Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

1. Bích Nham Lục Giải Đề

22/04/201106:16(Xem: 2910)
1. Bích Nham Lục Giải Đề

BÍCHNHAM LỤC
Tác giả: Thiền sư Viên Ngộ - Việt dịch: HT. Thích Thanh Từ
Tu viện Chân Không 1980

BÍCHNHAM LỤC GIẢI ĐỀ

BíchNham Lục do Thiền sư Viên Ngộ đời Tống trước tác, nguồngốc của nó xuất phát từ Thiền sư Tuyết Đậu. Tuyết Đậuchọn lựa trong Nội điển, Ngoại điển và Văn sử một trămtắc công án, dùng âm vận tụng ra chỗ sâu kín của Thiền,làm tư lương cho những người tham học trong các tòng lâm,gọi là Tuyết Đậu Tụng Cổ. Thiền sư biện tài vô ngại,là nhà văn hào một thời, đủ chánh nhãn siêu cách, thậtlà một Cao tăng xưa nay ít thấy. Những lời tụng này, nhiềukhách giang hồ truyền nhau, khen là một tuyệt tác trong thiênhạ. Song lời gọn ý sâu, chẳng khác núi bạc, vách sắt.Thiền khách khó nhọc nghiên tầm phân tích, như con muỗi cắntrâu sắt, không có chỗ cắm mỏ. Sau khi Tuyết Đậu tịchhơn sáu mươi năm, khoảng niên hiệu Chánh Hòa (1111-1114) đờiTống Huy Tông, Thiền sư Viên Ngộ lúc ở viện Linh Tuyền,Giáp Sơn, Lễ Châu, vì học giả đem một trăm tắc Tụng cổnày mỗi mỗi chú thích. Ở đầu mỗi tắc là Thùy thị (lờidẫn), kế Công án (bản tắc), sau câu Tụng cổ mỗi chỗphụ Trước ngữ, tiếp Bình xướng. Sư chọn lọc chỗ uyênnguyên, chia chẻ thâm lý, phát huy huyền vi, tuyên bố phátdương tông chỉ truyền riêng, chỉ thẳng rất khéo, rất tột.

Vềsau, khoảng niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130) đời Tống Cao Tông,đồ đệ của Sư là Phổ Chiếu… biên chép lại để tênlà Bích Nham Lục. Bởi vì tấm bảng trên ngạch trượng thấttại viện Linh Tuyền đề là Bích Nham. Thiền sư Viên Ngộbiện tài siêu xuất, văn chương tuyệt vời nên tên Bích Nhamđã làm dư luận chấn động một thời. Song sau khi Thiềnsư tịch, đệ tử chỉ nhớ tụng ngôn cú trong sách làm nhuyếu biện luận tri giải, phản lại bản nghĩa “Giáo ngoạibiệt truyền, bất lập văn tự”. Thiền sư Đại Huệ TôngCảo là đệ tử nối pháp Viên Ngộ, thấy tệ ấy buồn than,bèn mang bản gỗ chất trước sân chùa cho một mũi lửa thiêusạch, dứt lưu truyền ngang đây. Ngót hai trăm năm sau, trongtòng lâm ít ai thấy được quyển sách này.

Khoảngniên hiệu Đại Đức (1297-1307) vua Thành Tông nhà Nguyên, ởNgung Trung, cư sĩ Trương Minh Viễn (tên Vĩ) góp nhặt các bảncòn cất giữ mọi nơi, tham giảo bổ túc qua lại cho khắcbản, phụ bản có cư sĩ Vạn Lý, Hưu Hưu, Tam giáo Lão nhân,mỗi người viết tựa, ở sau Phương Hồi Tịnh Nhật, Hy Lăngmỗi người viết lời bạt. Quyển sách này lại được ramắt độc giả, đáng gọi là quyển sách bậc nhất trong tôngmôn. Thiền khách khắp nơi quí trọng, thích đọc, lưu truyềnsâu rộng cho đến ngày nay.

BíchNham Lục nguyên tác của Thiền sư Tuyết Đậu, cháu đờithứ tư trong tông Vân Môn, đệ tử truyền pháp của Thiềnsư Trí Môn. Sư tục danh là Lý Trùng Hiển, tự là Ẩn Chi,sanh năm thứ năm niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (978) nhà Tống,tại Toại Châu. Khoảng niên hiệu Hàm Bình (998-1003), cha mẹmất hết, Sư vào viện Phổ An xuất gia với hóa chủ NhânSăn. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư tham học khắp các kinh luận.Kế xả giáo môn, Sư đi tham vấn Thiền sư Thông ở ThạchMôn Nhượng Dương, ở lại ba năm mà cơ duyên chẳng hợp.Sư đến tham vấn Thiền sư Tộ ở Trí Môn Tùy Châu, liềnđược thừa kế pháp ở đây. Sư sang đạo tràng của Thiềnsư Lâm ở Lô Châu, lại đến chùa Cảnh Đức Trì Châu nhậnchức Thủ tọa. Sau Sư dạo Hàng Châu, trụ tại chùa ThúyPhong ở Động Đình Tô Châu, rồi dời sang Minh Châu ở chùaTư Thánh núi Tuyết Đậu. Núi Tuyết Đậu là đạo tràng củaThiền sư Trí Giác, Sư ở đây ba mươi mốt năm, học giảkhắp nơi đua nhau nhóm họp dưới tòa. Thiên Y Nghĩa Hoài,Xưng Tâm Tỉnh Tông… hơn bốn mươi người, hàng long tượngxuất hiện, quả là thời tông Vân Môn trung hưng vậy. Thịtrung Cổ Công tâu về triều, vua ban hiệu Sư là Minh Giác ĐạiSư. Niên hiệu Hoàng Hựu năm thứ tư (1052) ngày mùng mườitháng sáu, Sư thị tịch thọ bảy mươi ba tuổi, năm mươituổi hạ. Những sách do Sư trước tác có: Bách Tắc TụngCổ, Bộc Tuyền Tập, Tổ Anh Tập, Khai Đường Lục, ThậpDi… lưu hành ở đời.

Tácgiả Bích Nham Lục là Thiền sư Viên Ngộ ở Giáp Sơn, cháuđời thứ mười tông Lâm Tế, tên Khắc Cần, tự Vô Trước,con nhà họ Lạc ở huyện Sùng Ninh, Bành Châu. Gia thế chuyênnghiệp Nho, thuở nhỏ Sư nhớ giỏi, một ngày học thuộccả ngàn lời. Sư dạo chùa Diệu Tịch thấy sách Phật cócảm khái, liền xin xuất gia. Sư theo Pháp sư Văn Chiếu nghegiảng, đến Tọa chủ Mẫn Hành học kinh Lăng Nghiêm. Sangtham thiền, đến Thiền sư Hạo ở Ngọc Tuyền, Thiền sưTín ở Kim Loan, Thiền sư Hiệt ở Đại Qui, Thiền sư TửTâm ở Hoàng Long, Thiền sư Độ ở Đông Lâm, các nơi đềucho là pháp khí. Thiền sư Hối Đường ở Hoàng Long đặcbiệt khen “ngày sau phái Lâm Tế sẽ y nơi ông mà hưng thạnh”.

Rốtsau, Sư đến Kỳ Châu tham vấn Thiền sư Pháp Diễn ở núiNgũ Tổ, liền được kế thừa dòng pháp ở đây. Niên hiệuChánh Hòa năm đầu (1111), Sư nhận lời thỉnh của TrươngVô Tận đến trụ trì viện Lễ Tuyền tại Giáp Sơn, bìnhxướng Bách Tắc Tụng Cổ của Tuyết Đậu, phát huy huyềnvi, thật ở lúc này. Khoảng niên hiệu Sùng Ninh, Sư dời đếnĐạo Lâm phủ An Sa, Khu mật Đặng Công Tử Thường tâu vềtriều, vua ban tử y và hiệu Phật Quả. Vua Huy Tông triệuSư trụ trì Kim Long Tương Sơn, học giả tấp nập kéo đến,khiến môn phong chấn thế. Vua lại sắc Sư trụ trì ThiênNinh Vạn Thọ, niên hiệu Kiến Viêm năm đầu (1127) dời trụKim Sơn ở Trấn Giang. Gặp lúc vua Cao Tông đi dạo Dương Châumời Sư vào cung đối đáp, Vua ban hiệu là Viên Ngộ ThiềnSư. Kế Sư dời đến Vân Cư Giang Tây trụ trì chùa ChiếuGiác. Tháng tám niên hiệu Thiệu Hưng thứ năm (1135), Sư cóchút ít bệnh rồi tịch, vua sắc thụy là Chân Giác. Phầntrước tác của Sư có: Bích Nham Lục, Ngữ Lục hai mươi quyển,Viên Ngộ Tâm Yếu hai quyển, Kích Tiết Lục ba quyển. Nốipháp Sư có Đại Huệ Tông Cảo, Hổ Khưu Thiệu Long… hơnhai mươi vị, gọi là trung hưng tông Lâm Tế.

TỰAI

Mạngmạch bậc chí thánh, đại cơ của liệt Tổ, thuốc hay hoáncốt, thuật diệu nuôi thần, chỉ Thiền sư Tuyết Đậu cóđủ chánh nhãn siêu tông việt cách, đề cao chánh lệnh, chẳngbày khuôn phép, cầm kiền chùy nấu Phật luyện Tổ, tụngra cái lỗ mũi hướng thượng của Thiền khách. Núi bạc váchsắt, ai dám dùi mài, con muỗi cắn trâu sắt không có chỗcắm mỏ. Không gặp thợ tài đâu thấu chỗ huyền vi. XứViệt có Phật Quả Lão Nhân, lúc ở Bích Nham, học giả khônghiểu thưa hỏi, Lão Nhân thương xót vạch bày chỗ uyên nguyên,chia chẻ thâm lý, nêu lên chỉ thẳng, chẳng lập kiến tri,một trăm tắc công án từ đầu quán xuyến làm một, cácbậc Trưởng lão thứ lớp thảy xét qua. Nên biết ngọc bíchnước Triệu vốn không tỳ, Tương Như dối gạt vua Tần.Chí đạo thật không lời, Tông sư thương xót cứu tệ. Nếuthấy như thế, mới biết tột tâm lão bà. Hoặc là nệ câukẹt lời, chưa khỏi diệt dòng họ Phật. Phổ Chiếu hânhạnh hầu Sư dưới gối, được nghe điều chưa nghe, bạnđạo chung họp thành, biên gọn lại, dùng lời vụng về viếttựa sau chót.

Bấygiờ niên hiệu Kiến Viêm năm Mậu Thân, ngày ba mươi cuốixuân, đệ tử tham học Tỳ-kheo Phổ Chiếu kính tựa.


TỰAII

Từkinh Tứ Thập Nhị Chương truyền vào Trung Quốc mới biếtcó Phật. Từ Tổ Đạt-ma đến Lục Tổ truyền y mới cóngôn cú. Nói “Bản lai vô nhất vật” là Nam tông, nói “Thờithời cần phất thức” là Bắc tông. Khi có Thiền tông liềncó Tụng cổ lưu hành ở đời. Đồ đệ kia có lối lậtbàn, chê Phật quở Tổ, không gì chẳng làm. Trong ấy, cóngười đạt được hoạt pháp của thi gia nhà ta, song đãnói “Đệ nhất nghĩa đâu dùng ngôn cú”. Tuyết Đậu, ViênNgộ tâm lão bà tha thiết, Đại Huệ cho một mũi lửa thiêusạch. Ở Ngung Trung, Trương Vĩ Minh Viễn nhóm lại đống trotàn, tái bản lưu hành, cũng đáng gọi là tâm lão bà tha thiếtấy vậy.

Niênhiệu Đại Đức thứ bốn (1300) năm Canh Tý, ngày mùng támtháng tư Quí Sửu, núi Tử Dương Phương Hồi Vạn Lý tựa.


TỰAIII

BíchNham Lục do Thiền sư Viên Ngộ trước thuật, đệ tử lớncủa Sư là Thiền sư Đại Huệ đốt sạch. Các pháp thếgian đều kỵ chấp trước, chỗ qui kính của Thích tử khôngai bằng Phật mà có khi vẫn phải quở. Bởi có ta mà khôngkia, do ta mà không do kia vậy. Bỏ mình theo vật ắt phải mấtmình. Phàm tâm với đạo là một, đạo cùng vạn vật làmột, đầy dẫy thái hư, có cái gì mà chẳng phải đạo.Người tầm thường xem đó, hay thấy cái bị thấy, mà chẳngthấy cái chẳng bị thấy. Tìm cầu nơi người, mà ngườivì nói đó, như Đông Pha dụ mặt trời [Tô Đông Pha nói:Như người bệnh mắt, tìm thầy thuốc trị cho con mắt sáng.Thầy thuốc bảo: Tôi chỉ có thuốc trị bệnh mắt, chớkhông có thuốc làm sáng mắt. Con mắt làm sáng được, lạiphải bị tối. (Trí Chứng Truyền - trang 341 tập 1)], tìm quakiếm lại càng xa càng mất. Từ Phu Tử của ta, thể đạocòn muốn không nói, huống là nhà Phật là pháp xuất thếgian, mà có thể nơi văn tự ngôn ngữ tìm cầu được sao? Tuy nhiên cũng không thể bỏ, vì người trí ít, người ngunhiều, người học rồi ít, người chưa học nhiều. Đạitạng kinh hơn năm ngàn quyển, trọn vì người sau lập bày.Nếu khả dĩ quên lời, ông già Thích-ca lẽ ra phải ngậmmiệng, vì sao lại nói thao thao như vậy. Lý của thiên hạvẫn có trong tầm thường, mà vượt ra hình tướng tầm thường.Tuy dường dễ biết mà thật chưa dễ biết, chẳng nhờ ngườichỉ dạy thì trọn đời cũng không thể biết. Người xưanổi danh trong đời, chẳng phải bậc anh của ngàn người,cũng là bậc kiệt của muôn người. Kiếm Thái A là loạikiếm bén nhất trong thiên hạ, lên núi thì giết được cọp,xuống biển thì chém được rồng, người đời đều biết,trọn là như thế. Song cổ nhân có chỗ thiện dụng, nươngthành mà chiến, thuận gió mà huơi. Tam quân vì đó mà đạibại, máu tuôn đỏ cả ngàn dặm. Thế đâu chẳng do sở năngcủa một mình, lại còn nghi gì ư? Từ tôi nghe có quyểnsách này, rất mực tìm kiếm. Họ Trương ở Ngung Trung mớikhắc bản gỗ lại, đến mời tôi viết tựa, bèn trợ giúpđược thành tựu, lại vì đề ở đầu.

Niênhiệu Đại Đức thứ chín (1306) năm Ất Tỵ, ngày lành thángba, Ngọc Sầm Hưu Hưu cư sĩ, Liêu Thành Châu Trì, viết tạinhà trọ Quán Kiều sông Tiền Đường.


TỰAIV

Hỏi:Người làm thành và người tiêu hủy tập Bích Nham ai phải? Đáp: Đều phải. Từ Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc riêngtruyền tâm ấn, chẳng lập văn tự mà có các luận HuyếtMạch, Qui Không… quả thực ai làm đó ư? Cổ nhân nói: “Chẳngtại văn tự, chẳng lìa văn tự” là lời của người thậtbiết, đã khiến mọi người cuốn rèm (Cuốn rèm: TrườngKhánh Huệ Lăng) nghe bản, dựng ngón tay (Câu chi), chạm gótchân… sáng được đại sự, nào có văn tự chi đâu. Từđưa cành hoa cười chúm chím đến nay, cây phướn trướccửa ngã, về sau mới dính với ngôn cú. Chẳng có văn tựthì không lấy đâu truyền bá, thế là không thể bỏ vậy.Thường bảo sách của Thiền tông gọi là Công án, xướngtừ đời Đường mà thạnh ở đời Tống, đến nay vẫn còn.Hai chữ này trong pháp thế gian là thủ trát quan đòi, cáidụng nó có ba:

a.Xây mặt vào vách thành công, hành cước việc rồi, trái cânbàn thì khó rõ (một tiêu chuẩn cố định), loài dã hồ thìdễ đọa. Hàng cụ nhãn vì đó khám biện một quở một hét,cốt thấy lẽ thật, như lão quan cứ án luận tội, trong ấyhẳn thấy tình thật chẳng sót một mảy.

b.Từ Lãnh Nam mới về, Giang Tây chưa hớp nước, những lốitẻ mất dê dễ khóc, kim chỉ nam trên hải bàn hướng vềNam, vì lòng từ bi tiếp dẫn một gậy, một tát cốt khiếnchứng ngộ, như quan Đình Úy chấp pháp, không tội thì tha,có tội thì phạt.

c.Ăn lúa mạ khá nhiều, cọc cột lừa quá chặt, chí học dịchphải chuyên, màu tơ nhuộm dễ buồn. Đại thiện tri thứcvì đó phó chúc, theo tâm chết trên bồ đoàn, một độngmột tham, như quan phủ ra các điều lệnh, khiến người đọcbiết luật pháp, niệm ác vừa sanh xoay trở về tịch diệt.

Sáchcụ phương, tạo công án, bày cơ cảnh, làm cách lệnh, vớicác sách thế gian Kim Khoa, Ngọc Điều, Thanh Minh, Đối Việtban đầu nào có khác.

Tổsư sở dĩ lập công án lưu truyền trong tòng lâm là ý dụngnhư thế. Bởi vì thời mạt pháp về sau, người cầu diệutâm nơi giấy lau ghẻ, phó chánh pháp nơi miệng luận bàn,điểm hết quỉ thần vẫn không rời bộ sổ. Đứng dựacửa người mặc gọi anh chàng, kiếm rơi lâu rồi vẫn cònkhắc thuyền, thỏ chạy mất rồi mà không rời gốc cây,đầy bụng sắn bìm, hay hỏi ngôn chuyển ngữ, đối vớiviệc lớn sanh tử vẫn không can thiệp. Chuông kêu chảy cạn,sẽ dùng việc gì. Than ôi! Con linh dương mọc sừng đâu cóthể dùng hình tướng khắp tìm, người khéo học Liễu HạHuệ há bước cũng bước, chạy cũng chạy ư? Biết thế,ắt tâm hai lão nhân đều phải. Viên Ngộ tâm xót con thươngcháu quá nhiều nên niêm lại các tụng của Tuyết Đậu. ĐạiHuệ tâm cứu bị thiêu vớt chết đuối khá nặng, nên thiêusạch Bích Nham Tập. Đức Thích-ca nói Đại tạng kinh, rốtsau bèn bảo: “chẳng nói một chữ”, há dối ta sao? Tâmcủa Viên Ngộ là tâm của Phật nói kinh. Tâm Đại Huệ làtâm của Phật đẹp ngôn thuyết. Ở Vũ Lăng Nhan Tử dờichỗ đều như thế, xô đó, đẩy đó cốt vì xe đi mà thôi.Đến nay đã hơn hai trăm năm, ở Ngung Trung, Trương Minh Viễnlại khắc bản lưu truyền sách này, có phải là Tổ giáohồi xuân chăng? Hay đời có số chăng? Song lưu hành sáchnày thật quan hệ thâm trọng, nếu thấy nước cho là biển,nhận ngón tay làm mặt trăng, chẳng những ngài Đại Huệlo đó, mà Viên Ngộ cũng vì họ gỡ niêm mở trói. Ngườixưa tả chiếu có thơ rằng: “Rõ ràng trên giấy Trương côngtử, tận lực to lời gọi chẳng ừ.” Muốn xem sách này,trước phải tham lời này.

Niênhiệu Đại Đức mười lăm (1312) tháng tư năm Giáp Thìn, TamGiáo Lão nhân ghi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn