Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

II- Khả tính bất nhị của thuần nhất và đa thù

25/04/201105:57(Xem: 1237)
II- Khả tính bất nhị của thuần nhất và đa thù

THIỀN TRONG ĐỜI THƯỜNG
Thích Thông Huệ

Chương 5
THUẦN NHẤT VÀ ĐA THÙ

II- KHẢ TÍNH BẤT NHỊ CỦA THUẦN NHẤT VÀ ĐA THÙ:

Khả tính bất nhị của cặp phạm trù nầy biểu hiện trên rất nhiều phương diện, vì thế giới hiện thực vốn muôn màu muôn vẻ. Ở đây, chúng ta sẽ khảo sát một vài khía cạnh để minh họa vấn đề nầy.

1/Tĩnh và động:

Thiền sư Sư-Nhan Đoan-Nham, lúc còn hành khước, đến Ngài Nham Đầu, hỏi:
- Thế nào là lý bản thường?
Ngài Nham Đầu đáp:
- Động.
- Khi động thì thế nào?
- Chẳng phải lý bản thường.
Sư trầm ngâm giây lâu. Ngài Nham Đầu liền nói :
- Chấp nhận tức chưa ra khỏi căn trần; chẳng chấp nhận tức hằng chìm sanh tử.
Sư nhân đây lãnh hội.

Câu trả lời của Ngài Nham Đầu điều hợp giữa Tĩnh và Động, hiển bày lý Trung Đạo. Sư Đoan Nham hỏi về lý bản thường là thể tánh bất động tuyệt đối, Ngài dùng cái động để đáp và ngược lại. Những câu đáp dường như mâu thuẫn nhau, trườn uốn, vặn vẹo khó nắm bắt, nhưng đó là thủ thuật rất khéo giúp người nghe khỏi chấp chặt một bên. Sư Đoan Nham trầm ngâm suy nghĩ là đã khởi ý hiểu thức tưởng, nên Ngài Nham Đầu phải bồi một gậy cho con khỉ ý thức chết lịm: “Chấp nhận tức chưa ra khỏi căn trần; chẳng chấp nhận tức hằng chìm sanh tử”. Chấp nhận lý bản thường là có sở thủ sở đắc, tức đã phân chia năng- sở chủ – khách, vì thế chưa ra khỏi sự phân biệt căn trần. Chẳng chấp nhận lý bản thường tức trạng thái trầm không trệ tịch, không phải là sự buông xả tự tịnh tự tri của bản tánh, nên vẫn còn chìm trong sanh tử. Phần đông phàm phu chạy theo động tức những hiện tượng đa thù, sanh tâm ái luyến các pháp nên tạo nghiệp, không thoát khỏi luân hồi. Nhị thừa thì chấp vào trạng thái chứng đắc, vào sự tĩnh lặng của tâm, như thế vẫn còn có ngã là ta chứng, ngã sở là cảnh giới chứng đắc của ta. Tâm chấp vào động của phàm phu và vào bất động của Nhị thừa đều chưa phải yếu chỉ, vì còn mắt kẹt hai bên, chưa phù hợp Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.

Thật ra, động và tĩnh chỉ là hai trạng thái đắp đổi của tâm, không phải tồn tại độc lập với nhau, cũng không phải đối nghịch nhau một cách cứng nhắc. Khi tu theo lối đè dẹp vọng tưởng, ta nghĩ tâm được an nhưng một thời gian sau, gặp chướng duyên ta lại thấy vọng tưởng còn lẫy lừng hơn trước. Do ý thức phân biệt tiềm ẩn, ta không nhận trạng thái động là ngã nhưng lại nhận tĩnh là ngã, dù là cái ngã vi tế. Ta không biết rằng, bản tâm chân thật vốn tự an tự tri, chứ không miễn cưỡng để có an có biết. Chỗ lặng lẽ vốn có của tự tánh là lặng lẽ mà vẫn có dụng chiếu soi, như gương sáng vốn lặng mà vốn chiếu. Nơi bất động thanh tịnh vẫn khởi động dụng của thân tâm, đây là ý nghĩa uyên áo của cặp phạm trù Thuần nhất – Đa thù trên lĩnh vực Tĩnh và Động.

Truyện ngụ ngôn của La Fontaine kể về một cô gái bán sữa. Buổi sáng, cô đội bình sữa đi bán. Vừa đi vừa suy tính, bán xong sữa nầy sẽ mua trứng gà về ấp. Trứng nở thành gà con. Gà lớn, cô bán mua heo. Heo nuôi lớn, cô bán mua dê ... Dê cái sinh được mấy chú dê con, chạy nhảy rất vui. Cô tưởng tượng đàn dê nhảy nhót, cô nhảy theo và làm rơi vỡ bình sữa. Thế là chẳng còn sữa, chẳng còn gà heo dê. Con người chúng ta vẫn thường cho tư tưởng chạy bốn phương tám hướng như thế, khác nào cô gái nói trên. Hình ảnh Tề Thiên Đại Thánh có phép Cân đẩu vân là tượng trưng của ý thức con người, có khả năng bay lượn khắp nơi chốn, lại có thể trở về bao nhiêu thời gian quá khứ hoặc mơ tưởng bao nhiêu bước tương lai. Tuy nhiên, dù tài phép đến bậc nào, Tề Thiên cũng không thể bay qua khỏi bàn tay Phật Tổ; dù ý thức suy tưởng động dụng cỡ nào, cũng không ra khỏi nguồn gốc thường tịnh của thể tánh chơn như. Ví như muôn đợt sóng to nhỏ trong đục khác nhau, dù sanh dù diệt cũng không bao giờ ra ngoài mặt biển. Chúng ta nhiều lúc thấy bất an nên có ý niệm đi tìm sự an ổn nội tâm. Nhưng tâm an ấy cũng chỉ là khách; còn cái gì quán xuyến tất cả những tình huống an – bất an, tĩnh – động..., cái ấy luôn hiện tiền và siêu việt mọi chấp trước nhị biên. Sự chứng ngộ không phải trạng thái bất động mà là thường chuyển, nhưng tuy thường chuyển mà vẫn tự do. Phàm phu chúng ta ở nơi động và động chuyển theo, nên quay cuồng theo cảnh. Các bậc ngộ đạo thì ở nơi động mà vẫn luôn ở trong sát-na hiện tiền bất động, nên các Ngài rất tự tại nơi trần thế; vẫn làm mọi việc giúp người mà luôn sống với tự tánh thanh tịnh thường nhiên. Và vì tự tánh là “Không một vật”, không đến không đi, không hề biến đổi, nên Lục Tổ bảo rằng : “Đối cảnh tâm thường sanh, Bồ-đề làm gì lớn”.

2- Thể và dụng:

Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất”. “Nhất” là trạng thái chưa phân hóa của vạn vật, là thể tánh thanh tịnh thuần nhất của muôn pháp. “Nhất thiết” là tình trạng đã phân hoá, là biểu tướng đa thù sanh diệt, là diệu dụng của Nhất. Kinh Niết –Bàn, Đức Phật dạy mọi chúng sanh đều là Phật vì đều sẵn đủ thể tánh chân như. Ví như vàng trong quặng, dù còn lẫn nhiều tạp chất nhưng bản chất vàng không bao giờ mất. Vì bản chất vàng không bao giờ mất nên khi được tinh luyện, liền trở thành vàng ròng. Tu hành có nghĩa là lọc bỏ những tập khí phiền não để hiển lộ Phật chất có sẵn của mỗi người.

Muôn loài chúng sanh, thật ra chỉ khác nhau về nghiệp. Do nghiệp tự tạo không đồng nên chánh báo và y báo không ai giống ai. Tuy nhiên, tận cội nguồn tâm thể thì tất cả đều bình đẳng; như muôn ngàn đợt sóng, dù khác nhau về hình tướng nhưng cùng bản chất nước. Hình tướng thì đa thù, bản chất luôn thuần nhất; trong lúc động dụng thi vi thì hình tướng biến đổi sanh diệt, còn bản chất luôn hiện hữu và không hề thay đổi bao giờ.

Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vạn lý vô vân vạn lý thiên.

Một vầng trăng trên trời soi bóng thành ngàn vầng trăng dưới nước; bầu trời có một, nhưng nơi nào không mây nơi đó có bầu trời. Trăng và bầu trời chỉ thể tánh thuần nhất; ngàn trăng dưới nước và muôn dặm trời chỉ diệu dụng đa thù. Thể thì có một nhưng phát sanh vô số dụng, và tu có nghĩa là phăng từ dụng tìm về thể tánh. Ý nghĩa chăn trâu của nhà Thiền, từ dấu chân trâu là dụng, phăng tìm về nguồn thấy trâu là thể, tức từ vọng phăng về chơn tâm. Vì thế, không thể bỏ vọng tìm chơn, bỏ đa thù mà tìm được thuần nhất. Con người chúng ta nhỏ nhoi và sống đời sống ngắn ngủi trong vũ trụ bao la, trong thời gian vô tận, nhưng trong cái nhỏ nhoi có biểu hiện của bao la, trong đời sống hữu hạn có biểu hiện nguồn nhân sinh vô hạn. Trong cuộc trường chinh sanh tử, lăn lộn theo sáu nẻo luân hồi, chúng ta đều sống chung với Phật; có điều ta không biết nên cứ mãi làm kẻ bần cùng sống bên gia tài đồ sộ. Đây là bi kịch của chúng sanh, và các bậc Giác ngộ thương tất cả chúng sanh cũng vì bi kịch vô minh ấy.

Một lần Tôn giả Xá-Lợi-Phất đến bạch cùng Đức Phật : “Bạch Thế Tôn, tất cả chư Phật mười phương không vị nào có trí tuệ như Thế Tôn”. Đức Phật trả lời : “Này Xá-Lợi Phất, Ông đừng nói như thế. Chư Phật mười phương đều bình đẳng ở trí tuệ và công hạnh đôï sanh”. Nhiều cây đèn cùng đặt trong phòng, tuy hình dạng khác nhau nhưng ánh sáng chỉ có một thể. Chư Phật đều có trí tuệ như nhau, công hạnh viên mãn; chỉ có những phương tiện đôï sanh khác nhau nên mỗi vị thiết lập Tịnh- độ riêng, tùy nguyện lực của mình. Các bậc Đại Bồ-tát cũng thế, tùy hạnh nguyện của các Ngài mà chúng ta tôn xưng bằng nhiều hồng danh riêng biệt: Vị Bồ-tát chuyên quán xét tiếng kêu cứu của thế gian, tùy cảm tùy ứng mà hoá độ, được tôn là Đại từ Đại bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát; vị Bồ-tát thệ nguyện đôï tất cả chúng sanh cõi Địa ngục với lời nguyền sấm sét: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”, được chúng ta vô cùng kính ngưỡng dưới danh xưng U minh Giáo chủ Đại nguyện Địa-Tạng-Vương Bồ-tát... Các ngài từ thể tánh chân như thuần nhất, phát khởi diệu dụng như hằng sa, muôn hình ngàn trạng để muôn loài đều được thấm nhuần ơn đức.

Tinh thần Thể - Dụng được biểu hiện rõ trong Tâm kinh Bát-Nhã chúng ta đọc tụng mỗi ngày: Sắc là dụng với muôn màu muôn vẻ, nhưng bản thể của tất cả đều Không. Không ở đây chẳng phải không có gì, mà là không có tự thể. Muôn pháp đều do các duyên hợp lại mà thành, khi hết duyên, chúng trở về không. Một cái hoa do từ những cái không phải hoa tụ hội theo một cách thức, một trình tự nào đó; rồi sau một thời gian, hoa héo rồi tàn và cuối cùng trở lại hư không. Như vậy, Sắc do các Phi sắc kết hợp theo duyên, tức từ Không mà có; lúc hết duyên, Sắc thành Không. Lại nữa, chẳng phải trước khi Sắc sanh hoặc sau khi Sắc diệt mới là Không, mà trong hình tướng Sắc đã là bản thể Không ngay đó. Vì thế, Sắc tức Không và Không tức Sắc; Không là thể tánh thuần nhất, Sắc là động dụng đa thù.

3- Lý tưởng và hiện thực:

Lục Tổ có bài kệ nổi tiếng:
Phật pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích Bồ đề
Kháp như tầm thố giác.

Lông rùa và sừng thỏ được xem như những vật không có thực, và người tu xa lánh thế gian tìm cầu giác ngộ cũng giống như kẻ bỏ công kiếm sừng thỏ lông rùa. Ngày nay, tại một vùng ở Trung Quốc đã thấy xuất hiện loại rùa xanh có lông trên mai, và có người đã chụp được bức ảnh một con thỏ có sừng. Nhưng dù lông rùa và sừng thỏ là thực tại đã hiện hữu, thì ý nghĩa của bài kệ vẫn luôn là chân lý. Không thể tìm Phật pháp ngoài thế gian, không thể tìm thế giới lý tưởng ngoài cảnh đời hiện thực.

Thế giới hiện thực chúng ta đang sống là hoàn cảnh chánh báo và y báo của tất cả chúng sanh. Thế giới nầy có tính lưỡng thể: âm và dương, sanh và tử, hạnh phúc và đau khổ..., biến đổi không dừng và biểu hiện bằng vô số ảnh tượng, tùy nghiệp lực của từng loài. Ví như cùng một dòng sông, đối với loài cá là môi trường sống, với loài ngạ quỷ là một dòng thác lửa, với chư thiên lại là dãy lưu ly... Loài người chúng ta, nhìn một cảnh nhưng cũng có những cái thấy khác nhau; hoặc tùy tâm trạng lúc vui lúc buồn mà thấy cảnh tượng khi thế nầy khi thế khác. Tất cả những biến đổi thiên hình vạn trạng của thế giới đa thù nầy đều do tâm ta xáo động bất an, lại đem tri kiến đầy ngã chấp của ta áp đặt lên các pháp. Rồi sau đó, chúng ta thấy cuộc đời nhiều khổ não, đầy bon chen xấu ác, muốn tìm đến một nơi hoàn toàn an lạc thiện lành. Ta phân biệt rạch ròi giữa một thế giới lý tưởng thuần nhất với cảnh giới hiện thực đa thù ta đang sống. Ta tu hành cũng với mục đích vươn đến cái vô hạn, cái mênh mông phi thời gian, nhất là khi gặp hoàn cảnh bức bách khốn cùng, vì ta thấy mình là sinh linh nhỏ nhoi yếu đuối.

Tuy nhiên, ý nghĩa tu hành không phải là sự trốn tránh thế gian tìm cầu Phật pháp, mà là chuyển hoá tự tâm. Khi tâm ta thanh tịnh thì nơi nào cũng là Tịnh độ, dù đang ở cõi trần; nếu còn phiền não bất an thì ở đâu cũng chỉ là cảnh đời đau khổ. Các Thiền sư khi nghe hỏi thế nào là đại ý Phật pháp, thường trả lời bằng những cảnh những vật đang hiện hữu, như cây bá trước sân, ba cân gai, chén trà... Phật pháp ở ngay hiện tượng giới, là bất cứ pháp thế gian nào. Phàm phu chúng ta để tâm dong ruổi bốn phương, lúc đối duyên xúc cảnh luôn khởi niệm phân tích, nên mỗi ngày đều uống trà mà có thấy Phật pháp ở đâu. Các Ngài do tâm tĩnh lặng mà hằng tri, dung thoát mọi trần cảnh, nên Phật pháp tại hiện tiền. Hoa sen chỉ mọc tốt tươi và tỏa hương tinh khiết ở chỗ bùn nhơ nước đục, các bậc Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ phải thị hiện vào cõi Ta-bà mới thành tựu Phật quả. Đối với các Ngài, Tịnh độ và Ta bà không hai, như Thiền sư Đạo Giai nói: “Sanh không thích Thiên đường, tử không sợ Địa ngục. Buông tay đi ngang ngoài tam giới, mặc tình vươn bổng nào buộc ràng”.

Có người hỏi một Thiền sư:
- Thế nào là Phật?
Ngài trả lời :
- Ông già phàm phu.

Câu đáp mới nghe dường như quá vô lễ, nhưng thật đã đền ơn Đức Phật đến tột cùng. Chúng ta thường nghĩ về Đức Phật như một đấng siêu nhiên, luôn ở trong tư thế kiết già trên toà sen, hay khoác cho Ngài những chiếc áo mầu nhiệm khác thường. Nhưng khi Đức Phật còn tại thế, Ngài vẫn sinh hoạt, nói năng, vẫn làm mọi việc như người thường; chỉ khác ở chỗ Ngài làm mà không khởi vọng niệm, làm với tâm vô trụ vô trước nên luôn ở trong đại định. Ngài không sống nơi thế giới lý tưởng xa rời thực tế, mà là một người bình thường nhưng phi thường vì dứt sạch phiền não lậu hoặc. Những pháp tu Ngài dạy chúng ta không trốn chạy sự sống, không xa lánh cuộc đời, mà luôn biểu hiện sức sống nơi dòng chảy bất định của muôn pháp. Từ chỗ nầy, nhà Thiền có công án nổi tiếng: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ ?” (muôn pháp về một, một về chỗ nào?). Muôn pháp và một là bất khả phân, vì muôn pháp là ngọn, còn một là nguồn. Đã là nguồn thì còn trở về đâu nữa? Muôn pháp hình thành nên thế giới hiện thực; một là thế giới lý tưởng, là bản tâm chân thật bất sanh của tất cả mọi loài. Nếu ta còn thấy lý tưởng và hiện thực là hai đối cực, thì ta vẫn còn tâm lấy bỏ, còn trụ vào Niết-bàn Hoá thành mà không siêu vượt được mọi đối đãi nhị nguyên, thể nhập Niết-bàn Bảo sở.

4-Thể tánh và vạn tượng:

Thiền sư Tam Bình Nghĩa Trung có bài kệ:
Tức thử kiến văn phi kiến văn
Vô dư thinh sắc khả trình quân.
Cá trung nhược liễu toàn vô sự
Thể dụng hà phòng phân bất phân.

Dịch:
Chính nơi thấy nghe chẳng thấy nghe
Không còn thinh sắc để trình anh.
Trong ấy nếu liễu toàn vô sự
Thể dụng ngại gì phân chẳng phân.

Nơi thấy nghe vẫn hay biết rõ ràng, nhưng không khởi niệm biện giải nên cũng như chẳng thấy nghe. Tri kiến vô kiến chính là Niết-bàn, vì không tạo ý nghiệp tức không còn sanh tử. Nơi thinh sắc nếu tự liễu hội tất cả đều vô sự, tức hiện tiền không một vật, thì như trồng hoa trên đá, cần chi phân biệt tánh-tướng lý-sự. Đây là cái thấy của bậc đạt đạo, hoàn toàn thể nhập bản tánh bất sanh.

Nhưng từ đâu bậc đạt đạo ngộ ra thể tánh? Một Thiền sư bảo tri sự đánh kiểng họp chúng tại phương trượng. Ngài bảo, ta chuẩn bị ra đi, hãy nghe ta nói kệ. Toàn chúng yên lặng chờ nghe, lúc ấy bỗng có tiếng chuột kêu. Ngài an nhiên thị tịch, không thêm lời nào, vì tiếng chuột kêu là bài kệ quá sống động rồi. Một thiền khách mới đến, nghe tiếng roi của Tri sự đánh, liền ngộ đạo. Thiền sư Linh Hựu tỏ ngộ nhờ Tổ Bá Trượng vạch trong lò được chút than lửa, đưa cho. Đạo lý gì ở những biểu hiện trùng điệp của vạn tượng?.

Các pháp tuy thiên sai vạn biệt nhưng đồng nhau ở tính chất duyên sinh giả hợp. Chúng là sự hội tụ của các duyên, Sanh là tạo ra; Chúng sanh có nghĩa là nhờ các duyên tụ họp nhau mà sanh khởi. Các pháp trong vũ trụ là chúng sanh vô tình, con người và các động vật là chúng sanh hữu tình; tất cả được gọi theo danh từ Duy thức học là Y tánh duyên khởi pháp.Y tánh là từ tánh Không, Duyên khởi là nhờ duyên mà sanh khởi. Không có pháp nào rời thể tánh mà có thể sanh ra, nên dù hình tướng khác nhau nhưng vẫn đồng nhau ở thể tánh. Vạn tượng thì đa thù, thể tánh thì thuần nhất không tạp. Tất cả đạo lý đều quy thú về thể tánh, như đạo Phật có thuyết Chơn như duyên khởi, Chơn như là thể tánh, Duyên khởi ra vạn tượng; Lão Tử chủ trương “Muôn vật sanh ra từ cái có, Có sanh từ nơi Không”. Khổng Tử gọi cái Không ấy là Thiên lý, Thiên mệnh; Đạo Thiên chúa cho rằng Chúa trời là Đấng sáng thế tạo ra toàn thể vũ trụ nhân sinh. Triết thuyết Đông phương có khái niệm Hình nhi thượng là Chơn như, Hình nhi hạ là vạn tượng. Tuy các học thuyết dùng nhiều danh từ khác nhau, nhưng tựu trung cũng chỉ nói về cái bản thể không tên gọi ấy mà thôi.

Chúng ta tu, chính là trở về với bản tâm thể tánh. Nhưng nhận ra thể tánh phải từ vạn tượng, như từ những con nước mà phăng tận đầu nguồn. Từ thể tánh phát sanh vạn tượng, và trong sự sống động của vạn tượng luôn luôn hiển bày thể tánh, nên thể tánh và vạn tượng không hai. Khi mê, chúng ta chạy đuổi theo các pháp, khởi niệm phân biệt, tạo nghiệp và thọ khổ. Nhưng ngay trong mỗi thân tứ đại vô minh đều có sẵn tánh giác chưa hề vắng thiếu. Nếu không có tánh giác thì người tu không thể thành Phật, như nấu cát không bao giờ thành cơm được. Có thể nói, lúc mê là chúng sanh, thấy các pháp hiện bày ngàn sai muôn khác; khi giác là Phật, các pháp trở về trạng thái nhất như. Các pháp không tự biến đổi, chỉ do tâm ta thanh tịnh hay não loạn mà hiển hiện nơi thể tánh thuần nhất hay vạn tượng đa thù. Mê là bóng tối, giác là ánh sáng. Khi đèn bật lên, mọi vật trong phòng hiện bày rõ rệt; nhưng lúc chưa có đèn, mọi vật vẫn chưa hề biến đổi, chỉ vì tối tăm nên người lẫn lộn chúng mà thôi. Bậc Giác ngộ nhìn các biệt tướng rõ ràng trong một bản thể duy nhất, như gương soi rõ vật nào ra vật ấy, và khi không có vật, gương vẫn sẵn bản chất vốn lặng vốn chiếu xưa nay. Hiểu tường tận vấn đề này, ta sẽ rõ vì sao nhà Thiền không loại bỏ Đa thù thủ chứng Thuần nhất, vì chúng sanh và Phật là hai mặt của một tổng thể toàn vẹn bất khả phân ly.
 

II- NỘI DUNG THIỀN TẬP:

1- Lộ trình tâm linh:

Trong Bát Chánh đạo, đi đầu là Chánh kiến. Người tu trước tiên phải nắm vững phương pháp hành trì, như người đi đường trước khi khởi hành phải nghiên cứu lộ trình và nơi đến. Nếu không có kiến giải chơn chánh, tu hành theo chánh pháp, thì dù cực khổ công phu đến mấy cũng không đạt được mục đích cuối cùng, đôi khi lầm lạc vào đường tà lối rẽ. Dĩ nhiên, mỗi người có căn cơ, trình độ, sở thích khác nhau, nên sự chọn lựa pháp tu là do tâm ý của riêng mình. Kinh nghiệm tu tập cũng mang tính cách cá nhân, như mỗi bông hoa có một dáng vẻ, một hương thơm khác nhau, nhưng đều chung sức tỏa sắc khoe hương cho vườn hoa tập thể.

Thiền sinh theo dõi từng vận hành của tâm niệm, thấy chúng khởi lên và diệt đi, không còn dấu vết. Biết rõ chúng là hư dối không thật, ta không theo chúng, tự nhiên tâm liền an. Nhận diện tiến trình sinh diệt của vọng niệm là bước đầu của con đường thiền tập; trong đó, nhận ra bộ mặt của vọng là điều kiện đầu tiên tối cần để chiến đấu và chiến thắng giặc phiền não. Một vị tướng tài muốn trăm trận trăm thắng, phải biết rõ ta và địch. Giặc phiền não có tâm vương tâm sở, trận chiến ngay tự thân là trận chiến ác liệt nhất, nếu ta không nhận diện được giặc thì làm sao có chiến tích lẫy lừng? Đây lại là cuộc trường chinh gian khổ, vì tập khí phiền não tích tụ biết bao đời kiếp, không phải một ngày hai ngày là xong việc. Pháp môn tri vọng là lối chăn trâu trong nhà Thiền, có nhiều mức đôï từ thấp đến cao(5).

Chánh niệm là công phu ở mọi nơi mọi lúc. Thiền sinh duy trì sự tỉnh giác thường xuyên, luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, nhận rõ sự động dụng của thân, sự biến đổi của tâm và sự vô thường của cảnh. Chỉ cần biết rõ tất cả mà không khởi niệm hay cưỡng chế mọi sự việc theo ý mình. Chánh niệm tự động soi sáng và chuyển hoá mọi cảm thọ ở thân và những phiền não cấu nhiễm trong tâm, như ánh nắng chiếu vào nước đá, tự nhiên nước đá tan chảy dù ánh sáng không cố ý mong cầu.

Kiến tánh là kiến chiếu vào tận thể tánh của chính mình. Hành giả nhận ra con người thật, con người nguyên thủy trước khi cha mẹ sinh ra. Kiến tánh là trở về cái uyên nguyên của vũ trụ nhân sinh; cái không thể dùng ý thức tưởng tượng nhưng luôn luôn hiện hữu; cái không hình tướng nhưng trùm khắp và không sanh không diệt; cái tịch lặng muôn đời nhưng chiếu soi tận cùng pháp giới. Trở về thể tánh chơn thật ấy, hành giả đã có chỗ y cứ chung thân, đời tu không còn lui sụt nữa.

2- Thiền tập trong mọi hoàn cảnh:

Trước tiên, chúng ta nên nhận định rằng Thiền không phải chỉ là toạ, nên tu Thiền không chỉ ở lúc ngồi. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu khi tâm ta còn lăng xăng đa sự, toạ thiền là công phu cần thiết và cơ bản giúp ta dễ định tâm hơn cả. Một số người dùng lời dạy của Lục Tổ, hoặc chủ trương Thiền là phải sống trong từng giây phút để bài bác việc tọa thiền. Đây là một điều lầm lẫn lớn lao. Đức Phật mỗi sáng sớm trước khi đi giáo hoá, Ngài đều tọa thiền, sau đó xét căn cơ trình độ của những người hữu duyên Ngài sẽ gặp, để chỉ dạy phương pháp tu thích hợp. Một số vị Tổ sư không chủ trương tọa thiền để đối trị sự cố chấp của môn đệ, cho tọa thiền là cứu cánh. Những phương tiện giáo hoá của các Ngài lập bày chỉ vì đương cơ và chỉ thích hợp với đương thời; ngày nay chúng ta lại áp dụng vào mọi nơi mọi lúc, e có khi không hợp lẽ.

Lúc tọa thiền mà có âm thanh hay tiếng động ồn ào bên ngoài, ta vẫn biết nhưng không duyên theo tiếng hoặc sanh tâm bực bội. Những cảnh tượng quấy rầy lúc đầu làm trở ngại, nhưng đó cũng là cơ hội để ta tu trong nghịch duyên. Tuy thế, không nên cố ý tạo nghịch duyên như tự mình mở nhạc hoặc băng thuyết pháp lúc đang tọa thiền, vì thiền không chủ ý chủ tâm. Trường hợp này thường gặp trong gia đình các Phật tử đông người, không có không gian riêng cho mình tu tập. Ta có thể khắc phục hoàn cảnh bằng cách chọn giờ yên tĩnh hoặc một nơi thích hợp cho công phu thiền tọa, kết hợp với thiền hành.

Tọa thiền là công phu trong lúc tĩnh; tiến thêm một bước là tập tu trong khi động, theo tinh thần của Chánh niệm hay làm việc gì chỉ biết việc đó. Trong ngày, lúc thuận tiện ta có thể thiền hành trong phòng, trên sân thượng, trên đường vắng hay ngoài bãi biễn ..., vừa đi vừa hít thở không khí trong lành, chánh niệm trên từng bước chân, Thiền hành là lối công phu có tính cách tự do, không theo nguyên tắc cố định. Đơn giản là ta đi bách bộ một cách chậm rãi, không có đích đến. Lúc đi ta biết mình đang đi, cái biết này chỉ mới trên bề mặt ý thức nhưng là khởi đầu cần thiết. Tâm tĩnh lặng, ta thấy an lạc hạnh phúc nơi từng bước chân. Đến khi đi chỉ biết là đi mà không còn ngã tướng, thì tuy chân vẫn bước mà ý niệm đi biến mất. Đi trong trạng thái vong ngã thì tức khắc ta đi vào bản thể của chính mình. Đi thẳng vào bản thể hoàn toàn trái ngược với sự đi quanh của ngã tướng; điều này khó nói cho người khác hiểu, chỉ nhờ công phu mới tự mình thầm nhận.

Trong một nhóm tu hành, ta có thể tổ chức những bữa cơm nhiếp tâm. Duy trì chánh niệm trên từng động tác, nghĩa là đang gắp, nhai, nuốt ...ta đều biết rõ nhưng không chia nhỏ những động tác ấy. Ví dụ, trong trí ta cứ thầm nhủ theo từng cử chỉ “gắp-gắp lên miệng - bỏ vào miệng – nhai – nhai - nuốt...” thì những động tác ấy không thể nào tự nhiên được. Các món ăn đặt trên bàn, ta có thể gắp một cách từ tốn tự nhiên, vị chua cay ngọt mặn thế nào ta đều biết. Không phải khi ăn không cần biết ngon dở, vì như thế trởû thành vô tri, dần dần quên mất sự sống. Ta có quyền thấy nghe hay biết tất cả, nhưng điều quan trọng là không sanh tâm khen chê ưa ghét, như thế sẽ không xa rời cuộc sống, mới có cơ hội phát sinh Tri kiến Như thật.

Mặt khác, trong những công việc hàng ngày, chỉ cần tỉnh thức chú tâm vào mọi động tác, vào công việc làm. Khi ta quét nhà, chính sự quét nhà là niềm an lạc, nếu ta không xen vào những tư tưởng phức tạp của ý thức. Khi ta nấu cơm, rửa chén, cuốc đất ... cũng vậy. Nấu cơm để nấu cơm, rửa chén là để rửa chén. Chỉ chú tâm vào việc đang làm, việc làm ấy sẽ được chu toàn, năng suất cao, kết quả tốt; và đặc biệt, nơi hành động đã là mục đích, nơi phương tiện đã là cứu cánh. Như thế, Thiền là sự sống trong mọi sinh hoạt bình thường.

Các huynh đệ đồng tu thường có những buổi pháp đàm, trao đổi những kiến giải và kinh nghiệm trong công phu. Những cuộc trao đổi như thế rất hữu ích, với điều kiện phải có tinh thần hòa ái hoan hỉ, mục đích giúp nhau cùng tu tiến chứ không phải tranh luận hơn thua. Nếu không theo tinh thần Tam hòa(6), dễ gây mất sự đoàn kết nội bộ. Khổng Tử nói: “Tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sư”, ba người cùng đi ắt có người làm thầy ta. Ta có thể học được tất cả mọi người, kể cả những người nhỏ tuổi hơn, yếu kém hơn ta. Có người thường thích phát biểu trước tập thể để chứng tỏ mình tu hay hơn, hiểu biết hơn người khác; có người bảo thủ, luôn cho ý kiến của mình là đúng, không chấp nhận những ý kiến trái ngược... Tất cả đều là hành tung của bản ngã. Người có ngã chấp quá lớn không thể tiếp thu gì thêm, như ly nước đã đầy, không rót được thêm vào. Từ đó, đường tu dần dần đi xuống mà không hay biết. Thiền tông nói lên được cái tinh hoa của đạo Phật nên rất thành tựu về mặt truyền pháp, nhưng do chỉ dạy quá thẳng tắt nên nhiều người tưởng hiểu lý Thiền là xong việc, lấy sự hiểu bằng ý thức làm lẽ sống mà không tinh cần công phu, cuối cùng từ hay chuyển sang dở. Thiền sinh chúng ta nên cảnh giác đối với bệnh khẩu đầu thiền, một bệnh phổ biến của những người nói nhiều làm ít. Tu là phải thúc liễm thân tâm, thận trọng trong từng lời nói và tỉnh giác trong từng hành động, lại cần nói ít hơn những điều mình đã thấy. Người có công phu thiền tập tự nhiên sẽ có một phong cách đặc biệt, trầm tĩnh đúng mực từ lời nói đến việc làm.

Các bậc hiền sĩ ngày xưa thường chủ trương Thà chết vinh hơn sống nhục. Danh dự nhiều khi quý giá hơn tài sản, tính mạng. Nhưng làm sao trong vinh dự được tôn xưng mà ta không ngã mạn cống cao, thì có lúc nào đó bị người khinh chê, ta sẽ không quá buồn khổ. Gặp lửa nóng ta biết ngay mà tránh, còn nước mát lại dễ làm mất cảnh giác, chết đuối lúc nào không hay. Nghịch cảnh như lửa nóng, người tu dễ thức tỉnh nhớ xoay lại mình, còn cảnh ấm êm thuận thảo đôi lúc gây kiêu ngạo. Cho nên nhà Thiền không sợ thất bại, mà lại ngại sự thành công; vì chính thất bại là nghịch duyên cần thiết để hành giả có thêm kinh nghiệm tự thân, biết mình còn xấu dở mà tinh cần tu học.

Có một điều tế nhị chúng ta cần lưu ý: Một hôm nào đó ta gặp một người dáng vẻ tu hành mẫu mực, sống trong cảnh bần hàn và luôn chê bai xem thường danh lợi. Tiếp xúc với người ấy đôi lần, ta rất ngưỡng mộ và muốn tôn làm thầy dạy đạo. Nhưng cần tỉnh táo sáng suốt nhận định rõ vấn đề. Ngụ ngôn Pháp kể chuyện con cáo chê chùm nho xanh, không đáng để nó bỏ công hái. Nhưng thật ra, vì chùm nho trên cây cao quá, cáo ta năm lần bảy lượt nhảy lên mà không với tới, nên mới ra bộ chê bai. Đó chỉ là tâm lý phản ứng trước một thứ mà mình không thể có dù thâm tâm rất muốn. Trong đời, chúng ta có thể gặp rất nhiều hình ảnh “con cáo và chùm nho” như thế.

Cổ đức nói:
Phiền não khởi giai do đa sự
Thị phi sanh dĩ thị đa ngôn.

Con người chúng ta không nhiều thì ít đều có những ham muốn đam mê. Chính sự ham muốn tạo thành kiết sử, trói buộc và sai khiến ta phải tìm mọi cách thỏa mãn; đạt được lại muốn nhiều hơn, không đạt khởi sanh sân hận. Nhu cầu bản thân càng cao thì phải ôm đồm nhiều việc, phiền não càng lẫy lừng. Con người trở thành nạn nhân cho chính dục vọng của mình, ngày càng bất an, thần kinh căng thẳng đưa đến những hậu quả khó lường. Lại nữa, khi ngồi với nhau, thường thì chúng ta hết bàn sự phải quấy lại đến chuyện đông tây kim cổ. Nhưng bàn chuyện người thì có ích gì cho mình, càng nói nhiều càng lắm thị phi. Chúng ta có mâu thuẫn là muốn bình an nhưng lại thích luận bàn thế sự, lại thấy rõ cái dở của người mà không biết tìm khuyết điểm nơi mình. Chúng ta tu là chấp nhận những điểm yếu của mình một cách thẳng thắn, và sửa đổi để ngày càng hoàn thiện. Ta nhận định mọi người mọi vật bằng cặp mắt khách quan, không thần tượng hoá người nào, không lý tưởng hoá vật gì. Trên đời không có cái gì tuyệt đối, không chỉ có thầy mình là hay nhất, không chỉ có pháp tu của mình là đúng nhất. Những cái nhìn thiển cận biên kiến là tư tưởng cục bộ chủ quan, làm đóng khuôn và che mờ thực tại. Đạo Phật là đạo trí tuệ, người con Phật phải có chánh kiến, nhìn mọi vấn đề một cách toàn diện và bao dung được mọi tư tưởng lập trường khác biệt. Từ đó, ta có thể hòa đồng với mọi người và chịu đựng mọi hoàn cảnh mà vẫn giữ bản chất, phong thái riêng của mình.

Thiền sư Vạn Hạnh có bài kệ nổi tiếng:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu vô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Nghĩa:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu nhuốm hồng.
Mặc cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.

Khi biết vạn pháp đều không thật, đều vô thường, thì sự thăng trầm thịnh suy của cuộc sống đối với các Ngài như hạt sương trên đầu ngọn cỏ. Chúng ta chưa được tự tại như các Ngài, nhưng nhờ công phu thiền tập, ít nhiều cũng có sự trầm tĩnh. Trước khi quyết định một việc gì, ta suy nghĩ chín chắn, xử thế có lý có tình và có lập trường vững chắc. Ta không từ nan việc gì trong khả năng mà có ích cho đời, làm nhưng không dính mắc vướng bận. Đời sống của ta sẽ có ý nghĩa dù thọ mạng ngắn hay dài; ta hiến dâng nhiều bao nhiêu thì sự an lạc hạnh phúc đến với ta tương đương như thế.

Một số thiền sinh thường thắc mắc: Trong cuộc sống, ai cũng phải tính toán lo toan cho bản thân, cho gia đình. Người tu càng nhiều việc sắp xếp, tổ chức trong tự viện và những việc Phật sự bên ngoài. Suốt ngày suy tính bận bịu như thế có trái với tôn chỉ nhà Thiền là vô sự vô tâm?. Các bậc ngộ đạo cũng trăm công nghìn việc, nhưng các Ngài sắp xếp việc nào ra việc ấy, tính xong rồi buông xả, nên các Ngài làm tất cả mà cũng như không làm. Chúng ta học theo các Ngài, cũng phải lo toan cho cuộc sống hàng ngày một cách chu đáo, làm tròn mọi trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, nhưng không dính mắc, thì dù đa sự mà vẫn không phiền não.

3- Một vài ngộ nhận trong công phu:

* Có người cho rằng, tu hành là phải tránh bớt duyên khi chưa triệt ngộ, nên chủ trương tự tu tự học khi đã biết cách dụng công. Đây là một quan niệm hữu lý, có cơ sở, nhưng nếu ta cố chấp lại sinh ra cực đoan. Ngày xưa, các vị Thiền sư khi kiến tánh, thường vào núi rừng ẩn tu một thời gian gột sạch tập khí, sau đó mới vào cuộc đời giáo hoá chúng nhân. Ngày nay, chúng ta không thể sống một mình nơi hoang dã, uống nước suối ăn trái rừng qua ngày, chưa kể lúc ốm đau hoặc chướng duyên làm trở ngại. Vì thế, phần đông chúng ta đều chấp nhận cuộc sống chung cùng bạn lữ, tuy kết quả không nhanh chóng bằng người xưa, nhưng được lợi là giúp mình giúp người. Mặt khác, nếu nắm vững pháp tu, trong lúc động lại tiến nhanh hơn khi tĩnh. Cùng sống với tập thể, một mặt ta giúp được người đi sau, mặt khác ta nương vào người để củng cố lòng tin, ý chí, để được bảo vệ trước những cám dỗ của ngũ dục. Nhiều người thích tu nơi vắng vẻ, một thời gian tưởng mình đã xong việc, không ngờ khi trở về thế gian lại sanh phiền não, có trường hợp sa ngã, uổng một đời tu. Đây không những là kinh nghiệm đối với người xuất gia, mà còn cho những đạo tràng cư sĩ tại gia.

* Có người hiểu lầm chỉ có tọa thiền mới là tu, nên xem thời gian tọa thiền trong ngày là chuẩn mực đạo đức. Thật ra, khi mới phát tâm, tọa thiền giúp ta dễ an định tâm, do các căn ít tiếp xúc với trần cảnh. Nhưng trong các giai đoạn sau, khi công phu đã thuần thục, ta cần tu trong mọi thời khắc, mọi nơi chốn, mọi oai nghi. Các Thiền sư, khi trả lời câu hỏi “Thiền là gì?”, thường bảo “Dưới gót chân ông” hoặc “Trong thân chỗ nào không có máu?”. Lục Tổ chủ trương kiến tánh chứ không chủ trương tọa thiền, vì chưa kiến tánh thì chưa bước chân vào cửa Thiền tông.

* Một số thiền sinh quan niệm Thiền là cắt đứt mọi hoạt động tâm lý. Đây là lối tu theo kiểu đá đè cỏ, luôn phải chú tâm đè nén vọng tưởng nên hành giả rất sợ cảnh sợ duyên, không có sự sáng tạo và sức sống riêng cho chính mình; đến khi gặp chướng ngại không biết làm cách nào để tránh. Có người lại hiểu Thiền qua sách vở, nghĩ Thiền dễ tu dễ chứng, chưa gì đã tự tôn xưng, thỏng tay vào chợ. Thật là một lầm lẫn tai hại, sao khỏi đọa vào khổ xứ? Tất cả ngôn từ, dù cao siêu hoa mỹ đến đâu, cũng không diễn đạt đến lẽ thật. Muốn ngộ lý Thiền, ta phải khéo thông qua ngôn ngữ mà thầm lãnh hội thực tại phi ngôn. Thiền là đời sống tự mình kinh nghiệm, tự thấu triệt ngay từ những điều bình dị đơn giản nhất.

* Đức Phật bảo “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, ấy là muốn sách tấn hàng môn đệ, vì quả thật mỗi chúng sanh đều có mầm mống giác ngộ. Không có nhân thành Phật, không thể nào chúng ta tu đến quả vị cuối cùng. Nhưng nếu chúng ta hiểu đơn giản rằng, chữ “sẽ thành” có nghĩa là một tương lai nào đó, thì vô hình trung ta có sự vọng cầu mong mỏi. Như thế là không hợp lý đạo. Phật là Phật tâm tại hiện tiền, chứ không phải là một Đấng Cứu thế bên ngoài hay một quả vị Phật ở thời điểm nào xa xôi. Người tu thiền có tâm mong cầu kết quả, có khi công phu thấy cảnh lạ lại khởi lòng vui mừng hay sợ hãi, thường dễ phát sinh bệnh tật, điên cuồng. Đây là điều chúng ta cần thận trọng ghi nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn