Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

13. Phương pháp chuyển hóa và tâm nguyện độ sanh của Đức Từ Phụ - Thích Nữ Như Nguyệt

16/05/201314:22(Xem: 1023)
13. Phương pháp chuyển hóa và tâm nguyện độ sanh của Đức Từ Phụ - Thích Nữ Như Nguyệt


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
--- o0o --- 

Phần I

Bản chất và con đường Giác Ngộ

--- o0o ---

PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN HÓA
VÀ TÂM NGUYỆN ĐỘ SANH CỦA ĐỨC TỪ PHỤ

Như Nguyệt

Khổ vui là vấn đến cảm thọ, và có cảm thọ là do có tâm. Như vậy muốn hết khổ thì việc cốt yếu là chuyển cái tâm hiện tại của ta. Không chuyển tâm mà chỉ thay đổi hoàn cảnh, thì không bao giờ có giải thoát thật sự, mà chỉ là thay đổi kiểu đau khổ này sang đau khổ khác. Tu hành, nói gọn, chính là việc chữa trị tâm bệnh hay chuyển tâm.

Trong địa hạt văn minh vật chất, người tiến bộ là người biết chế biến những tài nguyên thiên nhiên để sử dụng cho đời sống được tiện nghi hơn. Ví dụ: sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng thác nước, năng lượng gió, năng lượng hạt nhân ...

Mặc dù con người đã đạt đến mức tiến bộ rất cao trên phương diện chuyển hoá năng lượng vật chất để có năng lượng tối đa, song chính phát minh khoa học kỹ thuật cũng đang đe doạ và có khả năng tiêu diệt toàn thế giới một khi chiến tranh hạt nhân bùng nổ.

Nguyên do chính là con người chỉ tìm cách chuyển hoá để làm chủ những năng lực ở ngoại giới, mà chưa làm chủ, chưa kiểm soát được năng lực bên trong, đó là năng lực của dục vọng. Lòng tham không bao giờ ngừng nghỉ, nên Phật đã mệnh danh cõi người ta là cõi dục.

Cũng vì muốn đạt được hạnh phúc chân thật và tối đa cho bản thân, cho nhân loại và cho tất cả hữu tình, sau khi thành chánh quả dưới cội bồ-đề đức Phật đã công bố một phương pháp chuyển hoá một cách thần kỳ. Từ đó Ngài đã mở cánh cửa giải thoát khổ đau và bất tử cho chúng sanh Ta-bà. Bất cứ ai biết áp dụng phương pháp đó cũng sẽ giác ngộ giải thoát như Ngài. Đó là phương pháp chuyển hoá năng lực của tâm, tức chuyển Tham, Sân, Si thành Giới, Định, Tuê?

Vậy thế nào là chuyển hoá năng lực tâm linh? Đó là việc chúng ta có thể và cần phải làm nếu muốn hết khổ. Muốn chấm dứt khổ, ta phải biết nhận diện ra những hình thái của khổ cùng những nguyên nhân và yếu tố hay điều kiện sinh khởi của nó để diệt tận gốc. Cũng như muốn diệt kẻ thù cần phải nhận ra kẻ thù và chỗ ở của chúng.

Ai cũng thuộc lòng một bản kê đầy đủ về khổ mà đức Phật đã dạy như ba loại khổ và tám loại khổ.v.v. Nhưng Phật khuyên chúng ta, mỗi người phải nhìn vào bản thân mình để thấy rõ đau khổ thật sự là gì ? Nó nằm ở đâu? Khổ cũng như vui, là một cảm thọ. Nếu không có cảm thọ thì không có khổ. Vậy vấn đề khổ vui, tóm lại, chỉ là vấn đề cảm thọ, tức là nhận vào, thâu nạp một cảm giác, mà ta gọi là "cảm thọ của tôi." Cảm thọ tự nó đã là khổ: Phật thường ví dụ đời sống cảm thọ như con bò bị lột da, hết sức đau khổ, dù nó đứng bất cứ nơi nào, dưới nước hay trên khô, gặp nóng hay lạnh.

Có cảm thọ là không bao giờ có thoả mãn. Trong mọi cuộc vui, mọi yến tiệc, hay bất cứ tình trạng nào được mệnh danh là hạnh phúc, luôn luôn người ta cảm thấy còn thiếu một cái gì, còn có cái gì chưa trọn vẹn. Không bao giờ mọi sự sẽ diễn ra hoàn toàn tốt đẹp như ý. Dù cho con người có sở hữu toàn thể vũ trụ, nhưng một khi còn có cảm thọ thì vẫn còn đau khổ. Khái niệm khổ trong Phật giáo được viết là dukkhatrong tiếng Pali, vốn có nghĩa là không thoả lòng hay không thoả mãn. Nói đơn giản, cái gì không thoả mãn đều mang lại cảm giác đau khổ; thế gian này lại chứa đầy sự không thoả mãn như vậy, như câu thơ của Bùi Giáng trong "Mưa nguồn:"

Trời đất lạnh là lòng anh không thỏa
Gửi hồn đi phương hướng hút theo ngàn
Hồn ngơ ngát loay hoay về hỏi dạ:
Có bao giờ dạ thoả giữa không gian?

Cái khổ nguy hiểm hơn là khi ta nghiền ngẫm, đặt tên, hay xem năm uẩn và các sự vật là "tôi" và "của tôi."

Ngày xưa, có người hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

- Làm sao có hạnh phúc được, khi không còn cảm thọ?

Tôn giả đã trả lời một câu rất thâm thúy:

- Trạng thái không có cảm thọ mới chính là hạnh phúc.

Ở đây ta phải hiểu câu trả lời này trong bối cảnh đích thực của nó là phát ngôn của một bậc A-la-hán, đã chứng quả Vô sinh, không còn chấp ngã, nên được tự tại trước những bận tâm của thế tục như còn mất, vinh nhục, sống chết, được thua,... đối với một vị như vậy thì Sinh như mùa đông mặc thêm áo, Tử như mùa hè cởi bớt áo. Sinh Già Bệnh Chết, nơi vị A La Hán, không còn là "Khổ" như quan niệm thường tình khi còn chấp thủ một bản ngã.

Trong Kinh Đại Bát-nhã, Phật cũng dạy rằng tính của thọ nơi người phàm là "nhận lãnh, thâu nạp vào mình" nên phải khổ vì tâm luôn luôn dao động bởi những cuộc thăng trầm. Nhưng đối với Bồ tát thì thọ là "Không," vì Bồ tát không nạp thọ những gì từ bên ngoài đưa tới, khi giác quan và đối tượng (Căn, Trần) gặp gỡ.

Có lần một người ngoại đạo đến mắng đức Phật, nhưng Ngài vẫn ngồi điềm nhiên như không. Người ngoại đạo bèn hỏi sao Ngài có thể giữ được bình tĩnh khi bị tấn công với đủ lời sỉ nhục như vậy? Phật trả lời vì Ngài không thọ, cũng như được ai biếu quà mà không nhận, chỉ có thế. Khi nghe lời ấy, người kia được cảm hoá, xin trọn đời được quy ngưỡng. Đó là "tính Không" của cảm thọ, mà người thiếu tu tập không thể làm nổi.

Nghe người khác mắng chửi nhục mạ mình thì trừ phi tai mình bị điếc, hoặc ngu si không hiểu gì, mới làm thinh được như Phật. Người thế tục thường dính mắc điểm này, tự hỏi, thế thì tu hành hoá ra cũng như bị tàn tật, dốt nát hay sao? Tu hành để đi đến chỗ không có cảm thọ như người bị bệnh tê liệt thần kinh hay sao?

Cái cực thiện và cái cực ác có một bề ngoài hoàn toàn giống nhau, nên dễ đánh lừa người thiếu trí. Người tu hành đến chỗ làm chủ được cảm thọ thì ngược lại rất bén nhạy, thường được gọi là thần thông, như Tha Tâm Thông (biết tâm niệm người khác), Thiên Nhĩ Thông (nghe rất xa), Thiên Nhãn Thông (thấy được những gì người khác không thấy...). Người phàm phu chỉ nhạy cảm đối với những gì liên hệ đến "tôi" và " của tôi" cho nên cảm thọ của họ hết sức hạn chế và dễ gây đau khổ cho mình và người. Đức Phật nhờ không thọ lời nhục mạ, nên Ngài không tự làm khổ mình, không gây thêm thù oán, mà trái lại còn cảm hoá được đối phương.

Nguồn gốc của đau khổ, như vậy, chính là cảm thọ do chấp ngã, hay bám lấy quan niệm về một cái tôi, mà Kinh Kim Cang gọi là Ngã Tưởng. Đây là Vô minh căn bản, còn gọi là Si.

Sự yêu thích cài gì hợp với tôi gọi là Tham. Ghét cái không hợp với tôi gọi là Sân. Chính là ba phiền não, hay vọng tưởng căn bản Tham, Sân, Si này mà phát sinh những thói xấu khác như bám víu, kiêu căng, ngã mạn, sân hận, nghi ngờ, ganh tị v.v… Có đến tám muôn bốn ngàn thứ, nghĩa là rất nhiều. Duy thức học gọi đấy là Bất Thiện Tâm Sở, nghĩa là tất cả đều là sở hữu tùy tùng của một cái tâm vô hình, vô tướng nhưng lại là năng lực điều động tất cả sự sống chết, vui buồn, mê ngộ, đau khổ và hạnh phúc của ta, tùy theo cách sử dụng nó. Biết sử dụng những bất thiện tâm sở này để chuyển hoá chúng vào mục đích tu học, thì cũng như khoa học gia chuyển hoá năng lượng mặt trời và thác nước, hoặc như Gia Cát Lượng trong Tam Quốc Chí đã dùng mưu lược, thu hết 30.000 mũi tên của quân Tào Tháo bắn sang, đem về cho Châu Du.

Ở đây ta cần nhận diện Vọng Tưởng đích thực là đau khổ. Người học Phật thì không đợi tới khi bị bắt ngồi tù vì tội trộm cướp mới thấy khổ, mà thấy khổ ngay lúc bắt đầu nổi lòng tham muốn chiếm đoạt của người khác, vì lòng tham ấy phát xuất từ cái thấy sai lầm (Vọng tưởng) cho rằng cái tôi là trên hết. Vậy bước đầu để chấm dứt khổ là nhận diện ra cái khổ: Sự chấp ngã, vọng tưởng chính là nguồn gốc. Khi nhận ra nó rồi, muốn tận diệt nó, ta phải tìm hiểu môi trường hoạt động của nó và những yếu tố giúp nó tăng cường hoạt động. Cũng như người săn bắt cướp, cần phải biết sào huyệt, sở thích, đường đi lối về của bọn cướp.

Chúng ta đã thấy rằng khổ vui là vấn đề cảm thọ, và có cảm thọ là do có tâm. Như vậy muốn hết khổ, thì việc cốt yếu là chuyển cái tâm hiện tại của ta. Không chuyển tâm mà chỉ thay đổi hoàn cảnh, thì không bao giờ có giải thoát thật sự, mà chỉ là thay đổi kiểu đau khổ. Tu hành, nói gọn, chính là việc chữa trị tâm bệnh hay chuyển tâm. Chẳng hạn khi ta phải sống trong một môi trường hay cãi cọ, mọi người ưa gây sự với ta, thay vì cảm thấy khó chịu, đau khổ, bực tức, ta hãy nhớ lại rằng hoàn cảnh này là dư báo của quá khứ. Có lẽ trong quá khứ ta đã gây nhiều oan trái với họ, bây giờ đến lúc phải trả. Ta nên vui vẻ mà trả, đây là cơ hội tốt. Khi nghĩ vậy, ta sẽ không gây thêm oan trái, mà còn có thể giải trừ được những oán thù đã qua.

Trong kinh Kim CangPhật dạy ai tụng kinh ấy mà bị người khinh chê thì sẽ tiêu trừ được quả báo ác nghiệt nhiều đời trước và mau đắc đạo. Ngược lại khi gặp thuận cảnh, như được vinh dự, được thăng chức, được nhiều tiền, ta sẽ từ bỏ bám víu tiền tài, danh vọng; nhớ lời Phật dạy về Vô thường, Vô ngã, để đem san sẻ cho người khác những gì ta có. Tu tập như vậy thì dù có bị mất mát bớt tài sản ta không buồn khổ lắm, vì ít ra cũng đã sử dụng tài sản vào một vài việc hữu ích.

Đức Phật Thích-ca sau khi giác ngộ, Ngài ngồi lại dưới cội bồ-đề nhiều ngày để suy nghĩ xem có nên đem cái mà Ngài đã giác ngộ để nói cho mọi người nghe không? Đã có lúc Ngài tự nghĩ sự giác ngộ của Ngài quá sâu xa vi diệu, người đời khó có thể lĩnh hội, tốt hơn nhập Niết-bàn ngay. Nhưng rồi Ngài hồi tưởng lại, cái hành tích của tất cả chư Phật trong thời quá khứ, bất luận vị nào ra đời cũng cùng một tâm nguyện độ sanh. Song bản ý của chư Phật trước sau vẫn là độ sanh, Ngộ Nhập Phật Tri Kiến.

Như vậy, Ngộ Nhập Phật tri Kiến là như thế nào? Muốn thế thì việc đầu tiên ta phải có chánh kiến. Cái nhìn đúng như thật về bản thân và mọi thứ bên ngoài. Cái gì hợp với ta đều tốt. Cái gì chống lại ta đều xấu. Sự tốt xấu mà ta gán cho người hay vật khác đều do tâm phân biệt tùy hứng của ta, hoàn toàn không liên quan gì đến người hay vật. Mọi thứ là "Tính Không."

Cùng một cảnh vật ấy, đối với người này là thiên đường, mà đối với người khác lại là địa ngục. Hoặc cùng một con người ấy, lúc đầu ta cho là bạn, lúc sau ta cho là kẻ thù. Tất cả quan niệm trái ngược như, vui-khổ, tốt-xấu, bạn-thù, đều do tâm chấp ngã pháp sinh. Sự thật hoàn toàn không có những thuộc tính do ta thêm thắt vào như vậy, nên gọi là "Tính Không." Thấy được điều này, tạm gọi là chánh kiến về tính không. Có chính kiến thì ta không bị dẫn dắt bởi cơn thịnh nộ khi gặp người mà ta cho là kẻ thù, cũng không bị lôi cuốn bởi sự ái luyến khi gặp người mà ta cho là bạn thiết, cũng không thờ ơ lãnh đạm khi gặp một người mà ta cho là người không thân. Có được hai yếu tố trên đây, chính kiến về tính không và từ bỏ cái thấy đầy ngã chấp, cùng tất cả thói xấu kèm theo (như phóng đại ưu điểm của những gì ta ưa, thổi phồng khuyết điểm của những gì ta ghét). Đồng thời tu tập những đức tính như nhẫn nhục (do thấy rõ nhân quả) khiêm cung (do thấy vô thường, duyên sinh, không có gì là tôi, và của tôi thật sự) là đã sống được một cuộc đời giải thoát an vui. Tột đỉnh của sự tu tập là quả giác ngộ giải thoát, thành Phật để cứu vớt chúng sanh. Bởi vậy cần có một yếu tố quan trọng hơn tất cả trên đường tu tập đó là Bồ-đề tâm. Có phát tâm bồ-đề mới đi đúng quỹ đạo của Phật và thành Phật được. Nên bồ-đề tâm được gọi là hạt giống Phật, và trong kinh điển Đại Thừa, chỉ có Bo-tát, người đã phát tâm bồ-đề và đang thực hành hạnh lợi tha. Bồ-đề tâm là cái tâm lợi tha cầu giác ngộ thành phật để có thể cứu vớt vô lượng chúng sanh. Nhưng trước khi có được tâm bồ-đề, ta cần phải từ bỏ cái thấy sai lạc là có một cái tôi biệt lập không dính dấp gì đến người khác và có chính kiến rằng mọi sự khổ hay vui đều không thật có, đều do tâm chấp ngã tạo ra. Vậy bồ-đề tâm là cách chuyển hoá khổ đau tốt nhất trong bất cứ trường hợp nào. Sở dĩ ta có thể chuyển hoá được là vì mọi thứ ta thấy theo kiểu chấp ngã thông thường đều không thật, khổ vui và mọi thứ đối đãi khác như Ta Bà, Tịnh Độ v.v. . . đều do tâm ta tưởng tượng. Cả hai đều không thật chất, tính không, đều do tâm biến. Nhưng chúng sanh thì "biến" theo lối ích kỷ hẹp hòi chấp ngã, đem lại đau khổ cho mình và mọi người, mọi vật. Còn kiểu "biến" của Bồ Tát thì đem lại giải thoát an vui cho mình và tất cả chúng sanh. Bởi vậy ta nên học cách "biến" của Bồ tát, của Phật thì đỡ khổ bội phần và công đức vô lượng.

Thế thì con đường chuyển hóa và tâm nguyện độ sanh của đức từ phụ đều đem lại an vui tuyệt đối cho muôn loài.

--- o0o ---


Chân thành cảm ơn Đại Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tuyển tập này.

--- o0o ---

Vi tính: Hải Hạnh - Giác Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/10/202017:14(Xem: 565)
Giúp Phật hoằng pháp độ quần sanh, Quán sâu Bát-nhã trí tuệ thành. Năm uẩn đều không, trừ nhân ngã, Ba độc dứt rồi hiện Phật, Tăng. Điều tâm, lìa tướng, phá chấp pháp, Bỏ Tiểu theo Đại, đạo viên thành. Hiện tướng tỳ-kheo dạy bảo chúng, Lập thành công lớn chẳng kể công.
27/03/202006:27(Xem: 1063)
Muốn thành một vị Phật, một người tu hành phải trải qua ba nguyên tắc đào luyện tu tập; nếu không hoàn thành ba nguyên tắc này thì người đó dù ở địa vị nào ở cấp bực nào đem xét nghiệm thì sẽ nhận biết họ không bao giờ được thành Phật.
28/02/202012:08(Xem: 1678)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
02/01/202006:48(Xem: 1496)
Một sáng tinh sương ..... Đức Thế Tôn thành đạo . Phiền não đoạn tận, chiến thắng ma quân , Ánh sáng Giác Ngộ lan tỏa đến tha nhân Gieo rắc niềm tin ...khổ đau được chuyển hoá !
24/12/201921:31(Xem: 1942)
Ngày thành đạo của đức Thế Tôn cách đây 26 thế kỷ, đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Một kỷ nguyên của chánh kiến, thấy rõ thế gian là vô thường và những gì cấu tạo nên nó chỉ là do quan hệ duyên khởi và trống rỗng tự ngã. Những nỗi khổ đau của con người ở trong thế gian không do một ai có thẩm quyền áp đặt, mà chính là do lòng tham dục, tính hận thù và sự kiêu căng nơi tâm họ tạo nên. Tâm cũng vô thường như bất cứ những sự vô thường nào ở trong thế gian, nên những khổ đau của con người không phải là tuyệt lộ. Nó có thể thay đổi khi nhân và duyên của nó được thay đổi. Nhân và duyên làm thay đổi khổ đau của thế giới con người là Bát Thánh Đạo. Thực hành Bát Thánh Đạo, do đức Phật công bố tại vườn Nai, sau khi Ngài thành đạo, trong thời thuyết giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, tại vườn Nai thì những khổ đau của thế giới con người sẽ bị diệt tận.
24/12/201916:36(Xem: 2185)
Xưa và nay, trong lịch sử của nhân loại, tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân. Nhờ trải qua các quá trình kham nhẫn, tu, học, và giúp đỡ cho tự thân và tha nhân như vậy, thì họ mới có thể trở thành những nhà khoa học, toán học, văn học, triết học, đạo học, v. v… Bồ-tát Tất-đạt-đa Gautama,[1] một vị đạo Sư tâm linh hoàn hảo, có đầy đủ đức hạnh, từ bi, và trí tuệ, trải qua 6 năm tu khổ hạnh rừng già với năm anh em Ông A-nhã Kiều-trần-như. Sau một thời gian tầm sư học đạo, Bồ-tát, một con người xuất chúng bằng xương bằng thịt, đã tìm ra chân lý bằng cách thiền định tại Bồ-đề-đạo-tràng suốt 49 ngày đêm, và chứng ngộ viên mãn dưới cội cây Bồ-đề. Lúc đó, Bồ-tát trở thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni, một đức Phật lịch sử, có mặt trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, được chư thiên và loài người tôn kính, có khả năng đem
24/10/201920:30(Xem: 2482)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
23/10/201918:44(Xem: 2364)
Cách đây hai mươi mấy măm về trước, khi chưa bước vào ngôi nhà Phật Pháp.... ( chưa quy y Tam Bảo ) không hiểu sao hai vị Phật tôi thường cầu nguyện và được sự linh ứng nhất là Đức Quán thế Âm Bồ Tát và Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và đặc biệt trong 12 đại nguyện của Phật Dược Sư tôi chỉ thích đọc đi đọc lại nguyện thứ ba, thứ sáu, thứ bảy và thứ tám vì có lẽ lúc ấy tôi chỉ biết lo cho tấm thân làm người nữ và những bịnh tật đau nhức dai dẳng đeo đuổi mãi không thôi.
13/10/201913:51(Xem: 2906)
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc. Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được. Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn. Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
29/09/201909:45(Xem: 8694)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)