy có cái thấy biết đồng với chư Phật, nhưng nhiều đời tập khí sâu dầy, vây phủ lôi cuốn tạo thành trở ngại chướng duyên. Ví như gió lặng mà sóng vẫn còn dâng cao, vị ấy tuy nắm vững lý thật mà vọng tưởng vẫn còn lừng lẫy, chấp ngã tế vi vẫn còn ngủ ngầm. Giai đoạn này, các vị Thiền sư ngày xưa thường ẩn tu một thời gian dài để bảo nhậm, sau đó mới ra hoằng hoá.

Kinh Lăng Nghiêm có bài kệ của Ngài A Nan trình lên Đức Phật, sau khi thấy đạo. Ngài thể hiện niềm tin kiên cố của mình “Thuấn–nhã–đa tánh khả tiêu vong, Thước-ca-ra tâm vô động chuyển”, dù hư không tánh bị hoại diệt thì tâm Bồ-đề của Ngài cũng không dời đổi. “Tâm Bồ Đề” là bản tâm chân thật Ngài đã nhận ra. Tuy vậy, vì tập khí nhiều đời nên những nghi hoặc nhỏ nhiệm chưa dứt. Ngài cầu xin Đức Thế Tôn rũ lòng bi mẫn, giúp Ngài tận trừ chúng:

Đại hùng đại lực đại từ bi
Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc.

Khi Phật diệt độ, Ngài A-Nan vẫn chưa sạch lậu hoặc, chưa chứng ngộ A-la-hán nên không được dự Đại hội kết tập kinh điển do Ngài Ca-Diếp chủ trì. Phải qua một đêm tích cực hạ thủ công phu, Ngài A-Nan mới chứng Thánh quả, vận thần thông bay vào hang đá nơi đang diễn ra Đại hội. Với tài đa văn bậc nhất và trí nhớ tuyệt vời, Ngài tuyên đọc những lời Phật đã dạy trong suốt thời gian hành đạo, không sót một chữ, “Như nước trong vò đổ vào bình không rơi ra một giọt”!

Theo quan niệm của Phật giáo Phát triển, quả A-la-hán là chứng lục thông, giải thoát sanh tử; nhưng so với quả vị Phật còn cách xa muôn trùng. Bậc A-la-hán chỉ tương đồng với Phật trên bình diện đoạn đức, nhưng không sánh được Phật ở trí đức và ân đức. Đoạn đức là đoạn trừ tâïn gốc phiền não nghiệp chướng, sạch hết tập khí, vượt thoát luôn hồi. Tuy nhiên, các Ngài thấy Ngã không nhưng chưa thấy Pháp không, còn chấp Ta-bà khổ đáng chán, Niết-bàn an lạc đáng ưa, tức là còn thủ trước vào Niết-bàn Hoá thành. Bồ-tát thì thấy Ngã-Pháp đều không thật, trần gian và Tịnh độ đều là hoa đốm, không có phiền não đáng xa lìa và Bồ-đề đáng thủ đắc. Do có trí đức nên các Ngài dạo chơi trong sanh tử, bằng nguyện lực mà vào ra tam giới, miệt mài hành Bồ-tát hạnh giáo hoá chúng sanh, vẹn toàn Ân đức. Khi tự giác giác tha viên mãn, các Ngài chứng quả vị tột cùng. Điều đặc biệt là khi thành Phật, các Ngài vẫn không ngừng trở lại các cõi độ sanh. Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm là những vị Cổ Phật, nhưng vẫn thị hiện làm Bồ-tát hỗ trợ công cuộc hoằng hoá của Đức Phật Thích Ca; sau nầy hai Ngài Văn Thù, Phổ Hiền còn hoá thân thành hai thân phận hạ liệt Hàn Sơn-Thập Đắc, tùy duyên cảnh tỉnh người đời. Những hình ảnh sáng ngời ấy quả khiến ta vô cùng ngưỡng mộ và cảm khái!

Vì sao các Ngài không xem Niết-bàn là chỗ an trú vĩnh viễn? -Bởi vì các Ngài đủ đại trí nên không bị trầm luân trong sanh tử, và đủ đại bi nên phải thi thiết phương tiện hoá độ chúng sanh vô minh. Nếu chỉ có đại bi thì cứu người không xong, mà chính mình cũng bị nghiệp lực dẫn lôi vào vòng xoáy luân hồi; nếu chỉ có đại trí thì không thể tận tình giáo hoá chúng sanh cang cường nan điều phục. Đầy đủ đại trí và đại bi, các Ngài mới có thể cứu mình cứu người. Trí đức và Ân đức vì thế cần phải đi đôi. Mặt khác, do thoát vòng cương tỏa của phân biệt nhị biên, nên Niết-bàn và sanh tử đều không hai không khác. Các Ngài làm mọi việc, đóng mọi vai trò mà tâm hoàn toàn thanh tịnh. Ấy mới là Chân định, Thường định, Đại định.

***

Thiền sư Khuông Việt có bài kệ :

Mộc trung nguyên hữu hoả
Hữu hoả, hoả hoàn sanh.
Nhược vị mộc vô hoả
Toản toại hà do manh ?

Tạm dịch :

Trong cây vốn có lửa,
Có lửa, lửa mới sanh.
Nếu bảo cây không lửa,
Cọ xát, lửa sao thành?

Vì trong cây có sẵn lửa nên khi hai cây cọ xát nhau, lửa mới phát ra. Thân vô thường của chúng ta cũng vậy, vì có sẵn bản tánh chân thường tức chánh nhân thành Phật, nên tu hành mới có ngày thành tựu Phật quả. Chư Phật thấy rõ Phật nhân bình đẳng ở tất cả chúng sanh, nên thị hiện nơi đời với bản hoài “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Chúng ta có phước duyên nhiều đời mới được nghe và tu theo chánh pháp, không mang mặc cảm tự ti cho mình căn cơ thấp kém mà thối chí ngã lòng. Chúng ta tin chắc trong thân ngũ uẩn sanh diệt của mình có thể tánh bất sanh; và với niềm tin kim cương ấy, ta vững chãi bước trên lộ trình tâm linh, vượt qua mọi gian nan thử thách, và có ngày đạt đến quả vị tột cùng.

 

II- NỘI DUNG THIỀN TẬP:

1- Lộ trình tâm linh:

Trong Bát Chánh đạo, đi đầu là Chánh kiến. Người tu trước tiên phải nắm vững phương pháp hành trì, như người đi đường trước khi khởi hành phải nghiên cứu lộ trình và nơi đến. Nếu không có kiến giải chơn chánh, tu hành theo chánh pháp, thì dù cực khổ công phu đến mấy cũng không đạt được mục đích cuối cùng, đôi khi lầm lạc vào đường tà lối rẽ. Dĩ nhiên, mỗi người có căn cơ, trình độ, sở thích khác nhau, nên sự chọn lựa pháp tu là do tâm ý của riêng mình. Kinh nghiệm tu tập cũng mang tính cách cá nhân, như mỗi bông hoa có một dáng vẻ, một hương thơm khác nhau, nhưng đều chung sức tỏa sắc khoe hương cho vườn hoa tập thể.

Thiền sinh theo dõi từng vận hành của tâm niệm, thấy chúng khởi lên và diệt đi, không còn dấu vết. Biết rõ chúng là hư dối không thật, ta không theo chúng, tự nhiên tâm liền an. Nhận diện tiến trình sinh diệt của vọng niệm là bước đầu của con đường thiền tập; trong đó, nhận ra bộ mặt của vọng là điều kiện đầu tiên tối cần để chiến đấu và chiến thắng giặc phiền não. Một vị tướng tài muốn trăm trận trăm thắng, phải biết rõ ta và địch. Giặc phiền não có tâm vương tâm sở, trận chiến ngay tự thân là trận chiến ác liệt nhất, nếu ta không nhận diện được giặc thì làm sao có chiến tích lẫy lừng? Đây lại là cuộc trường chinh gian khổ, vì tập khí phiền não tích tụ biết bao đời kiếp, không phải một ngày hai ngày là xong việc. Pháp môn tri vọng là lối chăn trâu trong nhà Thiền, có nhiều mức đôï từ thấp đến cao(5).

Chánh niệm là công phu ở mọi nơi mọi lúc. Thiền sinh duy trì sự tỉnh giác thường xuyên, luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, nhận rõ sự động dụng của thân, sự biến đổi của tâm và sự vô thường của cảnh. Chỉ cần biết rõ tất cả mà không khởi niệm hay cưỡng chế mọi sự việc theo ý mình. Chánh niệm tự động soi sáng và chuyển hoá mọi cảm thọ ở thân và những phiền não cấu nhiễm trong tâm, như ánh nắng chiếu vào nước đá, tự nhiên nước đá tan chảy dù ánh sáng không cố ý mong cầu.

Kiến tánh là kiến chiếu vào tận thể tánh của chính mình. Hành giả nhận ra con người thật, con người nguyên thủy trước khi cha mẹ sinh ra. Kiến tánh là trở về cái uyên nguyên của vũ trụ nhân sinh; cái không thể dùng ý thức tưởng tượng nhưng luôn luôn hiện hữu; cái không hình tướng nhưng trùm khắp và không sanh không diệt; cái tịch lặng muôn đời nhưng chiếu soi tận cùng pháp giới. Trở về thể tánh chơn thật ấy, hành giả đã có chỗ y cứ chung thân, đời tu không còn lui sụt nữa.

2- Thiền tập trong mọi hoàn cảnh:

Trước tiên, chúng ta nên nhận định rằng Thiền không phải chỉ là toạ, nên tu Thiền không chỉ ở lúc ngồi. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu khi tâm ta còn lăng xăng đa sự, toạ thiền là công phu cần thiết và cơ bản giúp ta dễ định tâm hơn cả. Một số người dùng lời dạy của Lục Tổ, hoặc chủ trương Thiền là phải sống trong từng giây phút để bài bác việc tọa thiền. Đây là một điều lầm lẫn lớn lao. Đức Phật mỗi sáng sớm trước khi đi giáo hoá, Ngài đều tọa thiền, sau đó xét căn cơ trình độ của những người hữu duyên Ngài sẽ gặp, để chỉ dạy phương pháp tu thích hợp. Một số vị Tổ sư không chủ trương tọa thiền để đối trị sự cố chấp của môn đệ, cho tọa thiền là cứu cánh. Những phương tiện giáo hoá của các Ngài lập bày chỉ vì đương cơ và chỉ thích hợp với đương thời; ngày nay chúng ta lại áp dụng vào mọi nơi mọi lúc, e có khi không hợp lẽ.

Lúc tọa thiền mà có âm thanh hay tiếng động ồn ào bên ngoài, ta vẫn biết nhưng không duyên theo tiếng hoặc sanh tâm bực bội. Những cảnh tượng quấy rầy lúc đầu làm trở ngại, nhưng đó cũng là cơ hội để ta tu trong nghịch duyên. Tuy thế, không nên cố ý tạo nghịch duyên như tự mình mở nhạc hoặc băng thuyết pháp lúc đang tọa thiền, vì thiền không chủ ý chủ tâm. Trường hợp này thường gặp trong gia đình các Phật tử đông người, không có không gian riêng cho mình tu tập. Ta có thể khắc phục hoàn cảnh bằng cách chọn giờ yên tĩnh hoặc một nơi thích hợp cho công phu thiền tọa, kết hợp với thiền hành.

Tọa thiền là công phu trong lúc tĩnh; tiến thêm một bước là tập tu trong khi động, theo tinh thần của Chánh niệm hay làm việc gì chỉ biết việc đó. Trong ngày, lúc thuận tiện ta có thể thiền hành trong phòng, trên sân thượng, trên đường vắng hay ngoài bãi biễn ..., vừa đi vừa hít thở không khí trong lành, chánh niệm trên từng bước chân, Thiền hành là lối công phu có tính cách tự do, không theo nguyên tắc cố định. Đơn giản là ta đi bách bộ một cách chậm rãi, không có đích đến. Lúc đi ta biết mình đang đi, cái biết này chỉ mới trên bề mặt ý thức nhưng là khởi đầu cần thiết. Tâm tĩnh lặng, ta thấy an lạc hạnh phúc nơi từng bước chân. Đến khi đi chỉ biết là đi mà không còn ngã tướng, thì tuy chân vẫn bước mà ý niệm đi biến mất. Đi trong trạng thái vong ngã thì tức khắc ta đi vào bản thể của chính mình. Đi thẳng vào bản thể hoàn toàn trái ngược với sự đi quanh của ngã tướng; điều này khó nói cho người khác hiểu, chỉ nhờ công phu mới tự mình thầm nhận.

Trong một nhóm tu hành, ta có thể tổ chức những bữa cơm nhiếp tâm. Duy trì chánh niệm trên từng động tác, nghĩa là đang gắp, nhai, nuốt ...ta đều biết rõ nhưng không chia nhỏ những động tác ấy. Ví dụ, trong trí ta cứ thầm nhủ theo từng cử chỉ “gắp-gắp lên miệng - bỏ vào miệng – nhai – nhai - nuốt...” thì những động tác ấy không thể nào tự nhiên được. Các món ăn đặt trên bàn, ta có thể gắp một cách từ tốn tự nhiên, vị chua cay ngọt mặn thế nào ta đều biết. Không phải khi ăn không cần biết ngon dở, vì như thế trởû thành vô tri, dần dần quên mất sự sống. Ta có quyền thấy nghe hay biết tất cả, nhưng điều quan trọng là không sanh tâm khen chê ưa ghét, như thế sẽ không xa rời cuộc sống, mới có cơ hội phát sinh Tri kiến Như thật.

Mặt khác, trong những công việc hàng ngày, chỉ cần tỉnh thức chú tâm vào mọi động tác, vào công việc làm. Khi ta quét nhà, chính sự quét nhà là niềm an lạc, nếu ta không xen vào những tư tưởng phức tạp của ý thức. Khi ta nấu cơm, rửa chén, cuốc đất ... cũng vậy. Nấu cơm để nấu cơm, rửa chén là để rửa chén. Chỉ chú tâm vào việc đang làm, việc làm ấy sẽ được chu toàn, năng suất cao, kết quả tốt; và đặc biệt, nơi hành động đã là mục đích, nơi phương tiện đã là cứu cánh. Như thế, Thiền là sự sống trong mọi sinh hoạt bình thường.

Các huynh đệ đồng tu thường có những buổi pháp đàm, trao đổi những kiến giải và kinh nghiệm trong công phu. Những cuộc trao đổi như thế rất hữu ích, với điều kiện phải có tinh thần hòa ái hoan hỉ, mục đích giúp nhau cùng tu tiến chứ không phải tranh luận hơn thua. Nếu không theo tinh thần Tam hòa(6), dễ gây mất sự đoàn kết nội bộ. Khổng Tử nói: “Tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sư”, ba người cùng đi ắt có người làm thầy ta. Ta có thể học được tất cả mọi người, kể cả những người nhỏ tuổi hơn, yếu kém hơn ta. Có người thường thích phát biểu trước tập thể để chứng tỏ mình tu hay hơn, hiểu biết hơn người khác; có người bảo thủ, luôn cho ý kiến của mình là đúng, không chấp nhận những ý kiến trái ngược... Tất cả đều là hành tung của bản ngã. Người có ngã chấp quá lớn không thể tiếp thu gì thêm, như ly nước đã đầy, không rót được thêm vào. Từ đó, đường tu dần dần đi xuống mà không hay biết. Thiền tông nói lên được cái tinh hoa của đạo Phật nên rất thành tựu về mặt truyền pháp, nhưng do chỉ dạy quá thẳng tắt nên nhiều người tưởng hiểu lý Thiền là xong việc, lấy sự hiểu bằng ý thức làm lẽ sống mà không tinh cần công phu, cuối cùng từ hay chuyển sang dở. Thiền sinh chúng ta nên cảnh giác đối với bệnh khẩu đầu thiền, một bệnh phổ biến của những người nói nhiều làm ít. Tu là phải thúc liễm thân tâm, thận trọng trong từng lời nói và tỉnh giác trong từng hành động, lại cần nói ít hơn những điều mình đã thấy. Người có công phu thiền tập tự nhiên sẽ có một phong cách đặc biệt, trầm tĩnh đúng mực từ lời nói đến việc làm.

Các bậc hiền sĩ ngày xưa thường chủ trương Thà chết vinh hơn sống nhục. Danh dự nhiều khi quý giá hơn tài sản, tính mạng. Nhưng làm sao trong vinh dự được tôn xưng mà ta không ngã mạn cống cao, thì có lúc nào đó bị người khinh chê, ta sẽ không quá buồn khổ. Gặp lửa nóng ta biết ngay mà tránh, còn nước mát lại dễ làm mất cảnh giác, chết đuối lúc nào không hay. Nghịch cảnh như lửa nóng, người tu dễ thức tỉnh nhớ xoay lại mình, còn cảnh ấm êm thuận thảo đôi lúc gây kiêu ngạo. Cho nên nhà Thiền không sợ thất bại, mà lại ngại sự thành công; vì chính thất bại là nghịch duyên cần thiết để hành giả có thêm kinh nghiệm tự thân, biết mình còn xấu dở mà tinh cần tu học.

Có một điều tế nhị chúng ta cần lưu ý: Một hôm nào đó ta gặp một người dáng vẻ tu hành mẫu mực, sống trong cảnh bần hàn và luôn chê bai xem thường danh lợi. Tiếp xúc với người ấy đôi lần, ta rất ngưỡng mộ và muốn tôn làm thầy dạy đạo. Nhưng cần tỉnh táo sáng suốt nhận định rõ vấn đề. Ngụ ngôn Pháp kể chuyện con cáo chê chùm nho xanh, không đáng để nó bỏ công hái. Nhưng thật ra, vì chùm nho trên cây cao quá, cáo ta năm lần bảy lượt nhảy lên mà không với tới, nên mới ra bộ chê bai. Đó chỉ là tâm lý phản ứng trước một thứ mà mình không thể có dù thâm tâm rất muốn. Trong đời, chúng ta có thể gặp rất nhiều hình ảnh “con cáo và chùm nho” như thế.

Cổ đức nói:
Phiền não khởi giai do đa sự
Thị phi sanh dĩ thị đa ngôn.

Con người chúng ta không nhiều thì ít đều có những ham muốn đam mê. Chính sự ham muốn tạo thành kiết sử, trói buộc và sai khiến ta phải tìm mọi cách thỏa mãn; đạt được lại muốn nhiều hơn, không đạt khởi sanh sân hận. Nhu cầu bản thân càng cao thì phải ôm đồm nhiều việc, phiền não càng lẫy lừng. Con người trở thành nạn nhân cho chính dục vọng của mình, ngày càng bất an, thần kinh căng thẳng đưa đến những hậu quả khó lường. Lại nữa, khi ngồi với nhau, thường thì chúng ta hết bàn sự phải quấy lại đến chuyện đông tây kim cổ. Nhưng bàn chuyện người thì có ích gì cho mình, càng nói nhiều càng lắm thị phi. Chúng ta có mâu thuẫn là muốn bình an nhưng lại thích luận bàn thế sự, lại thấy rõ cái dở của người mà không biết tìm khuyết điểm nơi mình. Chúng ta tu là chấp nhận những điểm yếu của mình một cách thẳng thắn, và sửa đổi để ngày càng hoàn thiện. Ta nhận định mọi người mọi vật bằng cặp mắt khách quan, không thần tượng hoá người nào, không lý tưởng hoá vật gì. Trên đời không có cái gì tuyệt đối, không chỉ có thầy mình là hay nhất, không chỉ có pháp tu của mình là đúng nhất. Những cái nhìn thiển cận biên kiến là tư tưởng cục bộ chủ quan, làm đóng khuôn và che mờ thực tại. Đạo Phật là đạo trí tuệ, người con Phật phải có chánh kiến, nhìn mọi vấn đề một cách toàn diện và bao dung được mọi tư tưởng lập trường khác biệt. Từ đó, ta có thể hòa đồng với mọi người và chịu đựng mọi hoàn cảnh mà vẫn giữ bản chất, phong thái riêng của mình.

Thiền sư Vạn Hạnh có bài kệ nổi tiếng:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu vô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Nghĩa:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu nhuốm hồng.
Mặc cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.

Khi biết vạn pháp đều không thật, đều vô thường, thì sự thăng trầm thịnh suy của cuộc sống đối với các Ngài như hạt sương trên đầu ngọn cỏ. Chúng ta chưa được tự tại như các Ngài, nhưng nhờ công phu thiền tập, ít nhiều cũng có sự trầm tĩnh. Trước khi quyết định một việc gì, ta suy nghĩ chín chắn, xử thế có lý có tình và có lập trường vững chắc. Ta không từ nan việc gì trong khả năng mà có ích cho đời, làm nhưng không dính mắc vướng bận. Đời sống của ta sẽ có ý nghĩa dù thọ mạng ngắn hay dài; ta hiến dâng nhiều bao nhiêu thì sự an lạc hạnh phúc đến với ta tương đương như thế.

Một số thiền sinh thường thắc mắc: Trong cuộc sống, ai cũng phải tính toán lo toan cho bản thân, cho gia đình. Người tu càng nhiều việc sắp xếp, tổ chức trong tự viện và những việc Phật sự bên ngoài. Suốt ngày suy tính bận bịu như thế có trái với tôn chỉ nhà Thiền là vô sự vô tâm?. Các bậc ngộ đạo cũng trăm công nghìn việc, nhưng các Ngài sắp xếp việc nào ra việc ấy, tính xong rồi buông xả, nên các Ngài làm tất cả mà cũng như không làm. Chúng ta học theo các Ngài, cũng phải lo toan cho cuộc sống hàng ngày một cách chu đáo, làm tròn mọi trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, nhưng không dính mắc, thì dù đa sự mà vẫn không phiền não.

3- Một vài ngộ nhận trong công phu:

* Có người cho rằng, tu hành là phải tránh bớt duyên khi chưa triệt ngộ, nên chủ trương tự tu tự học khi đã biết cách dụng công. Đây là một quan niệm hữu lý, có cơ sở, nhưng nếu ta cố chấp lại sinh ra cực đoan. Ngày xưa, các vị Thiền sư khi kiến tánh, thường vào núi rừng ẩn tu một thời gian gột sạch tập khí, sau đó mới vào cuộc đời giáo hoá chúng nhân. Ngày nay, chúng ta không thể sống một mình nơi hoang dã, uống nước suối ăn trái rừng qua ngày, chưa kể lúc ốm đau hoặc chướng duyên làm trở ngại. Vì thế, phần đông chúng ta đều chấp nhận cuộc sống chung cùng bạn lữ, tuy kết quả không nhanh chóng bằng người xưa, nhưng được lợi là giúp mình giúp người. Mặt khác, nếu nắm vững pháp tu, trong lúc động lại tiến nhanh hơn khi tĩnh. Cùng sống với tập thể, một mặt ta giúp được người đi sau, mặt khác ta nương vào người để củng cố lòng tin, ý chí, để được bảo vệ trước những cám dỗ của ngũ dục. Nhiều người thích tu nơi vắng vẻ, một thời gian tưởng mình đã xong việc, không ngờ khi trở về thế gian lại sanh phiền não, có trường hợp sa ngã, uổng một đời tu. Đây không những là kinh nghiệm đối với người xuất gia, mà còn cho những đạo tràng cư sĩ tại gia.

* Có người hiểu lầm chỉ có tọa thiền mới là tu, nên xem thời gian tọa thiền trong ngày là chuẩn mực đạo đức. Thật ra, khi mới phát tâm, tọa thiền giúp ta dễ an định tâm, do các căn ít tiếp xúc với trần cảnh. Nhưng trong các giai đoạn sau, khi công phu đã thuần thục, ta cần tu trong mọi thời khắc, mọi nơi chốn, mọi oai nghi. Các Thiền sư, khi trả lời câu hỏi “Thiền là gì?”, thường bảo “Dưới gót chân ông” hoặc “Trong thân chỗ nào không có máu?”. Lục Tổ chủ trương kiến tánh chứ không chủ trương tọa thiền, vì chưa kiến tánh thì chưa bước chân vào cửa Thiền tông.

* Một số thiền sinh quan niệm Thiền là cắt đứt mọi hoạt động tâm lý. Đây là lối tu theo kiểu đá đè cỏ, luôn phải chú tâm đè nén vọng tưởng nên hành giả rất sợ cảnh sợ duyên, không có sự sáng tạo và sức sống riêng cho chính mình; đến khi gặp chướng ngại không biết làm cách nào để tránh. Có người lại hiểu Thiền qua sách vở, nghĩ Thiền dễ tu dễ chứng, chưa gì đã tự tôn xưng, thỏng tay vào chợ. Thật là một lầm lẫn tai hại, sao khỏi đọa vào khổ xứ? Tất cả ngôn từ, dù cao siêu hoa mỹ đến đâu, cũng không diễn đạt đến lẽ thật. Muốn ngộ lý Thiền, ta phải khéo thông qua ngôn ngữ mà thầm lãnh hội thực tại phi ngôn. Thiền là đời sống tự mình kinh nghiệm, tự thấu triệt ngay từ những điều bình dị đơn giản nhất.

* Đức Phật bảo “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, ấy là muốn sách tấn hàng môn đệ, vì quả thật mỗi chúng sanh đều có mầm mống giác ngộ. Không có nhân thành Phật, không thể nào chúng ta tu đến quả vị cuối cùng. Nhưng nếu chúng ta hiểu đơn giản rằng, chữ “sẽ thành” có nghĩa là một tương lai nào đó, thì vô hình trung ta có sự vọng cầu mong mỏi. Như thế là không hợp lý đạo. Phật là Phật tâm tại hiện tiền, chứ không phải là một Đấng Cứu thế bên ngoài hay một quả vị Phật ở thời điểm nào xa xôi. Người tu thiền có tâm mong cầu kết quả, có khi công phu thấy cảnh lạ lại khởi lòng vui mừng hay sợ hãi, thường dễ phát sinh bệnh tật, điên cuồng. Đây là điều chúng ta cần thận trọng ghi nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn