Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

11. Trầm tư về ngày Phật thành đạo - Thích Nữ Giới Hương

16/05/201316:38(Xem: 2570)
11. Trầm tư về ngày Phật thành đạo - Thích Nữ Giới Hương


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
--- o0o --- 

Phần II

Tưởng niệm Phật thành Đạo
và niên đại của Ngài

--- o0o ---

TRẦM TƯ VỀ NGÀY PHẬT THÀNH ĐẠO

Thích Nữ Giới Hương

Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một vĩ nhân thì đó là một vĩ nhân trên hết các vĩ nhân của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một bậc siêu nhân thì đó là một bậc siêu nhân cao hơn tất cả các bậc siêu nhân khác. Nếu chúng ta quan niệm đời Ngài là một sự thị hiện của Phật, thì đó là sự thị hiện đẹp đẽ nhất và đầy đủ ý nghĩa hơn hết trong các sự thị hiện.

Người sáng lập ra đạo Phật là Đức Thích-ca-mâu-ni Phật (Sakyamuni) còn gọi là Đức Phật (Buddha), là đấng giác ngộ, là bậc thức tỉnh. Người đã thức tỉnh được lưới tham ái, vô minh, đã thấy rõ bản chất của các pháp như chúng đang là.

Đức Phật tên là Tất-đạt-đa (tiếng Sanskrit: Siddhrtha), họ là Cồ-đàm (Gautama) ra đời cách đây hơn 2600 năm tại miền đông bắc Ấn Độ vào ngày mùng 8 tháng 4,[1]năm 624 trước Tây lịch. Phụ thân Ngài là vua Tịnh Phạn (Suddhodana), người cai trị vương quốc của dân tộc Sakya (ngày nay thuộc đất nước Nepal). Mẹ Ngài là hoàng hậu Ma-da (Maya). Theo tục lệ thời bấy giờ, thái tử kết hôn rất sớm vào năm 16 tuổi, với công chúa xinh đẹp và đức hạnh, tên là Da-du-đà-la (Yasodhara). Là một thái tử đương triều sống trong cung điện đầy đủ với tất cả những xa hoa lộng lẫy, nhưng khi va chạm với đời sống bình thường thực tại, Ngài nhận thấy khổ đau của kiếp người, Ngài quyết định tìm giải pháp để con người ra khỏi nỗi thống khổ như mạng nhện này. Năm 19 tuổi sau khi người con đầu lòng và duy nhất là hoàng nhi La-hầu-la (Rahula) ra đời, Ngài quyết định từ bỏ tất cả uy quyền, địa vị, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan và trở thành một nhà khổ hạnh ra đi tìm giải pháp cứu mình và cứu người khỏi ách sanh tử từ nhiều đời kiếp. Ngày mùng 8 tháng 2 ngài bắt đầu xuất gia và sống một đời sống phạm hạnh.

Năm năm tìm thầy học đạo, sáu năm thực hành khổ hạnh, Ngài Cồ-đàm đã đi lang thang khắp thung lũng sông Hằng (Ganga), tìm những vị thầy nổi tiếng bấy giờ học hỏi những phương pháp và hệ thống tu hành của họ; rồi khép mình vào những kỷ luật khổ hạnh khắc khe tột cùng. Kinh Trung Bộ[2]đã mô tả sự nỗ lực của Ngài như sau:

“Này Aggivessana, rồi ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, này Aggivessana, khi ta nín thở như thế thì ngọn gió kinh khủng thốt lên đau nhói trong đầu ta. Này Aggivessana, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác vơi một thanh kiếm sắc, cũng vậy, này Aggivessana, khi ta nín thở như thế thì ngọn gió kinh khủng thốt lên đau nhói trong đầu ta. Này Aggivessana, dầu ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm an trú không dao động, nhưng thân của ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta… ”

Khi đó sa môn Cù-đàm đã liên tục dùng đủ loại hình thức để cảm thọ sự khổ trong việc tu nín thở, những cảm giác nóng kinh khủng cắt ngang qua bụng như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang qua bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén, những cảm giác nóng kinh khủng khởi lên trong thân như bị hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn nướng người ấy trên một hố than hừng.

Đủ loại cảm giá nóng khổ khởi lên nơi Đức Phật không thể nào chịu xiết nhưng với lòng tinh tấn nỗ lực, Ngài đã vượt qua và không bị chúng chi phối. Rồi Ngài lại bắt đầu thực hiện hạnh tuyệt thực với từng giọt súp đậu nên thân Ngài từ từ trở nên gầy yếu. Tay chân Ngài trở thành như những ngọn cỏ hay những đốt cây leo khô héo, bàn trôn của Ngài trở thành như móng chân con lạc đà, xương sống phô bày giống như một chuỗi banh, xương sườn gầy mòn giống như rui cột nhà sàn hư nát, con ngươi nằm sâu trong hố mắt giống như nước long lanh nằm sâu thẳm trong giếng nước sâu, da đầu trở thành nhăn nheo khô cằn giống như trái bí trắng và đắng khi bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhó khô cằn. Ngài nói rằng khi đó Ngài rờ vào bụng mình thì gặp phải xương sống, nếu rờ xương sống thì gặp phải da bụng, vì Ngài ăn quá ít nên da bụng bám chặt vào xương sống. Khi ngài muốn đứng dậy để đi đại tiện hay tiểu tiện thì liền ngã quỵ xuống vì quá yếu. Nếu Ngài muốn xoa dịu thân thể, lấy tay xoa bóp chúng, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ngài.

Sau khi trải qua sáu năm cực kỳ khổ hạnh này, Ngài chợt lóe lên tia sáng rằng: “những sự đau khổ này thực là tối thượng, không gì có thể hơn nữa. Nhưng với sự khổ hạnh khốc liệt như thế, ta vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc thánh. Hay có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ.”

Ngài liền hồi tưởng lại thuở còn bé xưa kia khi vua cha Tịnh Phạn đang cày, Ngài ngồi dưới gốc cây Diêm Phù đề thiền định. Lúc đó tâm Ngài đã ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ và Ngài biết rằng với thân xác yếu gầy như vậy thì Ngài không thể nào đạt được những trạng thái thiền đó. Ngài nghiệm rằng giống như người chơi đàn, phải biết thế nào là mức độ vừa phải. Nếu căng quá thì dây đàn sẽ đứt, còn nếu để chùn quá thì đàn sẽ không kêu. Cuộc sống quá khứ của Ngài trong nhung lụa đài sang nơi hoàng cung lộng lẫy chẳng khác nào như dây đàn thả lỏng; đến khi nỗ lực tu khổ hạnh hành hạ xác thân thì tựa như dây đàn quá căng. Hãy nương thân này mà tìm phương pháp “trung đạo” để giải thoát chúng sanh.

Thế là Ngài bắt đầu từ bỏ những tôn giáo với những phương pháp cổ truyền khổ hạnh này và đi theo con đường tu tập của riêng mình. Ngài nhận bát cháo sữa của nàng Su-da-ta cúng và ngồi thiên liên tục trong 49 ngày dưới cội cây bồ đề bên dòng sông Ni-liên-thuyền (Neranjar) xanh mát tại Bồ đề đạo tràng (Buddha-gaya) thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Độ ngày nay.

Ngài bắt đầu bước vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền rồi tứ thiền. Với tâm nhu nhuyến, thuần khiết, Ngài hướng tâm về sự hiểu biết những đời sống quá khứ và vô lượng kiếp về trước của Ngài. Vào canh một của đêm 49, Ngài chứng được Túc mạng minh, phá tan lớp vô minh có liên quan đến quá khứ. Ngài hướng tâm thanh tịnh về sự “tri giác hiện tượng sanh diệt của chúng sanh” và vào canh giữa của đêm thành đạo, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, hướng đến sự phân tán và cấu thành nên chúng sanh. Ngài chứng tâm thanh tịnh về “tuệ hiểu biết sự chấm dứt các pháp trầm luân” và vào canh ba của đêm thành đạo, Ngài chứng được Lậu tận minh. Màn vô minh của ba lậu (dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu) đã giải tỏa và trí tuệ phát sinh. Đêm tối đã tan và ánh sáng đến. Ngài biết rằng “ta đã được giải thoát,” “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.”[3]Từ đó Ngài được tôn xưng là Đức Phật với mười danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật-Thế Tôn. Năm ấy Ngài vừa tròn 30 tuổi.

Theo truyền thống Đại thừa, ngày 8 tháng chạp được coi là ngày Đức Phật thành đạo. Trong tuần lễ đầu sau khi thành đạo, Đức Phật đã ngồi bất động nơi tòa kim cang (cội bồ đề nơi Ngài ngồi giác ngộ và chứng ba minh) và trong ba tuần lễ đầu Ngài đã thuyết kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và Bồ-tát ở cõi trời nghe, nhưng vì nghĩa lý của kinh quá cao siêu khó lãnh hội, nên Ngài bắt đầu thuyết về lý Tứ đế rồi sau đó mới dần dần giảng dạy những kinh điển có tính cách triết lý đại thừa cao hơn như được đúc kết trong bài kệ tóm tắt sau đây:

Hoa Nghiêm trước nhất hai mươi mốt ngày,

A-hàm mười hai, Phương đẳng tám,

Hai mươi hai năm bàn Bát-nhã,

Pháp hoa, Niết-bàn cộng tám năm

Còn theo truyền thống Nguyên thủy, Đức Phật thành đạo vào đêm rằm của tháng Vesaka (tức rằm tháng 4).

Vào tuần lễ đầu sau khi giác ngộ, Ngài nghiền ngẫm lý nhân duyên vô ngã. Tuần thứ hai, Đức Phật đứng nhìn chăm chú biết ơn cây bồ đề đã che chở Ngài trong những ngày thiền định. Tuần thứ ba, Đức Phật đi kinh hành dọc bên trái cây bồ đề. Tuần lễ thứ tư, Đức Phật đã suy ngẫm những vấn đề thuộc về siêu hình học của A-tỳ-đạt-ma. Tuần lễ thứ năm, ngài ngồi dưới cây Ajapala và Mucalinda để chứng nghiệm sự an lạc giải thoát. Khi đó trời bỗng mưa tầm tả, con mãng xà vương Mucalinda liền bò lên và dùng thân quấn quanh Đức Phật bảy vòng và dùng đầu để làm tàng che mưa đỡ gió cho Ngài.

Vào tuần lễ thứ bảy, Ngài ngụ tai cây Rajatana để chứng nghiệm sự an lạc của qủa vị giải thoát hoàn toàn. Sau khi nhận sự cúng dường của hai vị thương gia, Đức Phật liền rời Bồ-đề đạo tràng để đi đến vườn nai (Lộc Uyển) ở Isipatana (ngày nay là Sarnath), thuộc thành phố Ba-la-nại (Benares) để tìm năm người bạn đồng tu trước kia mà truyền đạt những gì Ngài đã chứng ngộ. Tứ Diệu Đế (Cattri Ariyasaccani) là bài chuyển pháp luân đầu tiên của Đức Phật cho năm anh em Kiều Trần Như. Và đó cũng là trọng tâm toàn bộ giáo lý mà Ngài đã thuyết trong 45 năm hoằng pháp lợi sanh của mình. Từ ngày đó trở đi Ngài đã thuyết pháp cho mọi tầng lớp nam nữ, vua chúa và hoàng hậu, quý tộc và bà-la-môn, thương nhân và công nhân, giai cấp cùng khổ và hành khất mà không hề phân biệt gì giữa họ cả. Ngài không chấp nhận hệ thống giai cấp xã hội ở Ấn Độ cổ đại và con đường Ngài dạy mở ra cho tất cả những ai muốn nghe.

Đức Phật cũng đã thường tự xưng mình không gì khác hơn là một con người, hoàn toàn chỉ là một con người. Những gì Ngài thực hiện được, những gì Ngài đạt đến được và hoàn thành được đều hoàn toàn do nỗ lực và trí tuệ con người. Một con người và chỉ có con người mới có thể giác ngộ trở thành một Đức Phật. Tất cả chúng ta đều mang trong mình khả năng trở thành một Đức Phật nếu chúng ta muốn và nỗ lực. Nếu có gọi Ngài là một đấng “tối thượng giác ngộ” đi nữa thì cũng chỉ có nghĩa rằng Ngài đã tìm ra và chỉ ra con đường đi đến giải thoát niết-bàn; rồi tự chúng ta phải cất bước trên con đường ấy.

Chẳng những thế, Đức Phật còn khuyến bảo chúng đệ tử của mình rằng cần phải xét đoán ngay cả chính Ngài để có thể hoàn toàn tin chắc giá trị của một vị thầy mà mình đang theo tu học.

Đức Phật chủ trương tự do tư tưởng, thêm vào đó tính khoan hồng của Đức Phật, cũng đã làm cho những người nghiên cứu lịch sử tôn giáo phải ngạc nhiên. Như trong kinh Upli kể rằng: Khi Upli, một đệ tử tại gia nổi tiếng của phái Ni-kiền-tử (Nigantha-Ntaputta), sau khi tranh luận thuyết nghiệp báo với Đức Phật, biết được tư tưởng của Thầy mình là sai và đã nhiều lần thỉnh Đức Phật nhận mình làm đệ tử tại gia (Upsaka). Nhưng Đức Phật khuyên ông hãy tiếp tục kính trọng, ủng hộ những vị thầy cũ của mình, hãy suy nghĩ và đừng vội vã vì “sự xét đoán cẩn thận rất tốt cho những người lỗi lạc như ông.”

Trong thế kỷ thứ III trước Tây lịch, vị Hoàng đế phật tử A-dục (Asoka) đã khắc trên trụ đá như sau:

“Người ta không nên chỉ kính trọng tôn giáo của riêng mình và bài bác những tôn giáo của kẻ khác, mà phải kính trọng tôn giáo khác vì lý do này hay lý do khác. Như thế ta có thể làm cho tôn giáo mình phát triển và giúp đỡ các tôn giáo khác.”

Tính khoan dung thông cảm ấy từ khởi thủy đã là một trong những lý tưởng được yêu chuộng nhất trong văn hóa và văn minh Phật giáo. Chính vì thế mà suốt trong 25 thế kỷ truyền bá qua, Phật giáo đã không để lại một vết tích đàn áp nào, hay làm đổ một giọt máu nào. Nhãn hiệu Phật giáo là điều không thiết yếu, chúng ta có thể gọi Phật giáo dưới bất cứ danh hiệu nào. Điều quan trọng là nếu vị thuốc hay thì bịnh sẽ lành và sẽ là con đường thoát khổ cho chúng ta. Hầu hết mọi tôn giáo đều được thiết lập trên đức tin nhưng Phật giáo nhấn mạnh sự thấy biết, hiểu rõ, tự nghiệm rồi lãnh hội phương pháp trị bịnh đó. Nói đến sự giác ngộ của chính mình, Đức Phật dạy: “Con mắt đã phát sanh, trí thức đã phát sanh, kiến giải đã phát sanh và ánh sáng đã phát sanh.”[4]

Điều đó có nghĩa là hãy tự mình thấy biết và chứng nghiệm bằng khả năng của mình. Đức Phật chỉ giúp chúng ta chỉ ra con đường Ngài đã đi thôi. Những gì Ngài chỉ dạy chúng ta không phải chỉ để thỏa mãn sự tò mò của trí thức mà mục đích là đem hạnh phúc an vui cho con người chúng ta mhằm kiến tạo một xã hội mà ở đó không có sự tranh chấp thế lực; ở đó an tĩnh và hòa bình ngự trị xa hẳn chiến thắng và chiến bại; ở đó sự áp bức người vô tội phải bị mạnh mẽ tố cáo và một người tự thắng mình được kính trọng hơn những người chiến thắng hàng triệu người bằng chiến tranh quân sự kinh tế; ở đó hận thù được hóa giải bằng yêu thương và sự ác độc được chinh phục bằng thiện cảm; ở đó thù hận ganh ghét, ác độc và tham lam không nhiễm độc tâm trí con người, bởi lẽ, từ bi là nguyên nhân động lực cho mọi hành động, ngay cả những sinh vật nhỏ bé nhất cũng được đối xử với lòng yêu thương lân mẫn và ở đó cuộc sống con người bình an hòa điệu để hướng đến những mục đích tối thượng cao quý hơn.

Đức Phật đã nhâ? niết-bàn nhằm ngày rằm tháng 2 lúc Ngài 80 tuổi, nhưng gương sáng của đời Ngài vẫ còn chiếu sáng rực trước mắt chúng ta. Suốt một đời, trong 80 năm trời, không một lúc nào Ngài xao lãng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sanh. Ngài đã vất vả giong ruổi trên mọi nẻo đường bụi bặm, gai góc để hướng dẫn con đường thoát khổ cho chúng sanh. Sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, trí tuệ sáng suốt, ý chí dũng mãnh của Ngài không những là gương sáng cho riêng giới Phật giáo mà còn cho tất cả. Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một vĩ nhân thì đó là một vĩ nhân trên hết các vĩ nhân của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một bậc siêu nhân thì đó là một bậc siêu nhân cao hơn tất cả các bậc siêu nhân khác. Nếu chúng ta quan niệm đời Ngài là một sự thị hiện của Phật, thì đó là sự thị hiện đẹp đẽ nhất và đầy đủ ý nghĩa hơn hết trong các sự thị hiện.

Cho nên đối với Phật giáo hay đối với tất cả mọi người, Đức Phật đáng được kính cẩn tôn sùng và chiêm ngưỡng.

Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày Đức Phật Thích-ca thành đạo tại cội bồ-đề ở Bồ-đề đạo tràng, Ấn Độ, nơi Ngài đã thiền định và giác ngộ trong bối cảnh các dân tộc trên thế giới đang chuẩn bị đón mừng năm mới 2001 của thiên niên kỷ mới, trong không khí tưng bừng hân hoan đó, chư Tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng ni và phật tử từ Á, Âu, Mỹ, Úc… không phân biệt màu da, chủng tộc, ngu trí, giàu nghèo, Tăng tục… đều tụ tập về đây để cầu nguyện, mong muốn có một xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ … để con người không còn bị khổ đau, bịnh tật, đói nghèo và ngu dốt nữa. Tâm nguyện này không phải của riêng ai mà của cả toàn nhân loại trên hành tinh này đều hướng về ý tưởng đó. Nhân dịp này, thiết tưởng việc trầm tư ôn lại cuộc đời và ý nghĩa Phật thành đạo, hay nói cách khác ôn lại vai trò của nền giáo lý Đức Phật không phải là vô ích, nếu không muốn nói là giáo lý đó có những tư tưởng tiến bộ để con người có thể tự xây dựng một xã hội mà con người đang đi tìm giải pháp.

Kỷ niệm lễ Phật thành đạo, chúng ta thành tâm dâng hương trầm hoa trái, lời kinh tiếng kệ, chuông trống cờ phướng… dâng lên bậc Đạo sư vô thượng; chúng ta thành tâm tưởng niệm Đức Từ phụ mà sự giác ngộ của Ngài là một điều hy hữu, là lợi lạc lớn lao cho mọi chúng sanh, là ánh sáng trí tuệ xua tan bóng tối vô minh và đau khổ. Như: “Mặt trời chiếu sáng ban ngày, ánh trăng chiếu sáng ban đêm, khí giới chiếu sáng dòng vua chúa, thiền định chiếu sáng bậc tu hành; nhưng hào quang Đức Phật thì cả ngày và đêm chiếu sáng cả thế gian này.”[5]

Mong sao đêm nay dưới ánh sáng lấp lánh lung linh của ngàn sao chiếu sáng trên trời, dưới ánh nến cháy đỏ thiêng liêng bất diệt của ngàn ngọn nến bên cội bồ-đề, cầu nguyện cho tất cả hữu tình và vô tình trên khắp thế giới đều được đượm nhuần hồng ân ánh sáng giác ngộ của Ngài.

Đêm với ngàn sao lung linh
Ôi ! những vì sao như mắt ai
Từ vô lượng kiếp
Đón chờ một bình minh …
Phía trời đông
Ánh sao Mai xuất hiện
Từ đường chân trời lấp lánh nói cùng ai.
Ánh quang minh
Tràn ngập thế gian này
Không như mặt trời
Chỉ soi sáng một nửa thời gian.
Một nửa kia là bóng đêm ngự trị
Không như đóa hoa
Bừng hương sắc
Và tàn lụi.
Nụ cười Cồ-đàm từ trí giác vô biên.
Đêm bình an cho ba ngàn thế giới
Đêm vời vợi
Ai về tắm gội hồng ân.[6]

SÁCH THAM KHẢO

Kinh Pháp Cú, Thích Trí Đức (dịch), Ấn Độ, 1999.

Narada Maha Thera,. The Buddha and His Teachings. (Singapore: Buddhist Meditation Centre, 1973)

Thích Hạnh Nguyện & Vô Thức,. Xứ Phật Tình Quê, tập I.(Ấn Độ: Đại thừa xuất bản, 1996)

Thích Thiện Hoa,Phật Học Phổ Thông, I & II. (TP. HCM: THPGTP HCM, 1989)

W. Rahula,. Con Đường Thoát Khổ, TN. Trí Hải (dịch). (Sài Gòn: Đại học Vạn Hạnh, 1966).


[1]Chúng tôi dựa theo truyền thống của Phật giáo Đại thừa. Theo kinh điển Pali, đức Phật sanh vào ngày 15-4. Các sự kiện và năm tháng ngày giờ khác về đức Phật trong bài viết này cũng được viết theo kinh điển Đại thừa.

[2]Đại tạng kinh Việt Nam, tập 2, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1991, tr. 531-540.

[3]Narada Maha Thera, The Buddha and His Teaching. (Singapore: Buddhist Meditation Centre, 1973), pp.12-20.

[4]Samyuta-Nikaya, trích trong Con Đường Thoát Kho? W. Rahula, TN. Trí Hải dịch, Đại Học Vạn Hạnh, tr. 25.

[5]Dhammapada, tr. Ven. Narada Maha Thera, Maha Bodhi in Sarnath, 2000, versse 387.

[6]Thơ của Thích Trung Đạo.

--- o0o ---


Chân thành cảm ơn Đại Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tuyển tập này.

--- o0o ---

Vi tính: Hải Hạnh - Giác Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/01/2025(Xem: 477)
Kính lạy bậc kỳ vĩ xuất hiện, từ ngàn năm trong thế giới (1) Gây âm vang chấn động, mở ra một kỷ nguyên Mang ánh sáng đi vào đời, với phương pháp tịnh Thiền Giúp người người tìm về Chánh Pháp mầu nhiệm
22/06/2024(Xem: 1941)
Bộ hành là bước đi của chân. Nơi đây, trong bài này, chỉ có ý nói rằng xin mời gọi bước đi của tâm: khuyến tấn cả nước cùng nhau bộ hành theo dòng Kinh Phật, cùng tập thói quen đọc kinh, suy nghĩ về kinh, để tâm hướng theo lời kinh dạy, và hàng ngày hãy làm như thế trong những điều kiện có thể của từng Phật tử, từng ngôi chùa. Nói theo chữ cổ, hàng ngày hãy tự xem hành động đọc, nghĩ, và làm theo lời Phật dạy cũng là một hạnh đầu đà. Nếu chúng ta đi bộ bằng chân, độ dài chỉ có thể đo bằng kilômét trong lãnh thổ Việt Nam. Trong khi, nếu chúng ta bước đi bằng tâm, hàng ngày mở trang kinh ra, để đọc, để nghĩ và để làm – thì độ dài của kinh và luận sẽ là nhiều ngàn năm, trải rộng cả Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc châu… Và sẽ không làm cản trở giao thông của bất cứ ai, bất cứ nơi nào.
19/06/2024(Xem: 2767)
Khi nói tới chuyện trao truyền y bát, chỉ là sử dụng một kiểu ngôn ngữ ước lệ. Nơi đây, chúng ta muốn nói tới một thẩm quyền sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Nghĩa là, một thẩm quyền tối hậu để nương tựa. Khi dò lại kinh, chúng ta sẽ thấy câu chuyện phức tạp hơn. Vì có nơi Đức Phật nói rằng sau khi ngài nhập Niết Bàn, tứ chúng hãy chỉ dựa vào Chánh pháp. Kinh lại nói rằng tứ chúng chỉ nên dựa vào Kinh và Luật. Mặt khác, Đức Phật nói rằng có những kinh cần giải nghĩa (tức là, hãy nhìn mặt trăng, chứ đừng chấp vào ngón tay, và từ đây mở đường cho các bộ Luận và Kinh Đại Thừa). Có lúc Đức Phật chia đôi chỗ ngồi và trao y cho ngài Ca Diếp. Có kinh ghi lời Đức Phật trao pháp kế thừa cho ngài A Nan. Và có kinh ghi lời Đức Phật ủy thác quyền lãnh đạo cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Thế rồi, một hình ảnh thơ mộng từng được kể qua truyện tích Niêm Hoa Vi Tiếu, rằng Đức Phật lặng lẽ, cầm hoa lên, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Tích này kể lời Đức Phật nói rằng ngài có một pháp môn vi diệu, không dự
06/06/2024(Xem: 1272)
Trong nhà Phật, lời nguyện là một phần có thể gặp ở bất kỳ kinh sách nào. Hầu hết các lời nguyện đều lớn vô cùng, và trải dài vô cùng tận. Trong các chùa Thiền Tông, chúng ta thường nghe tới Tứ hoằng thệ nguyện, nơi câu đầu "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" (Nguyện giải thoát vô số chúng sinh) đã mang tâm lượng vô biên, vô cùng tận. Trong các chùa Tịnh Độ, các bộ Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư đều ghi những lời nguyện lớn của các vị Phật tương ưng. Tới đây, chúng ta có thể gặp một câu hỏi, rằng có lời nguyện nào sẽ thích hợp cho kiếp này thôi. Bởi vì, có những vị tuổi thọ chỉ còn chừng vài năm nữa là sẽ qua kiếp khác. Và Đức Phật đã dạy những gì cho lời nguyện trong một kiếp ngắn hạn này?
04/06/2024(Xem: 4023)
Cùng toàn thể giới tử thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm tại trú xứ Tăng già-lam Phước duyên, thành phố Huế, hiện diện quý mến. Một ngày một đêm quý vị ở trong Tịnh giới với niềm tin thanh tịnh, kiên cố, bất hoại đối với Tam bảo. Nhờ niềm tin này mà quý vị không để cho Giới pháp của mình bị sứt mẻ ở trong đi, ở trong đứng, ở trong nằm, ở trong ngồi, ở trong sự nói năng, giao tiếp. Quý vị có được niềm tin này là nhờ quý vị nuôi lớn sáu tính chất của Tam bảo, khiến cho ba nghiệp của quý vị được an tịnh, an tịnh về thân hành, an tịnh về ngữ hành, an tịnh về ý hành. Sáu tính chất của Tam bảo, quý vị phải thường quán chiếu sâu sắc, để thể nhập và tạo ra chất liệu cho chính mình, ngay đời này và đời sau. Sáu tính chất của Tam bảo gồm:
23/05/2024(Xem: 651)
Một người con khi xa gia đình, xa quê hương, đã thổn thức mong chờ một chuyến về thăm nhà như thế nào thì người con phật cũng khát khao được về thăm xứ Phật một cách thiết tha như thế ấy!
04/05/2024(Xem: 1064)
Sen vàng tháp cổ quyện trầm hương Thị hiện Như Lai giữa nẻo thường Cõi mộng nhân gian Thầy xua lối (*) Cơ duyên chánh đạo pháp soi đường Triêm ân chỉ hướng nguyền xin tỏ Rõ lý qui nguồn xả hết vương Bát Nhã đèn thiền luôn sáng rạng Mê lầm hóa giải thoát tai ương.
16/04/2024(Xem: 845)
Thông thường chúng ta tổ chức kỷ niệm ngày đản sanh hay những ngày lễ khác trong Phật giáo rất long trọng tưng bừng, riêng ngày Phật thành đạo thì có vẻ im lìm và số Phật tử biết hay nhớ ngày này cũng rất ít. Thật sự thì ngày đức Phật thành đạo rất quan trọng, thậm chí có thể quan trọng hơn cả ngày nhập niết bàn. Vì ngày Phật thành đạo là một sự kiện có một không hai trong lịch sử loài người, đây là cái dấu mốc quan trọng mở ra con đường giải thoát cho loài người và cho cả chư thiên, phi nhân…
14/04/2024(Xem: 575)
Có một bạn trẻ, trí thức, mặt mũi sáng sủa mộ đạo tới hỏi một thiền sư như thế này: -Thưa thầy, con đọc kinh điển thấy Đức Phật nói, “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” như vậy chúng sinh có thể tu thành Phật. Con rất muốn tu thành Phật. Xin thầy chỉ cho làm thế nào để thành Phật? Sư đáp: -Nếu tu để ngộ được tâm Phật, an nhiên tự tại như chư Tổ và các thánh tăng thì khác. Còn muốn trở thành một vị Phật lại khác. Về hình dáng: Phải cao. dung mạo phải đẹp đẽ, oai nghi, không khiếm khuyết bất cứ một bộ phận nào trên cơ thể. Về thân thế: Phải là vua, hoặc thái tử, hoàng tử của một vương quốc. Nếu là các nước cộng hòa thì phải là tổng thống, thủ tướng. Phải có chức vụ cao tột đỉnh như vậy để sau này không còn ham mê danh vọng nữa. Phải là con của một tỷ phú thừa kế một tài sản khổng lồ để sau này không còn ham mê tiền bạc. Một vị Phật không thể xuất thân từ một gia đình thấp kém, bần hàn, là con mồ côi hay con của một gia đ
24/03/2024(Xem: 2844)
Thành Kính Tưởng Niệm…. “Ngày Đức Phật nhập Đại Niết Bàn lúc 80 tuổi” Toàn bộ lời thuyết pháp lần cuối được ghi lại trong kinh Vừa căn dặn đệ tử tự là hòn đảo và tự thắp sáng chính mình, Vừa cô đọng, những điểm căn bản chính yếu trong giáo lý ! Phải luôn đi theo Chánh Đạo với BI, DŨNG, TRÍ !
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]