Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

20. Thiền Minh Sát và khủng hoảng môi sinh - Minh Thông, MSc dịch

16/05/201317:17(Xem: 979)
20. Thiền Minh Sát và khủng hoảng môi sinh - Minh Thông, MSc dịch


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
--- o0o --- 

Phần III

Phật giáo và các vấn đề hiện tại

--- o0o ---

THIỀN MINH SÁT VÀ KHỦNG HOẢNG MÔI SINH

Prof. Lily de Silva
Minh Thông, MSc. dịch

Phật giáo tin rằng tất cả những yếu tố như ý thức đạo đức, thân tâm con người, thế giới chung quanh như cây cỏ và muôn thú cùng yếu tố xã hội đều quyện chặt vào nhau qua mạn lưới nhân quả để tạo thành một hệ thống môi sinh có phản ứng và mẫn cảm về phương diện tâm lý.

Ô nhiễm môi sinh là điều đe dọa nghiêm trọng đối với sự sinh tồn của nhân loại trên hành tinh này. Nếu chúng ta không có những biện pháp giải quyết cụ thể và tức khắc thì hậu quả của vấn đề ô nhiễm môi sinh và sức tác động của tia tử ngoại do tầng ozone bị bào mòn sẽ mang đến một thảm họa tàn phá tương đương với sức tàn phá của chiến tranh nguyên tử, đó sẽ là điều không thể nào tránh khỏi. Nếu đem so sánh thì tỷ số mà con người tự làm cho môi trường sống của mình bị ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với khả năng con người có thể thanh lọc giúp cho nước và không khí tinh sạch trở lại. Ngày nay chúng ta hiểu được tai họa chúng ta đang đối diện, do đó chúng ta cần phải nỗ lực nghiên cứu khả năng bảo quản môi sinh. Chúng ta hiện chưa tìm ra được một giải pháp căn để cho vấn đề, chúng ta chỉ mới đang cố gắng lần mò vào vấn đề rắc rối to lớn có qui mô toàn cầu này bằng những vá víu manh mún có tính cách kỹ thuật.

Theo cách nhìn bằng giáo lý nhà Phật, ô nhiễm môi sinh chỉ là sự bộc lộ ngoại vi của một thực tế ô nhiễm luân lý nội thể đến mức độ khủng hoảng và báo động. Một số kinh điển Pali như Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Agganna Sutta, Trường Bộ KinhIII, số 80), Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống(Cakkhavatti-Sihanada Sutta, Trường Bộ KinhIII 58) cùng một số kinh khác trong bộ Tăng Chi Bộ Kinh(Anguttaranikaya, I. 160; II. 75) cho chúng ta thấy tệ nạn sa sút đạo đức tràn lan trong xã hội sẽ gây ra những sự thay đổi nghịch lý trong cơ thể con người và môi trường sống. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn(Agganna Sutta) nói sự sa sút đạo đức sẽ kéo theo sự sút giảm về vẻ đẹp nhân cách và thực phẩm ngoài thiên nhiên. Những hậu quả nghịch lý này chỉ là một phần hậu quả của sự sa sút đạo đức. Tội ác cũng sẽ gia tăng trong xã hội, để giải quyết những vấn nạn này, con người đã nỗ lực tổ chức những định chế xã hội thích hợp hầu giúp cho đời sống dễ chịu đựng hơn, yên ổn hơn và thoải mái hơn.

Phật giáo tin rằng tất cả những yếu tố như ý thức đạo đức, thân tâm con người, thế giới chung quanh như cây cỏ và muôn thú cùng yếu tố xã hội đều quyện chặt vào nhau qua mạn lưới nhân quả để tạo thành một hệ thống môi sinh có phản ứng và mẫn cảm về phương diện tâm lý. Từ thực tế đó đức Phật đã tóm tắt ngắn gọn trong bài kệ:

"Cittena niyyati loko cittena parikissati
Cittassa ekadhammassa sabbeva vasam anvaguti"

Cõi giới này do tâm dẫn dắt
Tâm lôi kéo cõi này lếch thếch mọi nơi
Tâm là một thực thể mà mọi vật đều bị sức mạnh của nó chi phối (Tương Ưng Bộ Kinh, I. 39).

Nếu chúng ta phóng dịch cụm từ "cittena niyyati loko" thành "cõi giới này vận hành nhờ tư tưởng con người," thì chúng ta có thể thấy rõ ràng song hành với chiều dài lịch sử bộ mặt của trái đất đã bị tư tưởng và kiến thức của con người thay đổi đến độ như thế nào. Vào thuở bình minh của nền văn minh nhân loại khi mà con người còn săn bắn và hái trái để ăn thì thiên nhiên không hề bị quấy phá. Cho đến thời kỳ canh tác ổn định thì chương trình dẫn thủy nhập điền được phát triển và bộ mặt thiên nhiên ở một chừng mực nào đó đã bị thay đổi. Cuộc cách mạng kỹ nghệ mang lại nhiều thay đổii hơn nữa bằng những công cuộc sản xuất đại quy mô và người ta triệt để khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Vào thế kỷ hai mươi, thế kỷ mà người ta vỗ ngực tự hào đã sản sinh đến 90% khoa học gia trong lịch sử nhân loại thì cũng đã sản sinh ra kỷ nguyên nguyên tử và không gian.

Quả vậy chúng ta có thể thấy được tư tưởng con người đã đem đến bao nhiêu là thay đổi to lớn đối với thiên nhiên, to lớn đến độ mà khả năng tinh lọc, trẻ hóa và phục hồi của thiên nhiên đã bị các hoạt động khai phá của con người cướp đi mất để sản sinh ra sự ô nhiễm và nghèo nàn sinh thái. Giải thích những sự kiện này theo cách nhìn Phật giáo chúng ta thấy nguyên nhân căn để gây ra những khủng hoảng này chính là lòng tham lam sự xa hoa, tài sản và quyền lực. Bộ óc con người phát triển không đồng bộ với trái tim và trách nhiệm đạo đức. Về phương diện tri thức, con người hiện đại có thể là một anh chàng khổng lồ, trong khi đó về phương diện cảm thức, con người hiện đại chỉ là một chàng lùn bị khánh tận hết cả tâm hồn. Một nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã nhận xét rằng con người hiện đại có một chân bị cột vào chiếc máy bay phản lực còn chân kia thì kẹt cứng vào chiếc xe bò.

Vì vậy, những hiện thực cụ thể và những ước vọng tương nghịch đã chia xé con người. Hơn nữa, tri thức con người thì hạn hẹp, con người thiếu hẳn khả năng nhìn thấy viễn ảnh của thái độ và hoạt động của mình, không thể nhìn ra hết được ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với sự an sinh của họ cũng như những hoạt động vật lý không ngờ đến được của thiên nhiên.

Thuyết thập nhị nhân duyên (Paticcasamuppada) của đức Phật cũng đề cập đến một nguyên tắc giống như vậy, đó là các yếu tố như tâm lý và vật lý, con người và thiên nhiên đều có liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng lại độc lập với nhau. Con người nương tựa vào thiên nhiên để sinh tồn, vì vậy người ta nói rằng: "Sabbe sata aharatthitika." Trên đường tìm kiếm thực phẩm và may mặc cùng cư ngụ và thuốc men, con người đã thay đổi môi trường theo khả năng kỹ thuật của mình. Thí dụ như con người thời hiện đại thì dùng phân hóa học, thuốc sát trùng và thuốc diệt cỏ dại trong nông nghiệp để tăng thu hoạch. Nhưng những hoạt động này lại tàn phá sự quân bình vi sinh trong thiên nhiên khiến nảy sinh hàng loạt những phản ứng nghịch lý khác, những phản ứng này đến lượt nó lại gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn cuộc sống.

Thực tế tương quan giữa người với thiên nhiên được chỉ rõ trong những luận phẩm về thuyết năm luật vũ trụ (Panca niyama dhamma). Năm luật đó là: Luật vật lý (Utuniyama), Luật sinh vật (Bijaniyama), Luật tâm lý (Cittaniyama), Luật đạo đức (Kammaniyama) và Luật nhân quả (Dhammaniyaama). Luật nhân quả hoạt động tàng ẩn bên trong và liên đới với bốn luật trước.

Do vậy, tất cả các luật vũ trụ, vật lý, sinh vật, tâm lý và đạo đức đều hỗ tương với nhau và con người nhận diện bạn hay thù, hạnh phúc hay đau khổ tùy thuộc vào tính chất của năng lượng đạo đức mà họ đã tạo tác. Nếu như năng lượng đạo đức thiện căn được ban rải, người ấy sẽ thấy an lạc và đời sống sẽ tương đối hạnh phúc cùng dễ chịu. Nếu năng lượng đạo đức bất thiện tràn lan, người ấy sẽ phải đấu tranh nhiều trong xã hội và cuộc sống sẽ gặp ngày càng nhiều trắc trở.

Thế kỷ thứ năm, thứ sáu trước công nguyên có thể được xem là một kỷ nguyên vô cùng may mắn, năng lượng từ thiện tuôn tràn mọi nơi trên trái đất nhờ những giảng dạy của các bậc thầy tâm linh vĩ dại như đức Phật, Jina Mahavira, Zoroastra, Khổng Phu Tử và Socrates. Thế kỷ thứ hai mươi dường như là một kỷ nguyên hoàn toàn ngược hẳn. Ngày nay tội ác, khủng bố và chiến tranh ngự trị khắp nơi. Đói kém và suy dinh dưỡng đang nuốt trững nhiều quốc gia trong thế giới thứ ba. Tại các quốc gia cường thịnh thì bệnh AIDS (liệt kháng) và những bệnh nhà giàu khác đang lan tràn. Tình trạng này khiến chúng ta nhớ đến lời khuyến cáo liên quan đến vận mạng nhân loại trong một thế giới băng hoại đạo đức. Theo lời khuyến cáo này, vào thời điểm nhân loại bị tham sân si khống chế người ta sẽ thấy nạn đói, bom, lửa và dịch bệnh luân phiên nhau tàn phá (Trường Bộ KinhIII. 854). Tình trạng thế giới hiện thời cho thấy rằng cả ba nhân tố suy đồi về mặt đạo đức ấy đang hiện diện còn loài người thì đang bị ba gọng kềm trả đủa của nó do những nghiệp quả bất đạo đức của chính họ gây ra.

Một điểm quan trọng khác có đề cập đến trong kinh Khởi Thế Nhân Bổn(Agganna Sutta) rằng loài người là một sinh vật có khuynh hướng bắt chước rất mạnh mẽ (ditthanugatim apajjamana). Vì vậy những ý tưởng, cử chỉ hay hành động mới của một nhóm nhỏ này có thể chẳng bao lâu sẽ trở thành những mẫu mực mới trong xã hội, đặc biệt là khi những yếu tố này dẫn đến lạc thú và hấp dẫn nhưng lại ít tốn kém. Nhờ những phương tiện thông tin khổng lồ và tuyên truyền thương mãi, chủ nghĩa duy cảm, tính chất táo tợn, đói khát tài sản, địa vị và quyền lực đã và đang là những xu thế xã hội trong thế giới tân tiến ngày hôm nay. Chúng ta nghĩ rằng khuynh hướng bắt chước này do được cả ý thức hệ của nhân loại hỗ trợ (từ Pali gọi là pháp giới) không phải là nhân tố duy nhất chịu trách nhiệm về những xu thế hiện nay ở mọi nơi trên thế giới. Do đó chúng ta thường hay lý luận rằng bao quanh thạch quyển là sinh quyển (biosphere) và khí quyển (atmosphere), còn khí quyển thì thẩm nhập tất cả những thứ mà chúng ta gọi là tâm lý quyển (psychosphere). Chúng ta nên kết hợp ý tưởng này lại như sau:

Kinh Sa Môn Quả (Samannaphala sutta, Trường Bộ Kinh I. 76) dạy rằng giống như sợi chỉ màu xuyên qua hạt ngọc trong suốt, tâm quyện chặt với thân mà chỉ người đã đạt đến trình độ tứ thiền mới có thể nhìn thấy. Chúng ta cũng có thể phỏng đoán được rằng tâm kết hợp với thể khí của thân vì nhịp thở của chúng ta thay đổi khi cảm xúc thay đổi, thí dụ như chúng ta thở dài khi buồn bã, ngáp khi lười biếng, gầm gừ khi giận dữ và rên rỉ khi đau đớn. Những thay đổi này có thể được chấp nhận để làm bằng cớ chứng minh rằng tâm và thân có mắc xích với nhau. Các nhà khoa học cũng biết lượng thán khí lúc thở ra sẽ gia tăng khi chúng ta bị những cảm xúc tiêu cực chi phối. Điều này có thể là do hơi thở đã thẩm ngấm những hoá chất độc hại trong dòng máu do các tuyến nội tiết thảy vào khi tâm bị thay đổi do những cảm xúc tiêu cực như giận dữ hay hoảng sợ. Khi thật nhiều người thải ra những chất độc ấy qua đường hô hấp, khí quyển bị ô nhiễm một cách vi tế, chúng ta cũng biết được rằng con người và cả cây cỏ đều rất mẫn cảm với loại ô nhiễm này. Người ta đã làm thí nghiệm và thấy cây cỏ lớn rất nhanh chóng trong môi trường đầy an hoà và thương yêu, trong khi đó thì cây cỏ sẽ trở nên tàn úa khi người ta cư xử với chúng bằng những lời chửi mắng dù rằng cả hai nhóm đều được cung cấp nước, phân bón, ánh sáng cùng săn sóc y hệt như nhau.

Theo các nhà khoa học, ô nhiễm không khí vì lượng thán khí gia tăng là do người ta đốt nhiên liệu, về lâu về dài sẽ làm trái đất nóng dần lên gây nên những hậu quả tàn khốc cho sự an sinh của cả nhân loại. Ngày nay người ta thấy rằng khủng long bị tuyệt chủng trên hành tinh này là do nạn thiếu oxy và nạn gia tăng thán khí trong không khí. Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay nghiêm trọng hơn nhiều so với tình trạng ô nhiễm làm tuyệt giống những sinh vật khổng lồ vì vào thời đại khủng long nhân loại chưa có máy móc thải ra thán khí. Đang vào lúc những bộ máy cơ khí ngày càng gia tăng làm ô nhiễm khí quyển thì hàng tỷ bộ máy người ghép thêm những độc tố tâm lý vào các hạt thán khí mà họ thở ra. Do đó, chúng ta có thể cả quyết được rằng ô nhiễm tâm quyển là yếu tố nghiêm trọng của sự khủng hoảng môi sinh mà con người ngày nay phải đối diện. Ô nhiễm vật lý do các nhà máy gây ra cùng sự khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên là hậu quả của lòng tham lam xa xỉ, của cải và quyền lực của con người. Do vậy chúng ta có thể kết luận được rằng ô nhiễm môi trường, trên bình diện thực tế, chỉ là hình thái ngoại tại của sự ô nhiễm đạo đức nội tại trong lòng con người hiện đại mà thôi.

Do thái độ đạo đức của con người có quan hệ trực tiếp với khủng hoảng môi trường cho nên thiền minh sát (Vipassana meditation) giúp cho chúng ta một phương pháp rất thực tế để tạo nên những thay đổi thiện căn ngõ hầu chúng ta có thể tìm thấy hướng đi và mục đích trong cuộc sống, đồng thời cũng giúp chúng ta tái lập sự quân bình sinh thái.

Theo cách nói của Erich Fromm chúng ta có thể thấy rằng con người cần phải thay đổi thái độ của chính mình, phải nên "là hình thái cuộc sống" chứ không nên "có hình thái cuộc sống." Con người sống bằng kiểu "có hình thái cuộc sống" lúc nào cũng cố thoả mãn lòng tham bằng cách rút rỉa thiên nhiên càng nhiều càng tốt, do đó sẽ dẫn đến tình trạng khai phá bừa bãi để nảy sinh cơn bệnh ô nhiễm và thiếu hụt. Trong khi đó, con người sống bằng kiểu "là hình thái cuộc sống" trái lại đã sử dụng tài nguyên thiên nhiên chỉ để thỏa mãn nhu cầu của mình, và điều này đã dẫn đến công cuộc bảo tồn và gìn giữ thiên nhiên. Điều thú vị mà người ta nhận thấy là trong kho tàng ngôn ngữ Ấn Độ ngày xưa của tiếng Sanskrit và Pali, người ta không thấy những từ có gốc từ động từ "có" (= sở hữu). Ý tưởng có phải được diễn tả hơi vòng vo một chút. Trong tiếng Pali nếu người ta muốn nói "Tôi có con trai và tài sản" thì người ta phải nói thế này "Putta me atthi dhanam atthi," nghĩa đen là "đối với tôi, có con trai, có tài sản." Do vậy tư tưởng "là hình thái cuộc sống" đã ăn sâu tận tâm hồn của nền văn hóa Ấn Độ cổ xưa dù rằng ngôn ngữ của họ thiếu hẳn động từ "có" (= sở hữu).

Thiền minh sát dạy con người cách sống đời đơn giản để thỏa mãn những nhu cầu của mình. Appicchata, khả năng thỏa mãn tối thiểu được rèn luyện có hệ thống là một đức tính có giá trị lớn. Nếu đức tính này được cả loài người cùng nhau rèn luyện, cả loài người cùng chịu bỏ qua một bên tất cả thói quen tiêu thụ hiện tại, thì nạn khủng hoảng sinh thái sẽ giảm thiểu rất nhiều. Tất cả những căn bệnh trầm kha do nạn phá rừng với qui mô lớn như đất màu mỡ bị bào mòn, đất chùi, thời tiết thay đổi bất thường, hạn hán, v.v... tất cả đều có liên quan căn để với chủ nghĩa tiêu thụ. Nếu con người chẳng muốn chịu đổi lấy đời sống đơn giản thì một giải pháp hiệu quả cho những vấn nạn đang đe dọa đời sống hiện nay sẽ không thể nào có thể đạt đến được.

Lòng từ là một phần của cuộc đời thiền định. Một người thực hiện lòng từ sẽ tự biết tiết chế không khai phá và tiêu thụ bừa bãi, tình cảm này phát xuất từ lòng thương đối với các thế hệ tương lai cũng như lòng thương đối với các tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo lại được, những tài nguyên mà hiện đang ngày càng giảm dần do nhu cầu của kiểu sống tiêu thụ ngày nay. Thực hiện lòng từ, con người cũng sẽ có lòng lân mẫn đối với những chủng loại sống khác hiện đang bị đe dọa tuyệt chủng. Chúng ta cần nhớ rằng sự đa dạng sinh thái là một yếu tố có giá trị cực kỳ quan trọng để tạo nên một hệ thống sinh thái quân bình tươi khoẻ.

Thiền minh sát cũng tẩy sạch những uế nhiễm tâm lý trong lòng người. Thiên nhiên có thể điều trị được những uế nhiễm sinh học do con người gây ra, nhưng thiên nhiênkhông thể giúp hay điều trị được ô nhiễm tâm lý của con người. Do vậy sự lan tràn tội ác, giết chóc và chiến tranh truyền nhiễm trong xã hội, những căn bệnh do ô nhiễm đe dọa đời sống nhân loại, nạn tàn phá thiên nhiên với quy mô lớn làm nghiêm trọng thêm sự mất quân bình và ô nhiễm sinh thái.

Chúng ta nên nhớ đến lời dạy của đức Phật: "cittena niyyati loko," cõi giới này vận hành nhờ tâm của con người. Vậy thì bao lâu mà tâm con người còn do những ý định thiện lành về phương diện đạo đức tác động thì con người còn có thể có được một cuộc sống hạnh phúc và thiên nhiên còn dành phần ưu ái. Thoảng như những căn rễ của ác ma phát khởi, con người sẽ gánh lấy những khổ đau như hai câu kệ đầu trong Kinh Pháp Cúcó nói đến.1Ngày nay người ta có thể thấy rằng ác ma đang rộng phá đến độ thiên nhiên đã và đang bị tác động và bị xem như kẻ thù. Khủng hoảng môi trường nên được xem như hậu quả của khủng hoảng đạo đức. Con người phải nên rèn luyện thái độ và kiểu sống thiện lành về phương diện đạo đức để có thể thay đổi ngày càng tốt hơn và điều này phải nên được chấp nhận như một mệnh lệnh để sống còn.

***

CHÚ THÍCH

(1) Trích ý từ Phẩm Song Yếu:

Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ ý tạo,
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau
Như xe, chân vật kéo.
Ý dẫn đàu các pháp,
Ý làm chủ ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau
Như bóng, không rời hình.

(Kinh Pháp Cú)

(2) Bản nguyên tác tiếng Anh được trích từ trang nhà Đạo Phật Ngày Nay, do đại đức Nhật Từ biên tập. Địa chỉ của bài viết là: http://www.buddhismtoday.com/english/ecology/002-relevance.htm

--- o0o ---


Chân thành cảm ơn Đại Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tuyển tập này.

--- o0o ---

Vi tính: Hải Hạnh - Giác Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/202006:27(Xem: 940)
Muốn thành một vị Phật, một người tu hành phải trải qua ba nguyên tắc đào luyện tu tập; nếu không hoàn thành ba nguyên tắc này thì người đó dù ở địa vị nào ở cấp bực nào đem xét nghiệm thì sẽ nhận biết họ không bao giờ được thành Phật.
28/02/202012:08(Xem: 1440)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
02/01/202006:48(Xem: 1383)
Một sáng tinh sương ..... Đức Thế Tôn thành đạo . Phiền não đoạn tận, chiến thắng ma quân , Ánh sáng Giác Ngộ lan tỏa đến tha nhân Gieo rắc niềm tin ...khổ đau được chuyển hoá !
24/12/201921:31(Xem: 1822)
Ngày thành đạo của đức Thế Tôn cách đây 26 thế kỷ, đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Một kỷ nguyên của chánh kiến, thấy rõ thế gian là vô thường và những gì cấu tạo nên nó chỉ là do quan hệ duyên khởi và trống rỗng tự ngã. Những nỗi khổ đau của con người ở trong thế gian không do một ai có thẩm quyền áp đặt, mà chính là do lòng tham dục, tính hận thù và sự kiêu căng nơi tâm họ tạo nên. Tâm cũng vô thường như bất cứ những sự vô thường nào ở trong thế gian, nên những khổ đau của con người không phải là tuyệt lộ. Nó có thể thay đổi khi nhân và duyên của nó được thay đổi. Nhân và duyên làm thay đổi khổ đau của thế giới con người là Bát Thánh Đạo. Thực hành Bát Thánh Đạo, do đức Phật công bố tại vườn Nai, sau khi Ngài thành đạo, trong thời thuyết giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, tại vườn Nai thì những khổ đau của thế giới con người sẽ bị diệt tận.
24/12/201916:36(Xem: 2028)
Xưa và nay, trong lịch sử của nhân loại, tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân. Nhờ trải qua các quá trình kham nhẫn, tu, học, và giúp đỡ cho tự thân và tha nhân như vậy, thì họ mới có thể trở thành những nhà khoa học, toán học, văn học, triết học, đạo học, v. v… Bồ-tát Tất-đạt-đa Gautama,[1] một vị đạo Sư tâm linh hoàn hảo, có đầy đủ đức hạnh, từ bi, và trí tuệ, trải qua 6 năm tu khổ hạnh rừng già với năm anh em Ông A-nhã Kiều-trần-như. Sau một thời gian tầm sư học đạo, Bồ-tát, một con người xuất chúng bằng xương bằng thịt, đã tìm ra chân lý bằng cách thiền định tại Bồ-đề-đạo-tràng suốt 49 ngày đêm, và chứng ngộ viên mãn dưới cội cây Bồ-đề. Lúc đó, Bồ-tát trở thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni, một đức Phật lịch sử, có mặt trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, được chư thiên và loài người tôn kính, có khả năng đem
24/10/201920:30(Xem: 2220)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
23/10/201918:44(Xem: 2227)
Cách đây hai mươi mấy măm về trước, khi chưa bước vào ngôi nhà Phật Pháp.... ( chưa quy y Tam Bảo ) không hiểu sao hai vị Phật tôi thường cầu nguyện và được sự linh ứng nhất là Đức Quán thế Âm Bồ Tát và Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và đặc biệt trong 12 đại nguyện của Phật Dược Sư tôi chỉ thích đọc đi đọc lại nguyện thứ ba, thứ sáu, thứ bảy và thứ tám vì có lẽ lúc ấy tôi chỉ biết lo cho tấm thân làm người nữ và những bịnh tật đau nhức dai dẳng đeo đuổi mãi không thôi.
13/10/201913:51(Xem: 2645)
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc. Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được. Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn. Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
29/09/201909:45(Xem: 8319)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)
16/08/201911:44(Xem: 2320)
Đức Phật là đấng đạo sư, là bậc thầy của nhân loại, nhưng ngài cũng là nhà luận lý phân tích, nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại. Kinh tạng Pāli cho chúng ta thấy rõ về các phương phápgiảng dạy của đức Phật một cách chi tiết. Tùy theo từng đối tượng nghe pháp mà Ngài có phương thức truyền đạt khác nhau. Chúng sanh có vô lượng trần lao, phiền não, thì Phật pháp có vô lượng pháp môn tu. Nếu sử dụng đúng phương pháp thì hiệu quả giảng dạy sẽ đạt được kết quả tốt. Tri thứcPhật học là nguồn tri thức minh triết, là giáo lý để thực hành, lối sống, do đó phương pháp giảng dạy là vấn đề vô cùng cần thiết để giới thiệu nguồn tri thức minh triết ấy.