Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

II- Sống thiền

25/04/201105:57(Xem: 1304)
II- Sống thiền

THIỀN TRONG ĐỜI THƯỜNG
Thích Thông Huệ

Chương 4
THIỀN TRONG ĐỜI THƯỜNG

II- SỐNG THIỀN:

Theo tinh thần nhập thế của đạo Phật, hành giả tu Thiền cần hòa nhập vào hơi thở của cuộc sống. Vừa làm tròn những trách nhiệm đối với thế gian, vừa khéo sống với “con người thật” của chính mình, ấy gọi là Sống Thiền.

Chúng ta sẽ xét đến những trách nhiệm đối với bản thân, với người khác, và cả với môi trường sinh thái, mà một thiền sinh chân chánh phải biết xác định và đảm đương.

1- Trách nhiệm đối với bản thân:

Phương pháp công phu và những điều kiện làm nên phong cách của một hành giả tu Thiền, chúng ta đã khảo sát trong chương Con đường Thiền tập. Ở đây, chúng ta bàn đến vài vấn đề cần thiết để hoàn thiện đời sống của thiền sinh, làm sao để vừa phù hợp với trào lưu tiến hoá của xã hội, vừa không đánh mất bản sắc riêng của mình.

Trước tiên, chúng ta phải tự xác định cho mình một lý tưởng. Người có lý tưởng mới sống hết mình với cuộc đời mà tính cách riêng vẫn lung linh tỏa sáng, nói theo từ hiện đại là hòa nhập mà không hoà tan. Hermann cho rằng: “Giá trị mỗi người tùy thuộc vào lý tưởng của người ấy cao hay thấp”. Có người mang hoài bão học hành đỗ đạt, thành người có ích cho xã hội; người có nguyện ước phụng vụ, trọn đời hy sinh cho những người nghèo khổ hay nạn nhân chiến tranh; người mang lý tưởng cách mạng nhân sinh, tạo dựng một thế giới hòa bình thịnh vượng. Khi đã có lý tưởng, phải trung thành với lý tưởng ấy đến cùng, vì nếu thối lui là ta đã bội bạc chính mình. Thiền sinh chúng ta chọn lý tưởng cao siêu, theo chân Phật-Tổ trên đường Giác ngộ-Giải thoát, vì ta biết ngũ dục lạc thế gian không phải là nơi nương tựa đời đời. Sự hưởng thụ dục lạc không bao giờ thực có thỏa mãn, như người uống nước muối, càng uống càng khát. Chúng thật tạm bợ mong manh như lửa đom đóm, chỉ có ánh sáng mãnh liệt và vĩnh viễn là tánh giác sẵn đủ mới là nơi hướng đến của đời mình.

Tuy nhiên, không đắm luyến ngũ dục không có nghĩa là lãnh đạm với thế gian. Chúng ta vẫn có cảm xúc, nhưng xúc cảm ấy được tịnh hóa. Ta vẫn yêu thương mọi người mọi vật nhưng tình thương yêu không có tính cách chiếm hữu, mà bình đẳng và vong ngã. Đây là tiền đề của lòng từ bi, tinh thần của đạo Phật, vì nếu chủ trương dửng dưng với mọi nỗi khổ của người, thì đạo Phật đâu có ích lợi gì đối với cuộc sống. Tổ Bá Trượng có một câu nổi tiếng, sau thành chủ trương chung của nhà Thiền: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”(Một ngày không làm, một ngày không ăn). Sự lao động chân tay vừa tạo sinh kế, vừa giúp cơ thể khoẻ mạnh, chịu đựng nắng gió hơn người có nếp sống tĩnh tại; nhưng mục đích chính là giúp thiền sinh không chìm vào trạng thái tịch mặc, xa rời cuộc sống.

Công phu thiền tập nặng về tự lực, nếu ta không tự giúp mình thì không ai có thể giúp được ta. Thầy bạn chỉ là người dẫn đường và hỗ trợ ta trong công phu, chứ không thể thay ta cất bước. Khi nào còn có một ý niệm tựa nương là ta chưa được hoàn toàn tự do tự chủ. Người thế gian thường tựa nương vào tiền bạc danh vọng, vào gia đình bạn bè; người tu tựa nương vào Thầy-Tổ, vào huynh đệ, vào cảnh giới an lạc của tâm. Nhưng hễ còn tựa nương là còn chấp ngã, có ta là chủ thể, có người và cảnh là đối tượng. Hòn bọt không còn chỗ nương vào mặt biển mới thật sự hòa nhập vào đại dương bao la. Hòn bọt năm uẩn cũng vậy, khi buông tận gốc rễ mọi chấp trước, kể cả ý nghĩ ta không nương tựa, ta mới thể nhập trọn vẹn vào pháp giới. Phải buông tay cho chết một lần, từ đó mới có cuộc tái sinh.

Khi tụng kinh Kim Cang, Ngài Phó Đại sĩ cảm tác một bài kệ:

Tảo trừ tâm ý địa
Danh vi Tịnh độ nhân
Vô lượng phước dữ trí
Tiên khả ly tham sân.
Trang nghiêm tuyệt năng sở
Vô ngã diệc vô nhân
Đoạn thường câu bất nhiễm
Vĩnh thoát xuất phiêu trần.

Nghĩa:

Quét sạch đất tâm ý
Gọi là Tịnh độ nhân
Chẳng kể phước cùng trí
Trước hãy lìa tham sân.
Trang nghiêm bặt năng sở
Không ngã cũng không nhân
Đoạn thường đều chẳng nhiễm
Vĩnh thoát chốn dương trần.

Chánh nhân của cảnh giới thanh tịnh an lạc ở ngay tâm ta, khi mọi ý niệm vọng tưởng đều bị quét sạch, nhất là ý niệm tham và sân. Trên bước đầu tu tập, chúng ta phải chiến đấu với sự quyến rũ của ngũ dục, nhất là tài và sắc, gây nên những xung đột nơi tâm khiến ta đôi khi vô cùng đau khổ. Nếu không có lý tưởng và không rõ lý nghĩa nhiệm mầu của Đạo, ta rất dễ nản chí sa ngã. Đối với người bình thường, khi lòng tham nổi lên, họ có thể bằng mọi giá thỏa mãn cho được sự đòi hỏi ấy. Người có quyền thế tiền bạc hoặc mưu trí càng có nhiều phương tiện thực hiện những tham vọng của mình. Và nếu lòng tham không được đáp ứng, kẻ có phước và trí ấy càng dễ sân hận, dễ bề mưu hại người khác. Cho nên Ngài Phó Đạo Sĩ nhấn mạnh, chẳng kể người có phước hay trí, trước tiên phải lìa tham sân mới có thể tiến bước trên đường đạo. Và khi bặt mọi ý tưởng phân biệt nhị biên, ấy là lúc vĩnh viễn thoát khỏi mối ràng buộc của phiền não sanh tử.

Theo tinh thần Phật giáo phát triển, Bồ-tát từ Sơ trụ đến Đẳng giác gồm 41 quả vị; trong khi vô minh lại gồm 42 phần. Mỗi quả vị, các Ngài phá được một phần vô minh. Chẳng hạn, Bồ-tát Sơ tín dứt kiến hoặc tức cái thấy sai lầm; Bồ-tát Thất tín dứt tư hoặc là những tư dục vi tế. Cho đến Bát-Cửu và Thập tín mới dứt trần sa hoặc tức những tập khí phiền não thô bên ngoài. Đạt địa vị Đẳng giác, các Ngài đã phá 41 phần vô minh; còn phần vô minh cuối cùng, mãi đến Diệu giác tức Phật quả mới hoàn toàn diệt sạch, mới thể nhập trọn vẹn tự tánh, thấu suốt ánh sáng Thiên Chân. Chúng ta thấy đó, việc dứt hẳn vô minh, sạch hết tập khí đâu phải chuyện sớm chiều đơn giản, cho nên phải biết tận dụng thời gian và tâm lực cho việc lớn của đời mình. Chúng ta không phí thời giờ vào việc hý luận huyền đàm, vào những buổi ngồi quán nước hay những nơi giải trí vô bổ. Nói thế không phải chúng ta hoàn toàn đả phá những thú vui thế gian, nhất là đối với người cư sĩ còn phải tiếp xúc ngoại giao với người ngoài. Quan trọng là ở chỗ ta biết dừng lại đúng lúc, tự làm chủ thân tâm để không bị lôi cuốn vào ngoại duyên trần cảnh. Con người rất yếu đuối, dễ chìu uốn theo bản năng, tâm trộm lại thường dối gạt, nên thiền sinh cần luôn luôn cảnh giác công phu ở mọi nơi mọi lúc. Chính trình độ công phu thiền tập mới làm nên nhân cách của một thiền sinh. Khi chúng ta thấy rõ thân tâm cảnh đều hư dối thì không có gì đắm luyến. Khi chúng ta nhận ra và hằng sống với con người thật, con người mà không có gì não hại được, ta vượt thắng những nỗi sợ ngàn đời, kể cả sợ chết. Cuộc đời ngẫm cho cùng chỉ là quán trọ, mà chúng ta là những lữ khách một đêm. Dù quán nghèo hay khách sạn sang trọng, cũng chỉ là nơi nghỉ chân tạm thời cho kẻ lữ hành, trước khi tiếp tục con đường thiên lý. Chúng ta tu, không phải lúc nào cũng có thể tiến lên phía trước, có điều là khi vấp ngã phải biết đứng đậy bước đi. Làm thế nào trong cuộc sống phàm tục mà ta dần dần xa rời bản năng thú tính, ngày càng thẳng tiến trên con đường hướng thượng đạo đức. Điều này phụ thuộc vào công phu và ý chí của mỗi người.

Sách Đại học Nho giáo viết: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”. Đạo của Đại học ở chỗ làm sáng cái minh đức, ở chỗ thân dân và ngừng nơi chí thiện. Minh đức là đức tốt của công phu thành ý, chính tâm, tu thân và tề gia. Muốn thành ý và chính tâm, đầu tiên phải Cách vật, theo nghĩa của đạo Phật là không dính mắc ngoại trần khởi niệm tham sân si; sau đó là Trí tri tức thấy biết như thật. “Tại minh minh đức” trước ở bản thân, sau đối với gia đình; đến bước thứ hai là Thân dân tức xem mình và người không khác, nên luôn làm tròn trách nhiệm đối với người. Cuối cùng là ngừng ở nơi Chí thiện, luôn thành thật với chính mình, tự tu và giáo hoá người cùng tu để tất cả thuận theo thiên lý nhân tình. Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật dạy: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại, tu thập thiện nghiệp, là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật”. Đây chính là những bước căn bản khởi đầu của người tu. Thiếu căn bản đạo đức nầy, chúng ta không thể làm người tốt trong đời, đừng nói chi người hiểu đạo của Đại học hay muốn thành Phật tác Tổ.

Chúng ta thường có hai quan niệm đối kháng nhau: Có người cho rằng mình đã nắm được yếu lý nhà Thiền, cứ theo đó mà sống, tùy duyên tiêu nghiệp cũ thì việc thể nhập tự tánh chỉ trong tầm tay. Họ nghĩ mình là bậc thượng căn thượng trí, nghe giảng lời Phật lời Tổ mỗi mỗi đều thông suốt, nên tưởng có thể “một nhảy vào liền đất Như Lai”. Họ không biết rằng đó chỉ là cái hiểu hời hợt trên mặt ý thức, có dính dáng gì với cái sống chân thật. Bởi vì “Pháp ấùy, không phải chỗ suy nghĩ biện biệt mà đến được” (Kinh Pháp Hoa), nên thiền sinh chúng ta cần nhớ rằng “Hạ thủ công phu tu Thiền rất sợ nhận thần thức làm Phật sự” (Thiền sư Thiên Cơ-Truyền Gia Bảo). Một cực đoan khác là mang mặc cảm tự ty hoặc mặc cảm phạm tội. Họ cho mình nghiệp chướng sâu dày, trần tục đầy tội lỗi, tu đến bao giờ mới gột sạch phiền não vô minh; từ đó sanh chán nản ngã lòng, hoặc sa vào dị đoan mê tín, phó thác đời mình cho thánh thần ma quỷ. Thật ra, tâm tàm quý rất cần thiết để chúng ta biết phục thiện, không tái phạm điều xấu ác. Nhưng nếu chấp chặt vào đó để dày vò não loạn thân tâm, thì lại làm trở ngại cho công phu. Chúng ta là kẻ phàm tục, không ai không có tội lỗi; ngay lúc mới sanh là đã có nghiệp đời trước, nghiệp dẫn mới thọ sanh. Bởi vì còn nghiệp, nên ta phải phấn đấu để chuyển và dừng nghiệp, không chỉ tu để cầu phước báo nhơn thiên. Chúng sanh ở cõi Trời vui sướng cùng tột, thọ mạng dài lâu, nhưng khi hết phước lại sa vào khổ xứ. Chỉ khi nào ra khỏi nhà Tam giới, ta mới chấm dứt nỗi khổ truyền kiếp là cái khổ sanh tử, mà Thiên Chúa giáo gọi là “Tội tổ tông truyền”.

2- Trách nhiệm đối với gia đình

Một số thiền sinh có phước duyên, sống trong cảnh gia đình hòa thuận, biết đạo đức; và hay hơn, cùng tu theo một pháp môn. Đây là một thuận lợi lớn, không phải ai cũng gặp được. Nhờ vậy, thiền sinh cùng gia đình sách tấn nhau, chỉ bảo nhau trong công phu hành trì, nên có cơ hội tiến nhanh trên đường đạo. Tâm mỗi người được thanh tịnh an lạc, gia đình càng hạnh phúc ấm êm, từ đó tạo một ảnh hưởng tốt đẹp đến bạn bè và hàng xóm.

Nhưng phần đông gia đình lại không được thụân lợi như thế. Có người là Phật tử thuần thành mà bạn đời hoặc con cái lại không hiểu đạo. Một số thanh thiếu niên có khuynh hướng nổi loạn, ưa phản kháng tất cả những gì thuộc nề nếp gia phong. Do không định hướng cho tương lai, họ có thể bị bạn bè lôi cuốn vào những đam mê hưởng thụ. Họ cho rằng đi chùa tụng kinh là lỗi thời, chỉ dành cho người già bệnh hoặc chán đời thất chí. Gặp con cái bị sa ngã như thế, bậc phụ huynh có công phu tu Thiền càng phải tế nhị khéo léo, trầm tĩnh giải quyết dần từng giai đoạn. Trước tiên, chúng ta không bao giờ bắt buộc người thân phải tu theo mình- điều có thể gặp ở một số thiền sinh có tư tưởng gia trưởng phong kiến. Sự tu hành phải là tự nguyện, đôi khi bắt buộc thúc ép lại gây phản ứng nghịch, người thân chúng ta đâm ra ghét chùa sợ pháp, vô tình tạo tội phỉ báng Tam bảo. Chúng ta cũng không nên nghĩ mình có bổn phận “độ” cho người thân, phải bằng mọi cách chuyển hoá lôi kéo họ; mà nên nghĩ rằng, mình tu hành còn kém cỏi, chưa đủ đạo lực để ngườiø thân tin theo. Chúng ta nên tinh cần giữ gìn cấm giới, chăm sóc yêu thương gia đình hơn, ngọt ngào dịu dàng hơn để người thân cảm nhận rằng, sự tu hành làm chúng ta được an lạc và biết thương yêu. Bằng thân giáo, chúng ta chứng minh cho gia đình mình thấy rõ ý nghĩa đời tu rất cao siêu, chứ không phải tầm thường như họ đã tưởng. Việc ứng xử trong gia đình, việc giáo dục con em thâït ra rất khó khăn, nhất là khi ta muốn hướng người thân theo chánh đạo; nhưng gia đình cũng chính là một trường học, người thân là những vị thầy dạy ta tính kham nhẫn, chịu đựng và giúp ta rèn luyện, thử thách định lực của mình.

Một vấn đề khác, nhiều thiền sinh nghĩ rằng phải ăn chay trường mới có thể tu Thiền; có khi bắt buộc gia đình phải ăn chay theo mình, hoặc không muốn sửa soạn bữa ăn hàng ngày nữa. Điều nầy dễ làm mất hạnh phúc gia đình khiến người thân của chúng ta sanh tâm ác cảm đối với Đạo. Thật ra, ăn chay là phương tiện tránh sát sanh, trưởng dưỡng lòng từ bi đối với loài vật. Ăn chay cũng đơn giản và ít tốn kém, lại phù hợp với hệ tiêu hoá của con người, với hàm lượng chất bổ dưỡng không thua gì cá thịt. Tuy nhiên, ăn chay không phải là điều kiện bắt buộc của thiền sinh. Ngày xưa, Đức Phật và các Thánh đệ tử vẫn dùng ngũ tịnh nhục; hiện nay, các vị tu sĩ Nam tông vẫn không đặt vấn đề ăn chay là thiết yếu, vì khi khất thực, ai cúng dường thế nào các Ngài cũng đều hoan hỉ nạp thọ. Cho nên, nếu không có điều kiện trường trai, chúng ta có thể ăn chay kỳ 2,4,6 hoặc 10 ngày mỗi tháng. Có điều là khi trong nhà có tổ chức kỵ giỗ, tiệc mừng..., nếu không thể nấu món chay thì chỉ nên mua thịt cá làm sẵn, mang về chế biến. Chúng ta nên tránh mua các con vật còn sống, tự giết hay nhờ người khác giết, lại nấu nướng đủ món rồi dâng cúng ông bà tổ tiên. Những người sống thỏa mãn vị giác trong nhất thời mà làm người đã khuất phải mang nghiệp bất thiện, ấy là không hợp đạo lý.

Về nghề nghiệp, thiền sinh chúng ta nên chọn những nghề lương thiện và không hại người hại vật; nhất là nghề mua bán chất độc hại, đồ tể hay mua rẻ bán đắt, thì nên tránh. Nếu từ trước, gia đình đã lỡ theo nghề ấy, chúng ta cần tìm cách chuyển đổi dần dần, sao cho không ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và phải có sự đồng tình của mọi người. Thật sự, cuộc sống lứa đôi có vô vàn vấn đề phức tạp, mỗi gia đình lại là một thế giới khác nhau. Tuy nhiên, nguyên tắc chung là chúng ta cần hài hòa, trầm tĩnh và khéo léo sao cho người thân của chúng ta hoan hỉ tự nguyện sống đạo đức, dù họ có theo pháp tu của mình hay không. Chúng ta hãy tự chuyển hoá mình trước; khi ta tu có kết quả, thể hiện bên ngoài bằng sự an lạc thanh lương, tự nhiên những người xung quanh sẽ dần dần tin tưởng tu theo. Một gia đình thiện hiền lại sẽ ảnh hưởng tốt đến các gia đình lân cận, không sớm thì muộn. Đây là sự liên hệ hỗ tương, như cổ đức đã nói :

Nhứt nhơn tác phước thiên nhơn hưởng
Độc thọ khai hoa vạn thọ hương.
Tạm dịch:
Một người tạo phước ngàn người hưởng
Một cây hoa nở vạn cây thơm.

Một số thiền sinh thắc mắc : Chúng ta tinh cần công phu, giữ gìn cấm giới, thúc liễm thân tâm miên mật; thế tại sao nhiều lần chúng ta vẫn gặp chuyện không may, vẫn bị người nói xấu làm hại, vẫn bị mất mát buồn đau trong gia đình? Trong những trường hợp ấy, thái độ của chúng ta phải thế nào mới đúng?

Đây là những vấn đề rất thiết thực và gần gũi với tất cả mọi người, kể cả người xuất gia. Nếu chúng ta không có chánh kiến chánh tín, sẽ rất dễ chao đảo và mất lòng tin nơi chánh pháp; và nếu không có trình độ thiền tập, ta khó lòng giữ vững tinh thần để vượt qua những trận cuồng phong thử thách nầy. Gọi là “thử thách”, không phải có một đấng quyền năng nào đặt bày những điều xui rủi xem ta tu hành đến đâu; cũng không phải vô duyên vô cớ mà người khác tính chuyện làm hại ta, xem ta đối phó thế nào. Hiểu và tin sâu nhân quả, ta biết rằng mọi chuyện trên đời, không có gì không do nhân duyên mà thành tựu. Nhân quả lại trải dài qua ba thời quá khứ - hiện tại - vị lai. Cho nên, những oan trái đời trước đã kết thành quả đời nầy khiến chúng ta nhận lãnh, mà nếu không biết tu hành tạo phước, có thể nghiệp quả ấy càng nặng nề hơn nhiều. Biết vậy, chúng ta đón nhận chúng với thái đôï kham nhẫn và định tĩnh, sáng suốt giải quyết vấn đề; đồøng thời động viên giải thích cho người thân hiểu rõ bản chất của sự việc. Trong đời học sinh, chúng ta phải trải qua biết bao kỳ thi để được lên lớp, vượt cấp, tốt nghiệp. Nơi trường đạo cũng thế, thỉnh thoảng chúng ta cũng phải “thi” mới hiểu mức độ tu học của mình. Mạnh Tử nói: “Người nào sắp lãnh một trọng trách thiêng liêng, trước tiên phải nhọc công khổ trí, đói khát, thất bại. Có như vậy, người ấy mới có cơ hội rèn luyện ý chí, sự nhẫn nại và phát huy tài năng”. Chúng ta không dám tự đảm đương một “trọng trách thiêng liêng”, nhưng vì mỗi thiền sinh phải là một cán bộ tâm linh, nên nếu không thể chan rải sự bình an phúc lạc cho nhiều người, thì ít nhất cũng phải làm cho gia đình mình được hạnh phúc. Ngày xưa, ở Trung Hoa có ba người đàn bà trinh thục đảm đang, giúp chồng dạy con tài giỏi đến đôï lập thành cơ nghiệp của nhà Châu, kéo dài 800 năm. Đó là Thái Khương, mẹ của Thái Ba, Trọng Ung, Quý Lịch; Thái Nhậm, mẹ Văn Vương và Thái Tự, mẹ Vũ Vương, Châu Công. Đến bây giờ, người Trung Hoa vẫn dùng từ Thái Thái để gọi các Lão phu nhân trong gia đình quyền quý, có thể là khởi đầu tên của ba vị ấy chăng? Những thiền sinh nữ chúng ta, khéo đảm đang việc nội trợ, giáo dục con cái thế nào cho vừa phù hợp đạo lý vừa nhịp nhàng theo thời đại, ấy mới là hành Thiền đúng tinh thần nhập thế của đạo Phật.

Một vấn đề lớn khác cũng cần đặt ra: ấy là chữ Hiếu đối với cha mẹ. Kho tàng văn chương Việt Nam từ xưa đến nay đã nói rất nhiều về hiếu đạo, xem như chuẩn mực đạo đức làm người. Đạo Phật cũng rất tôn vinh chữ Hiếu, xem tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật. Thiền sinh chúng ta, ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ về vật chất và tinh thần, còn cần chăm lo về đời sống tâm linh cho tứ thân phụ mẫu. Nếu các Người còn khoẻ mạnh, căn cơ thích hợp, ta hướng dẫn phương pháp hành thiền theo tông chỉ. Nếu các Người đã già yếu hoặc không thích tọa thiền, ta khuyến khích việc trì danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà... Tất cả những phương tiện Phật dạy để nhiếp tâm đều là chánh pháp, sự lựa chọn pháp tu nên uyển chuyển tùy duyên. Khi cha mẹ có bệnh hoặc hấp hối, chúng ta vì các Người mà bố thí, cúng dường, chí thành sám hối những nghiệp tội đã gieo; đồng thời nhắc nhở Người tinh chuyên giữ chánh niệm hoặc niệm Phật. Chúng ta đem lời Phật dạy trong Tâm kinh Bát-Nhã, nói cho các Người thấy rõ thân năm uẩn là hư dối không thật, từ đó biết những vật sở hữu cũng nay còn mai mất; để các Người không đắm luyến thân và tài sản, con cháu, có thể an nhàn ra đi.

Lúc cha mẹ còn sinh tiền, chúng ta làm tròn hiếu đạo theo tinh thần Phật giáo, thì trong tang lễ, chúng ta dứt khoát không theo sự đua đòi khuôn sáo của người thường. Không cần những nghi lễ phức tạp tốn kém, đặc biệt là sát sanh để cúng tế và chiêu đãi hoặc đốt vàng mã, hình nhân... Huynh đệ đồng tu đến phúng điếu, nếu có thời gian nên tụng kinh Kim Cang, không thì ba biến Bát-Nhã. Khi thỉnh quý thầy đến tụng niệm, tang gia phải thay phiên hầu kinh lễ bái; phẩm vật cúng dường phải thanh tịnh, tinh khiết. Nói chung, mọi lễ nghi đều chú trọng ở sự thành tâm thành ý, còn phần hình thức thì tùy hoàn cảnh mà thực hiện.

3-Trách nhiệm đối với huynh đệ đồng tu:

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Học thầy không tày học bạn” hay “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Bạn đạo rất cần thiết cho chúng ta trên bước đường đầu tu tập, nhất là những nơi xa Thầy-Tổ. Nếu có điều kiện, huynh đệ nên cùng sinh hoạt trong một Đạo tràng, có nội quy và nội dung tu học theo yếu chỉ Thiền tông. Nếu không có điều kiện, vài thiền sinh có thể lập một nhóm nhỏ cùng hành trì, thỉnh thoảng về các Thiền viện trong tông môn để được quý Thầy chỉ dạy, sách tấn.

Một số thiền sinh công phu lâu năm, nghe băng giảng và nghiên cứu kinh sách khá nhiều, cho rằng mình có thể tự tu, không cần sinh hoạt chung với huynh đệ. Họ sợ rằng khi tiếp duyên xúc cảnh, khi làm việc Phật sự trong Đạo tràng, họ sẽ khó thúc liễm thân tâm, sẽ không có thời giờ lo cho riêng mình. Ý nghĩ ấy mới nghe cũng có lý, vì ngày xưa, các vị Thiền sư khi đã kiến tánh, phải cần một thời gian ở ẩn nơi rừng núi u tịch để bào mòn tập khí, thể nhập trọn vẹn tự tánh thanh tịnh. Tuy nhiên, hoàn cảnh của chúng ta ngày nay khác các Ngài nhiều lắm, nếu không khéo nhận định, chúng ta dễ mắc sai lầm. Thứ nhất, ngày xưa các Ngài ở ẩn là hoàn toàn sống nơi hoang vắng, tự cung tự cấp, một mình làm bạn với chính mình; bây giờ chúng ta chỉ tránh gặp huynh đệ trong Đạo tràng nhưng vẫn bươn chải hàng ngày để lo sinh kế, như thế không thể gọi là “tránh duyên”. Thứ hai, các Ngài là những bậc pháp khí trong tông môn, có ý chí xuất trần, tâm Bồ đề kiên cố, trí tuệ siêu tuyệt, nên dù một mình một bóng cũng vẫn không có gì não hại lay chuyển được; trong khi chúng ta là những người phàm tục, dễ chán nản, dễ vấp ngã; nếu không có bạn bè kịp thời khuyến khích sửa chữa, ta khó lòng vững tiến trên đường đạo. Một yếu tố quan trọng và quyết định, là các Ngài đã thật sự kiến tánh trước khi bảo nhậm, do Tôn sư ấn chứng bằng cách này hay cách khác; chúng ta đôi khi mới hiểu đạo lý trên mặt nhận thức, mới thầm tin mình có tánh giác, đã vội tưởng lầm mình đến đỉnh cuối. Rắn hoá rồng có thể nào dễ dàng như thế được ư?

Chúng ta cũng biết, một chiếc thuyền nhỏ chở một vài người, nhẹ nhàng lướt trên sông nhanh hơn nhiều so với chiếc thuyền lớn cồng kềnh, chứa hàng trăm người. Nhưng khi đối mặt với biển cả, gặp sóng to gió dữ thì liệu lá thuyền con kia có đủ sức cập bến an toàn? Đạo tràng cũng như chiếc thuyền lớn, tuy chậm nhưng chắc chắn hơn và có thể nhiêu ích được cho nhiều người. Môi trường đồng đạo là môi trường thuận lợi để chúng ta cùng thực hành những lý thuyết đã học, là nơi ta giúp nhau rèn giũa khắc phục nhược điểm, và cũng là nơi ta có cơ hội phước huệ song tu. Đạo tràng chính là trường học lý tưởng đối với những thiền sinh hiểu rõ và làm đúng trách nhiệm của mình. Vì sao nói như thế?

Trước tiên, sinh hoạt tập thể giúp ta mài mòn tập khí và củng cố định lực, nhất là tập khí chấp ngã. Nhiều thiền sinh là trụ cột trong gia đình, người nói tiếng quyết định trong mọi lĩnh vực của đời sống nên dễ cống cao ngã mạn. Sinh hoạt với huynh đệ, không thể nổi nóng bất kỳ lúc nào, có khi phải tập nhũn nhặn với người nhỏ tuổi đời nhưng lớn tuổi đạo hơn mình. Dần dần ta biết lắng nghe, ngã chấp giảm bớt, trầm tĩnh sáng suốt hơn. Đây là những đức tính cần thiết của người biết đạo.

Nhà Phật có từ “kiến thủ”, sự chấp chặt vào kiến thức của mình cho là đúng đắn hợp lý nhất, không thừa nhận ý kiến nào khác. Sự cố chấp nầy làm ta tự mãn, không chịu thua kém ai; từ đó sanh ra bất hòa với huynh đệ. Nhà bác học Newton nói: “Những điều ta biết chỉ là một giọt nước, những điều ta chưa biết là cả đại dương”. Triết gia vĩ đại Socrate cũng bảo rằng : “Tôi biết tôi không biết gì cả”. Người khôn càng học càng thấy mình dốt, càng tu càng biết mình còn dở. Pháp môn của chúng ta là Thiền- Giáo song hành, công phu thiền tập chứng minh cho lý nghĩa của kinh sách, ngược lại lời kinh càng soi sáng cho đường lối công phu, cho nên ta không ngại khi nghiên tầm kinh điển. Chúng ta nghe đọc kinh sách không phải qua một lần là đủ, vì khó thể thẩm thấu hết lý nghĩa sâu sắc trong lời dạy của Phật-Tổ; vả lại, sự hiểu biết vấn đề cũng ngày một nâng cao theo mức độ công phu. Cho nên, nếu tự mãn cho ta hiểu nhiều biết rộng hoặc công phu đã đến trình độ thượng thừa, không cần thầy bạn nữa, thì ta đã tự ngăn lấp bước tiến của mình trên đường đạo. Những bậc Hiền bước vào Sơ quả Tu-Đà-Hoàn, đã kiến đạo, vẫn còn 7 lần sanh tử; đến Tam quả A-Na-Hàm, không trở lại nhân gian nhưng vẫn còn vào cõi Tứ thiền thiên của Trời Sắc giới. Đức Phật gọi các vị ấy là Bậc hữu học tức còn cần học thêm; chỉ đến Tứ quả A-la-hán mới được xem là Bậc vô học. Chúng ta chưa từng vào Sơ quả, có thể cho mình học đã đủ sao?

Một dạng khác của ngã tướng, là tu hành mà muốn người khác biết, nên đến đâu cũng bàn thiền bàn đạo; hoặc chú trọng viêïc dụng công trên hình tướng nên tìm cách tọa thiền trước đám đông, hay so sánh công phu của mình với huynh đệ. Những điều nầy vô tình làm tổn phước và gây mất cảm tình trong tập thể. Phải nên dụng công mà không có ý dụng công, càng không để người khác biết mình đang dụng công. Dụng mà không dụng mới là dụng công đúng nghĩa. Người làm đúng như thế sẽ có một phong cách riêng, rất tự nhiên mà toát ra vẻ tự tại tươi mát. Vả lại, nếu ta âm thầm công phu, không khoe khoang tự mãn, thì những lời khen chê không ảnh hưởng gì đến ta; còn nếu tự cho mình quan trọng hơn người, thì khi có ai xúc phạm, ta sẽ vô cùng đau khổ tức giận. Thiền sư Đức Sơn, sau khi ngộ đạo đã nói: “Sự học hiểu tích lũy giống như sợi tóc so với hư không”. Ngài Đức Sơn, một bậc tài trí hơn người, sở trường giảng kinh Kim Cang hay đến nỗi thời nhơn tôn Ngài là Chu Kim Cang, nhưng khi nhận ra tự tánh mới biết sở học bác lãm ngày xưa chỉ là sợi tóc so với tánh giác trùm khắp chiếu soi. Người tu cần luôn thấy sự học sự tu của mình còn kém cỏi, như thế mới có tinh thần cầu thị. Tu là cả một quá trình thanh lọc và chuyển hoá tự thân, thời gian lâu xa không tính kể, không phải chỉ ngày một ngày hai đã vội thỏa mãn dừng lại.

Trong buổi sinh hoạt, nếu có vị Thầy hướng dẫn thường kỳ là tốt nhất. Nếu không được như thế, huynh đệ cần nương tựa nhau, giúp đỡ nhau với tinh thần hòa ái. Đạo tràng là nơi để chúng ta sống trong tập thể, mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Đây cũng là nơi để ta có dịp hành hạnh bố thí. Thỉnh thoảng tổ chức cuộc hành hương cúng dường các tự viện, người khá giả hỗ trợ người kém hơn để ai cũng được gặp Thầy-Tổ, ấy là bố thí ngoại tài. Những buổi tổ chức dùng cơm chánh niệm hoặc những việc Phật sự khác, ta nguyện gánh vác việc nặng nhọc, đỡ tay cho huynh đệ già yếu, ấy là bố thí nội tài. Người có chút ít kết quả trong công phu hoặc nghe đọc một đoạn tâm đắc, lúc pháp đàm diễn đạt lại cho mọi người cùng hưởng lợi ích, đó cũng là hình thức bố thí pháp. Đạo tràng cũng tạo cơ hội để mọi người tập nói trước công chúng; vì có nhiều người tuy có công phu khá, có điều hay muốn trình bày nhưng không dám, ngại người khác chê cười. Trong tình huynh đệ thân ái, chúng ta có thể khuyến khích bạn ta phát biểu, dần dần khắc phục nỗi sợ đám đông; đó có thể gọi là bố thí vô uý. Đặc biệt hơn, chúng ta tu Thiền thường quán chiếu vạn pháp đều không thật có, huynh đệ trong tông môn cùng với ta không hai không khác, nên tuy làm mọi việc cho Đạo tràng mà với tinh thần vô ngã, theo lý nghĩa Bố thí Ba-La-Mật của Bồ-tát Đại Thừa.

Những thiền sinh có chức trách trong Đạo tràng, nên ý thức đây là phương tiện, là cơ hội để ta phục vụ huynh đệ tốt hơn. Trách nhiệm càng cao, ta càng phải công phu miên mật để huynh đệ tin tưởng noi theo, để có kinh nghiệm hướng dẫn người khác hành trì, và nhất là để có định lực và trí tuệ giải quyết mọi vấn đề đối nội lẫn đối ngoại. Tu có kết quả, ta san sẻ cho huynh đệ sự bình an tươi mát, ta dung nhiếp được mọi người nếu họ có sở thích tương đồng về pháp tu. Ta sẵn sàng đón nhận mọi ý kiến đóng góp, phản bác để xây dựng, củng cố và phát triển Đạo tràng, nhưng tiếp thu có chọn lọc và có lập trường kiên định khi ta biết hướng đi của mình là đúng. Chúng ta cũng không thể mong tất cả mọi người đều đồng tình, ủng hộ mình, nhất là trong những thời gian đầu mới thành lập; bởi vì mỗi người đều có nhận xét riêng, quan niệm riêng về một vấn đề, quan trọng ở chỗ chúng ta biết dung hòa ý kiến trên tinh thần tương thân tương ái và một lòng vì tông môn, vì tập thể chứ không ích kỷ cho riêng mình.

Có hai loại người khó tu: người duy lý và người có tình cảm bi lụy. Người hoàn toàn sống bằng lý trí thường khô khan, thích cô độc, lại hay lý luận xét nét nên khó hòa đồng với người khác. Ngược lại, người dạt dào tình cảm thì ít sáng suốt, không trầm tĩnh, khó giữ vững lập trường. Thiền sinh nên quân bình giữa tình và lý, nhất là đối với huynh đệ đồng tu. Thiền tập là sự chiến đấu không khoan nhượng và không gián đoạn với chính bản thân mình, nhưng đối với người thì bao dung độ lượng. Tất cả chúng ta đều là phàm phu với đầy dẫy phiền não tập khí, ta chưa hoàn hảo thì không thể đòi hỏi người khác không mắc lỗi lầm. Ngay đối với những vị tu sĩ, cũng đang trong tiến trình vượt khó, có lúc thất bại trong công phu, không phải lúc nào cũng là mẫu người lý tưởng. Nếu ta chỉ thấy khuyết điểm của người mà không thấy lỗi mình, thì sự tự tri của ta còn quá yếu. Sự chấp đúng có khi làm khổ mình khổ người, vì mạt vàng tuy quý nhưng khi rơi vào mắt cũng thành bệnh. Có tâm độ lượng bao dung, ta mới sống trong tập thể một cách hòa hợp thoải mái, mới thấy những cái hay tiềm ẩn của người khác để học hỏi. Nhiều thiền sinh than rằng mình cảm thấy lạc lõng, cô đơn trong tập thể, lại gặp nhiều sự chống đối khi mình phát biểu ý kiến hoặc đề nghị một điều gì. Thiền sinh ấy nên phản quan soi xét mọi hành vi của thân miệng ý, nên dũng cảm nhìn nhận và sửa chữa những khuyết điểm mình đang có, nên song hành giữa việc mình làm và những điều mình chỉ bảo cho người. Quan trọng hơn cả, thiền sinh ấy nên biết rằng, mình cô đơn là vì mình không có lòng độ lượng khoan thứ, không trải lòng ra sống với người, không biết nghĩ đến lợi ích của người khác. Lý nhân quả rất kỳ diệu, có thểâ chứng minh và giải thích tất cả mọi sự vật hiện tượng, kể cả những uẩn khúc trong tình cảm con người.

4-Trách nhiệm đối với xã hội và môi trường sinh thái:

Con người chúng ta trải qua quá trình luân hồi từ vô thủy, đã bao lần lên xuống sáu nẻo tử sinh. Thân quyến chúng ta, nhân lên vô số kiếp, không thể dùng trí óc thường tình mà tính nổi. Có thể nói, chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ bà con của chúng ta, và đều bình đẳng cùng nhau ở tánh giác sẵn đủ. Vì thế, tình thương rộng khắp chúng ta trang trải đến muôn người muôn vật là điều tự nhiên phải có.

Nhà Phật đề cập đến Tứ điền, bốn loại ruộng phước mà mỗi người đều phải gieo những hạt giống thiện lành: Ân điền, lòng tri ân đối với cha mẹ; Kỉnh điền, lòng quý kính đối với Tam bảo và sư trưởng; Nghĩa điền, tình nghĩa đối với bạn bè, người thân; Bi điền là tâm từ bi đối với muôn loài. Thiền sinh chúng ta biết tất cả pháp thế gian đều hư dối, nhưng không phải vì vậy mà quay lưng trước sự đau khổ mất mát của người khác. Ta hiểu rằng những việc làm vì lợi ích cho người là hữu vi hữu tướng, không thể so sánh với công đức vô lượng của người nhận ra bản tâm; nhưng không vì vậy mà chúng ta không tạo phước. “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp”. Tuy lý nghĩa uyên áo của Đạo không dính một mảy trần, nhưng trong lục độ vạn hạnh, không có một pháp nào ta không thực hiện. Đó là tinh thần Trung đạo, lý sự viên dung. Đạo đức người tu trước tiên phải biểu hiện bằng lòng từ bi đối với muôn loài chúng sanh, cho nên phải làm người tốt trước khi trở thành người đắc đạo.

Công phu tu Thiền, chúng ta không thể nào quên chánh niệm tỉnh giác, mỗi hành vi, mỗi lời nói ở bất cứ nơi nào, ta đều biết rõ việc mình đang làm, để không gây tổn hại cho mình và cho người khác. Đi trên đường, ta tôn trọng luật giao thông, không phóng nhanh vượt ẩu thì không tự gây ra tai nạn và có thể phản ứng kịp thời trước những tình huống bất ngờ. Đến chỗ đông người ta luôn chánh niệm tỉnh giác, tự nhiên toát ra một phong cách khiến mọi người kính mến; bằng ái ngữ đồng sự ta có thể hòa đồng với tất cả trong tình huynh đệ, không phân biệt địa vị, tôn giáo. Ta không dùng lời phô trương truyền bá pháp tu của mình, nhưng nhìn kết quả tu tập qua tác phong cử chỉ, người khác có thể tin tưởng tu theo. Có chánh niệm, ta có thể ngăn ngừa những tội lỗi mới chỉ manh nha trong tư tưởng, nên dù ở bất cứ ngành nghề nào, ta cũng phục vụ mọi ngươì tận tình chu đáo và ảnh hưởng tốt đến nhân viên dưới quyền. Bản thân ta làm những việc nhỏ như không xả rác bừa bãi, không hút thuốc nơi cơ quan, bệnh viện..., ta mới có thể giáo dục con em và học trò mình ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng, hưởng ứng phong trào sạch và xanh của thành phố, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc... Có chánh niệm, ta không bị cám dỗ bởi những món lợi bất chánh, nên làm cán bộ nhà nước, ta không sách nhiễu phiền hà dân chúng; làm người buôn bán, ta không mua một bán mười, gạt gẫm người tiêu dùng; là thầy thuốc, ta hết lòng cứu chữa bịnh nhân theo đúng y đức; là luật sư, ta không vì tiền mà bào chữa kẻ tội phạm cho trắng án, đổ tội cho người vô can... Đức Phật dạy : “Nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, trừ thế tham ưu”. Luôn chuyên tâm cần mẫn, chánh niệm tỉnh giác, thiền sinh vượt thoát những tình cảm thương ghét thị phi đối với mọi việc trên đời.

Ngày nay, một số nước phương Tây đã có luật bảo vệ thú nuôi và động vật hoang dã. Việt-Nam ta đã ban hành luật cấm săn bắt thú rừng, nhất là các loài được ghi vào sách đỏ, nhưng một số loài vật vẫn còn là những món đặc sản của từng vùng. Nhiều con đường trong các thành phố lớn trở nên nơi thu mua và tiêu thụ chim thú, kéo theo các tệ nạn say xỉn, đâm chém, trở ngại giao thông...; chưa kể hậu quả các loài thiên địch bị giết hại như mèo, rắn, chim, khiến nạn chuột và sâu bọ lộng hành. Cho nên, vui say trong chốc lát nhưng đôi khi để lại những tác hại nặng nề cho môi trường, cho xã hội; mà nếu không có đạo lý, không tỉnh giác, ta không ý thức được đầy đủ.

Tuy nhiên, chúng ta có khi tự hỏi : Nếu đạo Phật cấm sát sanh, thì những người làm nghề liên quan đến sinh mạng đều có tội cả chăng? Ví như đao phủ hành quyết kẻ tử tội; người đồ tể, làm nghề đánh cá săn bắt; nhân viên y tế diệt ruồi muỗi; nông dân phun thuốc trừ sâu... tất cả đều phạm giới sát, có phải như vậy không? Thật ra, giới sát sanh chỉ được áp dụng chặt chẽ với người xuất gia, còn người cư sĩ thì tùy hoàn cảnh mà châm chước. Chủ yếu, cư sĩ tại gia không được giết người và giết những con vật lớn, còn những loài vật nhỏ như gà vịt tôm cá ... thì hạn chế bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Mặt khác, khi chọn lựa giữa một bên là công lý hoặc lợi ích cho con người và bên kia là tội phạm hay sinh mạng loài vật, tất nhiên ta phải đứng về phía nào trọng hơn. Đây là trường hợp của những người lính bảo vệ đất nước, người thực thi lệnh hành quyết, người hành nghề y dược... Riêng những người đánh cá hoặc những người liên quan đến sát sanh làm thức ăn, cũng có thể quy y thọ giới, nhưng dần dần nên tìm cơ hội chuyển nghề. Nông dân khi phun thuốc, cần chú ý những nguyên tắc cơ bản đã được chỉ dẫn để tránh tai nạn ngộ độc thức ăn cho người tiêu dùng.

Người Trung Hoa có một câu chế giễu những ai ưa lo chuyện thiên hạ: “Kỷ nhân ưu thiên”, người nước Kỷ lo trời sập. Chuyện trời đối với người xưa có thể là xa vời không thực tế; nhưng trong thời hiện đại, khi những bước tiến đột phá của khoa học đã kéo vũ trụ đến gần con người và biến trái đất trở thành mái nhà chung, thì mọi người chúng ta đều phải đóng góp cho tương lai của toàn nhân loại. Xem bản tin Thời sự, nhiều lần ta thấy những cảnh cháy rừng, lũ lụt, hạn hán, làm thiệt hại không sao tính kể. Nguyên nhân đôi khi chỉ rất nhỏ như một điếu thuốc chưa được dập tắt vứt trên lá khô; hoặc lớn hơn là nạn chặt phá rừng đầu nguồn, hiệu ứng nhà kính do khí thải, tầng Ozone bị thủng do sản phẩm của công nghiệp lạnh... Tất cả sự tàn phá thiên nhiên, đảo lộn môi trường sinh thái đều do sự ích kỷ, lòng tham lam sân hận của con người. Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững, tức Hội nghị về môi trường, khai mạc ở Nam Phi vào tháng 9/2002, đã bàn về trách nhiệm đối với hành tinh của tất cả các nước, nhất là các nước phát triển. Mọi người có cơ hội nhìn lại mình trong mối liên hệ chằng chịt với muôn loài và với môi trường xung quanh, thấy rõ rằng không ai có thể sống tách biệt khỏi cộng đồng nhân loại. Thiền sinh chúng ta càng biết rõ, ngay một niệm khởi lên, dù mắt thường không thấy, nhưng cũng đã phóng ra một lực ảnh hưởng đến xung quanh. Định lực của ta càng mạnh, ảnh hưởng của niệm càng lớn. Cho nên, khi tọa thiền, chúng ta nên phát khởi tâm từ bi lúc bắt đầu nhập và xả thiền, góp phần tịnh hoá không gian mình đang sống.

Hiến chương Liên Hiệp Quốc được mở đầu bằng lời tuyên bố : “Vì chiến tranh bắt đầu từ trong tâm trí con người, và cũng từ trong tâm trí con người mà sự bảo vệ hòa bình được thiết lập”. Lời nói nầy có khác gì lời Phật dạy trong kinh Pháp cú : “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác”. Chính do tâm mà con người gây tội lỗi, cũng do tâm mà sám hối tạo nghiệp thiện lành. Vào thế kỷ 19, nhà Bác học gốc Serbia tên Nicolas Tesla đã chế tạo thành công một máy phát cao tần, theo nguyên lý tập trung nguồn năng lượng của sóng vô tuyến, có thể tác động lên tầng điện ly bao quanh trái đất. Đầu thế kỷ 21 nầy, các nhà khoa học đã áp dụng thành tựu ấy vào việc chế tạo một vũ khí phòng thủ và tấn công, có thể hủy diệt toàn bộ đại lục Âu- Á trong chớp mắt. Chúng ta còn nhớ vào thế kỷ 20, hai quả bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagasaki đã giết hại bao nhiêu sinh mạng, và bao nhiêu người còn mang di chứng cho đến ngày nay? Thế kỷ 21 là thế kỷ của khoa học hiện đại, của nền kinh tế tri thức, nhưng cũng là thế kỷ của chiến tranh khủng bố, của thiên tai dịch họa, nếu những người có trách nhiệm không được đạo đức soi đường. Thiền sinh chúng ta, càng có địa vị cao quyền lực lớn, càng phải chăn giữ con trâu tâm, không cho hung hăng hoang dã. Mỗi người phải là một chiến sĩ phụng sự hòa bình, tùy khả năng và cương vị của mình trong xã hội.

5- Trách nhiệm đối với Đạo pháp:

Một trách nhiệm rất quan trọng mà thiền sinh không bao giờ được quên lãng, ấy là trách nhiệm đối với Đạo pháp. Đức Phật dạy : “Sư tử trùng thực sư tử nhục”, chỉ có người trong đạo mới làm Đạo pháp suy đồi, cũng như chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn thịt được sư tử. Câu nầy có ý nghĩa rất sâu xa. Chúng ta mang danh con Phật, nếu không giữ đúng tư cách Phật tử, không tu hành theo chánh pháp mà phóng túng buông lung, dị đoan mê tín..., thì chính ta đã làm suy yếu đạo Phật. Thiền sinh cần luôn tâm niệm mình có trách nhiệm lớn đối với Đạo, là gạch nối giữa Phật pháp và thế gian pháp để luôn luôn suy xét bản thân, sửa đổi thân tâm ngày càng hoàn thiện. Những khi ta chiêm nghiệm về cuộc đời và con người trong yên tĩnh, những lúc thân tâm vận hành dưới sự kiểm soát và hướng dẫn của chánh niệm, ta sẽ biết cách sống tốt đẹp, hợp đạo lý. Đối với người xuất gia, kỷ luật trong tự viện là trợ duyên cần thiết cho sự điều phục thân tâm, vì tập khí nhiều đời cùng với những cám dỗ của tiền trần luôn lôi kéo ta tạo nghiệp. Người tu không phải chẳng làm gì cả mới gọi là yên tu, mà là phải quân bình giữa tu- học và làm việc; tu để có đức, học để có tài và làm việc để rèn luyện ý chí, như thế mới tròn hạnh tự giác-giác tha.

Nhà Phật thường truyền tụng hai câu kệ :
Vị trước ca sa hiềm đa sự
Trước đắc ca-sa sự cánh đa.
Tạm dịch:
Chưa mặc ca-sa ngại việc nhiều
Mặc ca-sa rồi việc chẳng thiếu.

Trước khi xuất gia, ta tưởng các vị tu sĩ như những người nhàn rỗi nhất, hạnh phúc nhất; nên khi nào thất chí tuyệt vọng hoặc muốn trốn tránh nợ đời, ta nghĩ đến việc vào chùa. Đó là những động cơ không chính đáng, nên khi trở thành tu sĩ, có điều gì không như ý là thối chí muốn hoàn tục. Người xuất gia càng phải làm nhiều việc hơn, chịu kỷ luật chặt chẽ hơn, tu hành nghiêm cẩn hơn. Những vị lãnh đạo tự viện vừa lo cuộc sống hằng ngày, dạy dỗ tăng chúng, vừa hướng dẫn Phật tử và làm mọi Phật sự bên ngoài. Tất cả đều vì bổn phận nối truyền mạng mạch Phật pháp. Người tu cũng ăn không ngồi rồi, nhưng là không phiền não và rồi việc tử sanh. Chúng ta muốn ăn không ngồi rồi như thế, phải tinh tấn học và làm, làm và tu, không phí thời gian vào những việc vô bổ như đọc truyện nhảm, xem phim, du lịch...

Chúng ta biết, Đức Phật vì tám vạn bốn ngàn trần lao phiền não của chúng sanh, mới thi thiết tám vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Tất cả những lời dạy của Ngài đều là chánh pháp, và Phật tử tùy trình độ sở thích mà chọn lựa pháp tu thích hợp cho mình. Chúng ta tu theo yếu chỉ Thiền tông, không vì vậy mà cho rằng chỉ có Thiền Đốn ngộ mới là pháp môn cao siêu kỳ tuyệt. Mỗi loại thuốc thích hợp với một bệnh, và chỉ có bệnh nhân được chữa lành mới đánh giá chính xác, không kể thuốc ấy đắt hay rẻ, sử dụng phức tạp hay đơn giản. Thuốc ấy cũng chỉ hay với người nầy, chưa chắc hay với người khác. Pháp tu là thuốc trị tâm bệnh, ta không thể áp đặt việc hành trì cho tất cả mọi người. Nhất là ca tụng pháp môn của mình, chê bai pháp khác, ấy là việc không nên làm đối với một thiền sinh chân chính. Tất cả người tu theo lời dạy của Đức Phật, một lòng quy hướng Tam bảo, đều là con Phật; tất cả những vị tu sĩ đều là sứ giả Như Lai; tất cả ngôi Già lam thanh tịnh đều là đất Phật. Chúng ta có trách nhiệm lễ bái cúng dường các ngôi tự viện, làm mọi Phật sự với khả năng, góp phần xây dựng và phát triển Giáo Hội. Ngoài ra, những khi chính quyền địa phương phát động phong trào từ thiện hay đền ơn đáp nghĩa, chúng ta nên tích cực tham gia với tư cách một công dân tốt. Kinh nghiệm cho thấy, những tự viện hay Đạo tràng có sự liên hệ chặt chẽ với Giáo Hội và địa phương, sẽ được nhiều thuận lợi trong sinh hoạt. Đây cũng là quy luật tất yếu, không nằm ngoài lý nhân quả. Chính trong cuộc sống thường tục mà ta mở rộng tấm lòng đối với mọi người, thì dù không mong cầu, tự nhiên ta cũng gặp điều tốt đẹp.

Thiền sư Đạo Giai nói: “Muốn biết khi chết được tự tại không, chỉ xem hiện tiền có tự do không”. Tự do không phải mặc tình buông thả muốn làm gì thì làm. Tự do là vẫn sống trong khuôn khổ đạo đức mà không thấy mình bị ràng buộc, vẫn theo đúng lề lối của xã hội mà không đánh mất mình, vẫn hòa mình với trần thế mà không dính mắc với mọi cám dỗ của ngũ dục. Tâm không vướng bận tiền trần, siêu vượt mọi ý niệm phân biệt thị phi nhơn ngã, hành giả giải thoát khỏi phiền não và tự tại trong cuộc tử sinh.

Con người khổ sở vì làm con thuyền muốn tìm một bến hứa ở tương lai, nên cứ mãi lênh đênh trên biển đời vô tận. Nhất là trong thời đại thực dụng chạy đua với thời gian, mỗi phút là mỗi suy tính làm sao kiếm thật nhiều tiền, không có dịp quay trở về chính mình và mở lòng ra với người, mỗi người như con ốc thu mình vào vỏ. Chính cái thực dụng của đời sống kinh tế thị trường; những biến động của xã hội do chiến tranh, thiên tai, khủng bố; sự suy sụp đạo đức của một số thanh thiếu niên, là những tác động tiêu cực ảnh hưởng ngược lại đến cá nhân và gia đình. Bởi vì nhân thể là một chỉnh thể, cá thể và cộng đồng có liên hệ hỗ tương, nên nếu mỗi người biết cách thăng hoa đời sống tâm linh, hòa hợp với tự nhiên và với cộng đồng, thì xã hội sẽ được ảnh hưởng theo chiều hướng tốt. Thiền sinh chúng ta là nhà khoa học tâm linh, thực nghiệm nội dung tu và sống ngay trên thân tâm của chính mình. Nội dung ấy bao gồm thiểu dục tri túc, nâng cao sức khoẻ thể chất và tinh thần, lao động có hiệu quả bằng trình đôï và khả năng sẵn có; và đặc biệt hơn cả, là chánh niệm tỉnh giác, an trú trong hiện tại.

Thật sự, cái thực tại đầy sống động nhưng bất động mới là Niết-bàn thường trụ. Đức Phật khi nói pháp, bất động trong hiện tại nên mới bảo : Như Lai thuyết pháp; các Thánh đệ tử nghe pháp, an trú trong hiện tại nên gọi Như thị ngã văn. Tất cả chúng ta an trú trong hiện tại, phát hiện những điều kỳ diệu trong cuộc sống bình thường nầy, ấy là Hiện pháp lạc trú, danh từ Phật dạy trong kinh A-Hàm. Hiện pháp là thực tại hiện tiền, lạc trú là niềm vui vững chãi. Và khi ta nhận ra thể tánh thanh tịnh, miên mật sống với bản tâm, ta sẽ thản nhiên trước mọi hoàn cảnh thịnh suy thuận nghịch, mọi biến chuyển của cảnh vật và lòng người. Dòng nước pháp từ Linh Sơn qua Tào Khê đến ngày nay vẫn còn lưu nhuận, lý tưởng giác ngộ giải thoát của người tu chúng ta không bao giờ biến đổi, cho dù sông cạn đá mòn:

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ!
Nho gia có câu: “Thuận thiên giả dĩ tồn, nghịch thiên giả dĩ vong”. Sống thuận theo thiên lý, hồn nhiên xứng với tự tánh thì tồn tại, còn dối gian với mình với người là nghịch ý trời, sớm muộn gì cũng tiêu vong. Con người đạo đức phải biết sống vì người, quên bớt lợi ích cá nhân để phục vụ cho hạnh phúc của cộng đồng. Tin sâu nhân quả là vận hành của thiên tính, càng quên giả thân thì càng sống thuận với chân thân. Những gì ta có hôm nay, từ bản thân đến những sở thuộc, đều không vĩnh viễn thường còn. Cho nên sống ở đời quan trọng là biết ân tình ân nghĩa, biết cư xử cho hợp lòng người. Thiền sinh biết đạo vừa miên mật trong pháp tu, vừa vun bồi hạnh phúc cho gia đình, vừa làm tròn trách nhiệm đối với quốc gia, xã hội. Những trách nhiệm ấy, nếu chúng ta thực hiện vẹn toàn, tức chúng ta đã góp phần làm Phật pháp xương minh, bởi vì phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Biết sống đúng sống đẹp như thế, ta có thể an nhàn không hối tiếc khi lìa đời, như một nhà văn đã nói: “Lúc sinh ra, ta khóc trong khi mọi người đều cười. Làm sao khi ta nhắm mắt, ta cười trong khi mọi người đều khóc”.

II- NỘI DUNG THIỀN TẬP:

1- Lộ trình tâm linh:

Trong Bát Chánh đạo, đi đầu là Chánh kiến. Người tu trước tiên phải nắm vững phương pháp hành trì, như người đi đường trước khi khởi hành phải nghiên cứu lộ trình và nơi đến. Nếu không có kiến giải chơn chánh, tu hành theo chánh pháp, thì dù cực khổ công phu đến mấy cũng không đạt được mục đích cuối cùng, đôi khi lầm lạc vào đường tà lối rẽ. Dĩ nhiên, mỗi người có căn cơ, trình độ, sở thích khác nhau, nên sự chọn lựa pháp tu là do tâm ý của riêng mình. Kinh nghiệm tu tập cũng mang tính cách cá nhân, như mỗi bông hoa có một dáng vẻ, một hương thơm khác nhau, nhưng đều chung sức tỏa sắc khoe hương cho vườn hoa tập thể.

Thiền sinh theo dõi từng vận hành của tâm niệm, thấy chúng khởi lên và diệt đi, không còn dấu vết. Biết rõ chúng là hư dối không thật, ta không theo chúng, tự nhiên tâm liền an. Nhận diện tiến trình sinh diệt của vọng niệm là bước đầu của con đường thiền tập; trong đó, nhận ra bộ mặt của vọng là điều kiện đầu tiên tối cần để chiến đấu và chiến thắng giặc phiền não. Một vị tướng tài muốn trăm trận trăm thắng, phải biết rõ ta và địch. Giặc phiền não có tâm vương tâm sở, trận chiến ngay tự thân là trận chiến ác liệt nhất, nếu ta không nhận diện được giặc thì làm sao có chiến tích lẫy lừng? Đây lại là cuộc trường chinh gian khổ, vì tập khí phiền não tích tụ biết bao đời kiếp, không phải một ngày hai ngày là xong việc. Pháp môn tri vọng là lối chăn trâu trong nhà Thiền, có nhiều mức đôï từ thấp đến cao(5).

Chánh niệm là công phu ở mọi nơi mọi lúc. Thiền sinh duy trì sự tỉnh giác thường xuyên, luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, nhận rõ sự động dụng của thân, sự biến đổi của tâm và sự vô thường của cảnh. Chỉ cần biết rõ tất cả mà không khởi niệm hay cưỡng chế mọi sự việc theo ý mình. Chánh niệm tự động soi sáng và chuyển hoá mọi cảm thọ ở thân và những phiền não cấu nhiễm trong tâm, như ánh nắng chiếu vào nước đá, tự nhiên nước đá tan chảy dù ánh sáng không cố ý mong cầu.

Kiến tánh là kiến chiếu vào tận thể tánh của chính mình. Hành giả nhận ra con người thật, con người nguyên thủy trước khi cha mẹ sinh ra. Kiến tánh là trở về cái uyên nguyên của vũ trụ nhân sinh; cái không thể dùng ý thức tưởng tượng nhưng luôn luôn hiện hữu; cái không hình tướng nhưng trùm khắp và không sanh không diệt; cái tịch lặng muôn đời nhưng chiếu soi tận cùng pháp giới. Trở về thể tánh chơn thật ấy, hành giả đã có chỗ y cứ chung thân, đời tu không còn lui sụt nữa.

2- Thiền tập trong mọi hoàn cảnh:

Trước tiên, chúng ta nên nhận định rằng Thiền không phải chỉ là toạ, nên tu Thiền không chỉ ở lúc ngồi. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu khi tâm ta còn lăng xăng đa sự, toạ thiền là công phu cần thiết và cơ bản giúp ta dễ định tâm hơn cả. Một số người dùng lời dạy của Lục Tổ, hoặc chủ trương Thiền là phải sống trong từng giây phút để bài bác việc tọa thiền. Đây là một điều lầm lẫn lớn lao. Đức Phật mỗi sáng sớm trước khi đi giáo hoá, Ngài đều tọa thiền, sau đó xét căn cơ trình độ của những người hữu duyên Ngài sẽ gặp, để chỉ dạy phương pháp tu thích hợp. Một số vị Tổ sư không chủ trương tọa thiền để đối trị sự cố chấp của môn đệ, cho tọa thiền là cứu cánh. Những phương tiện giáo hoá của các Ngài lập bày chỉ vì đương cơ và chỉ thích hợp với đương thời; ngày nay chúng ta lại áp dụng vào mọi nơi mọi lúc, e có khi không hợp lẽ.

Lúc tọa thiền mà có âm thanh hay tiếng động ồn ào bên ngoài, ta vẫn biết nhưng không duyên theo tiếng hoặc sanh tâm bực bội. Những cảnh tượng quấy rầy lúc đầu làm trở ngại, nhưng đó cũng là cơ hội để ta tu trong nghịch duyên. Tuy thế, không nên cố ý tạo nghịch duyên như tự mình mở nhạc hoặc băng thuyết pháp lúc đang tọa thiền, vì thiền không chủ ý chủ tâm. Trường hợp này thường gặp trong gia đình các Phật tử đông người, không có không gian riêng cho mình tu tập. Ta có thể khắc phục hoàn cảnh bằng cách chọn giờ yên tĩnh hoặc một nơi thích hợp cho công phu thiền tọa, kết hợp với thiền hành.

Tọa thiền là công phu trong lúc tĩnh; tiến thêm một bước là tập tu trong khi động, theo tinh thần của Chánh niệm hay làm việc gì chỉ biết việc đó. Trong ngày, lúc thuận tiện ta có thể thiền hành trong phòng, trên sân thượng, trên đường vắng hay ngoài bãi biễn ..., vừa đi vừa hít thở không khí trong lành, chánh niệm trên từng bước chân, Thiền hành là lối công phu có tính cách tự do, không theo nguyên tắc cố định. Đơn giản là ta đi bách bộ một cách chậm rãi, không có đích đến. Lúc đi ta biết mình đang đi, cái biết này chỉ mới trên bề mặt ý thức nhưng là khởi đầu cần thiết. Tâm tĩnh lặng, ta thấy an lạc hạnh phúc nơi từng bước chân. Đến khi đi chỉ biết là đi mà không còn ngã tướng, thì tuy chân vẫn bước mà ý niệm đi biến mất. Đi trong trạng thái vong ngã thì tức khắc ta đi vào bản thể của chính mình. Đi thẳng vào bản thể hoàn toàn trái ngược với sự đi quanh của ngã tướng; điều này khó nói cho người khác hiểu, chỉ nhờ công phu mới tự mình thầm nhận.

Trong một nhóm tu hành, ta có thể tổ chức những bữa cơm nhiếp tâm. Duy trì chánh niệm trên từng động tác, nghĩa là đang gắp, nhai, nuốt ...ta đều biết rõ nhưng không chia nhỏ những động tác ấy. Ví dụ, trong trí ta cứ thầm nhủ theo từng cử chỉ “gắp-gắp lên miệng - bỏ vào miệng – nhai – nhai - nuốt...” thì những động tác ấy không thể nào tự nhiên được. Các món ăn đặt trên bàn, ta có thể gắp một cách từ tốn tự nhiên, vị chua cay ngọt mặn thế nào ta đều biết. Không phải khi ăn không cần biết ngon dở, vì như thế trởû thành vô tri, dần dần quên mất sự sống. Ta có quyền thấy nghe hay biết tất cả, nhưng điều quan trọng là không sanh tâm khen chê ưa ghét, như thế sẽ không xa rời cuộc sống, mới có cơ hội phát sinh Tri kiến Như thật.

Mặt khác, trong những công việc hàng ngày, chỉ cần tỉnh thức chú tâm vào mọi động tác, vào công việc làm. Khi ta quét nhà, chính sự quét nhà là niềm an lạc, nếu ta không xen vào những tư tưởng phức tạp của ý thức. Khi ta nấu cơm, rửa chén, cuốc đất ... cũng vậy. Nấu cơm để nấu cơm, rửa chén là để rửa chén. Chỉ chú tâm vào việc đang làm, việc làm ấy sẽ được chu toàn, năng suất cao, kết quả tốt; và đặc biệt, nơi hành động đã là mục đích, nơi phương tiện đã là cứu cánh. Như thế, Thiền là sự sống trong mọi sinh hoạt bình thường.

Các huynh đệ đồng tu thường có những buổi pháp đàm, trao đổi những kiến giải và kinh nghiệm trong công phu. Những cuộc trao đổi như thế rất hữu ích, với điều kiện phải có tinh thần hòa ái hoan hỉ, mục đích giúp nhau cùng tu tiến chứ không phải tranh luận hơn thua. Nếu không theo tinh thần Tam hòa(6), dễ gây mất sự đoàn kết nội bộ. Khổng Tử nói: “Tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sư”, ba người cùng đi ắt có người làm thầy ta. Ta có thể học được tất cả mọi người, kể cả những người nhỏ tuổi hơn, yếu kém hơn ta. Có người thường thích phát biểu trước tập thể để chứng tỏ mình tu hay hơn, hiểu biết hơn người khác; có người bảo thủ, luôn cho ý kiến của mình là đúng, không chấp nhận những ý kiến trái ngược... Tất cả đều là hành tung của bản ngã. Người có ngã chấp quá lớn không thể tiếp thu gì thêm, như ly nước đã đầy, không rót được thêm vào. Từ đó, đường tu dần dần đi xuống mà không hay biết. Thiền tông nói lên được cái tinh hoa của đạo Phật nên rất thành tựu về mặt truyền pháp, nhưng do chỉ dạy quá thẳng tắt nên nhiều người tưởng hiểu lý Thiền là xong việc, lấy sự hiểu bằng ý thức làm lẽ sống mà không tinh cần công phu, cuối cùng từ hay chuyển sang dở. Thiền sinh chúng ta nên cảnh giác đối với bệnh khẩu đầu thiền, một bệnh phổ biến của những người nói nhiều làm ít. Tu là phải thúc liễm thân tâm, thận trọng trong từng lời nói và tỉnh giác trong từng hành động, lại cần nói ít hơn những điều mình đã thấy. Người có công phu thiền tập tự nhiên sẽ có một phong cách đặc biệt, trầm tĩnh đúng mực từ lời nói đến việc làm.

Các bậc hiền sĩ ngày xưa thường chủ trương Thà chết vinh hơn sống nhục. Danh dự nhiều khi quý giá hơn tài sản, tính mạng. Nhưng làm sao trong vinh dự được tôn xưng mà ta không ngã mạn cống cao, thì có lúc nào đó bị người khinh chê, ta sẽ không quá buồn khổ. Gặp lửa nóng ta biết ngay mà tránh, còn nước mát lại dễ làm mất cảnh giác, chết đuối lúc nào không hay. Nghịch cảnh như lửa nóng, người tu dễ thức tỉnh nhớ xoay lại mình, còn cảnh ấm êm thuận thảo đôi lúc gây kiêu ngạo. Cho nên nhà Thiền không sợ thất bại, mà lại ngại sự thành công; vì chính thất bại là nghịch duyên cần thiết để hành giả có thêm kinh nghiệm tự thân, biết mình còn xấu dở mà tinh cần tu học.

Có một điều tế nhị chúng ta cần lưu ý: Một hôm nào đó ta gặp một người dáng vẻ tu hành mẫu mực, sống trong cảnh bần hàn và luôn chê bai xem thường danh lợi. Tiếp xúc với người ấy đôi lần, ta rất ngưỡng mộ và muốn tôn làm thầy dạy đạo. Nhưng cần tỉnh táo sáng suốt nhận định rõ vấn đề. Ngụ ngôn Pháp kể chuyện con cáo chê chùm nho xanh, không đáng để nó bỏ công hái. Nhưng thật ra, vì chùm nho trên cây cao quá, cáo ta năm lần bảy lượt nhảy lên mà không với tới, nên mới ra bộ chê bai. Đó chỉ là tâm lý phản ứng trước một thứ mà mình không thể có dù thâm tâm rất muốn. Trong đời, chúng ta có thể gặp rất nhiều hình ảnh “con cáo và chùm nho” như thế.

Cổ đức nói:
Phiền não khởi giai do đa sự
Thị phi sanh dĩ thị đa ngôn.

Con người chúng ta không nhiều thì ít đều có những ham muốn đam mê. Chính sự ham muốn tạo thành kiết sử, trói buộc và sai khiến ta phải tìm mọi cách thỏa mãn; đạt được lại muốn nhiều hơn, không đạt khởi sanh sân hận. Nhu cầu bản thân càng cao thì phải ôm đồm nhiều việc, phiền não càng lẫy lừng. Con người trở thành nạn nhân cho chính dục vọng của mình, ngày càng bất an, thần kinh căng thẳng đưa đến những hậu quả khó lường. Lại nữa, khi ngồi với nhau, thường thì chúng ta hết bàn sự phải quấy lại đến chuyện đông tây kim cổ. Nhưng bàn chuyện người thì có ích gì cho mình, càng nói nhiều càng lắm thị phi. Chúng ta có mâu thuẫn là muốn bình an nhưng lại thích luận bàn thế sự, lại thấy rõ cái dở của người mà không biết tìm khuyết điểm nơi mình. Chúng ta tu là chấp nhận những điểm yếu của mình một cách thẳng thắn, và sửa đổi để ngày càng hoàn thiện. Ta nhận định mọi người mọi vật bằng cặp mắt khách quan, không thần tượng hoá người nào, không lý tưởng hoá vật gì. Trên đời không có cái gì tuyệt đối, không chỉ có thầy mình là hay nhất, không chỉ có pháp tu của mình là đúng nhất. Những cái nhìn thiển cận biên kiến là tư tưởng cục bộ chủ quan, làm đóng khuôn và che mờ thực tại. Đạo Phật là đạo trí tuệ, người con Phật phải có chánh kiến, nhìn mọi vấn đề một cách toàn diện và bao dung được mọi tư tưởng lập trường khác biệt. Từ đó, ta có thể hòa đồng với mọi người và chịu đựng mọi hoàn cảnh mà vẫn giữ bản chất, phong thái riêng của mình.

Thiền sư Vạn Hạnh có bài kệ nổi tiếng:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu vô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Nghĩa:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu nhuốm hồng.
Mặc cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.

Khi biết vạn pháp đều không thật, đều vô thường, thì sự thăng trầm thịnh suy của cuộc sống đối với các Ngài như hạt sương trên đầu ngọn cỏ. Chúng ta chưa được tự tại như các Ngài, nhưng nhờ công phu thiền tập, ít nhiều cũng có sự trầm tĩnh. Trước khi quyết định một việc gì, ta suy nghĩ chín chắn, xử thế có lý có tình và có lập trường vững chắc. Ta không từ nan việc gì trong khả năng mà có ích cho đời, làm nhưng không dính mắc vướng bận. Đời sống của ta sẽ có ý nghĩa dù thọ mạng ngắn hay dài; ta hiến dâng nhiều bao nhiêu thì sự an lạc hạnh phúc đến với ta tương đương như thế.

Một số thiền sinh thường thắc mắc: Trong cuộc sống, ai cũng phải tính toán lo toan cho bản thân, cho gia đình. Người tu càng nhiều việc sắp xếp, tổ chức trong tự viện và những việc Phật sự bên ngoài. Suốt ngày suy tính bận bịu như thế có trái với tôn chỉ nhà Thiền là vô sự vô tâm?. Các bậc ngộ đạo cũng trăm công nghìn việc, nhưng các Ngài sắp xếp việc nào ra việc ấy, tính xong rồi buông xả, nên các Ngài làm tất cả mà cũng như không làm. Chúng ta học theo các Ngài, cũng phải lo toan cho cuộc sống hàng ngày một cách chu đáo, làm tròn mọi trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, nhưng không dính mắc, thì dù đa sự mà vẫn không phiền não.

3- Một vài ngộ nhận trong công phu:

* Có người cho rằng, tu hành là phải tránh bớt duyên khi chưa triệt ngộ, nên chủ trương tự tu tự học khi đã biết cách dụng công. Đây là một quan niệm hữu lý, có cơ sở, nhưng nếu ta cố chấp lại sinh ra cực đoan. Ngày xưa, các vị Thiền sư khi kiến tánh, thường vào núi rừng ẩn tu một thời gian gột sạch tập khí, sau đó mới vào cuộc đời giáo hoá chúng nhân. Ngày nay, chúng ta không thể sống một mình nơi hoang dã, uống nước suối ăn trái rừng qua ngày, chưa kể lúc ốm đau hoặc chướng duyên làm trở ngại. Vì thế, phần đông chúng ta đều chấp nhận cuộc sống chung cùng bạn lữ, tuy kết quả không nhanh chóng bằng người xưa, nhưng được lợi là giúp mình giúp người. Mặt khác, nếu nắm vững pháp tu, trong lúc động lại tiến nhanh hơn khi tĩnh. Cùng sống với tập thể, một mặt ta giúp được người đi sau, mặt khác ta nương vào người để củng cố lòng tin, ý chí, để được bảo vệ trước những cám dỗ của ngũ dục. Nhiều người thích tu nơi vắng vẻ, một thời gian tưởng mình đã xong việc, không ngờ khi trở về thế gian lại sanh phiền não, có trường hợp sa ngã, uổng một đời tu. Đây không những là kinh nghiệm đối với người xuất gia, mà còn cho những đạo tràng cư sĩ tại gia.

* Có người hiểu lầm chỉ có tọa thiền mới là tu, nên xem thời gian tọa thiền trong ngày là chuẩn mực đạo đức. Thật ra, khi mới phát tâm, tọa thiền giúp ta dễ an định tâm, do các căn ít tiếp xúc với trần cảnh. Nhưng trong các giai đoạn sau, khi công phu đã thuần thục, ta cần tu trong mọi thời khắc, mọi nơi chốn, mọi oai nghi. Các Thiền sư, khi trả lời câu hỏi “Thiền là gì?”, thường bảo “Dưới gót chân ông” hoặc “Trong thân chỗ nào không có máu?”. Lục Tổ chủ trương kiến tánh chứ không chủ trương tọa thiền, vì chưa kiến tánh thì chưa bước chân vào cửa Thiền tông.

* Một số thiền sinh quan niệm Thiền là cắt đứt mọi hoạt động tâm lý. Đây là lối tu theo kiểu đá đè cỏ, luôn phải chú tâm đè nén vọng tưởng nên hành giả rất sợ cảnh sợ duyên, không có sự sáng tạo và sức sống riêng cho chính mình; đến khi gặp chướng ngại không biết làm cách nào để tránh. Có người lại hiểu Thiền qua sách vở, nghĩ Thiền dễ tu dễ chứng, chưa gì đã tự tôn xưng, thỏng tay vào chợ. Thật là một lầm lẫn tai hại, sao khỏi đọa vào khổ xứ? Tất cả ngôn từ, dù cao siêu hoa mỹ đến đâu, cũng không diễn đạt đến lẽ thật. Muốn ngộ lý Thiền, ta phải khéo thông qua ngôn ngữ mà thầm lãnh hội thực tại phi ngôn. Thiền là đời sống tự mình kinh nghiệm, tự thấu triệt ngay từ những điều bình dị đơn giản nhất.

* Đức Phật bảo “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, ấy là muốn sách tấn hàng môn đệ, vì quả thật mỗi chúng sanh đều có mầm mống giác ngộ. Không có nhân thành Phật, không thể nào chúng ta tu đến quả vị cuối cùng. Nhưng nếu chúng ta hiểu đơn giản rằng, chữ “sẽ thành” có nghĩa là một tương lai nào đó, thì vô hình trung ta có sự vọng cầu mong mỏi. Như thế là không hợp lý đạo. Phật là Phật tâm tại hiện tiền, chứ không phải là một Đấng Cứu thế bên ngoài hay một quả vị Phật ở thời điểm nào xa xôi. Người tu thiền có tâm mong cầu kết quả, có khi công phu thấy cảnh lạ lại khởi lòng vui mừng hay sợ hãi, thường dễ phát sinh bệnh tật, điên cuồng. Đây là điều chúng ta cần thận trọng ghi nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn