Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Ngọn đuốc sáng hiện thân cho tinh thần hòa hợp thống nhất Phật giáo Việt Nam

23/04/201320:18(Xem: 5583)
Ngọn đuốc sáng hiện thân cho tinh thần hòa hợp thống nhất Phật giáo Việt Nam
300 Năm Phật Giáo Gia Định, Sàigòn


Ngọn Đuốc Sáng Hiện Thân Cho Tinh Thần Hòa Hợp Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam

Khuyết danh
Nguồn: Khuyết danh


Hòa thượng (HT) họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 1-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong), tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi, ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức - Huế.

Năm 1926, khi được 17 tuổi, ngài thực thụ xuất gia thọ giáo với HT Viên Thành tại chùa Tra Am ở Huế. Năm ngài 20 tuổi (1929), được bổn sư cho vào thọ giới Cụ túc (Tỳ kheo) tại Đại giới đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng. Tại Đại giới đàn này, ngài trúng tuyển Thủ sa di trong số 300 giới tử. Do đó, bổn sư đã ban cho ngài pháp hiệu là Thích Trí Thủ, ngụ ý khen tặng chữ Thủ là đứng đầu. Cũng vừa năm đó, bổn sư của ngài, HT Viên Thành viên tịch, ngài ở chùa Tra Am hai năm để thọ tang. Năm 1932, ngài vào học tại Phật học đường Trúc Lâm do HT Giác Tiên thành lập và mời HT Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, Bình Định làm Chủ giảng.

Cuối năm 1934, ngài trở ra Huế, cùng các pháp lữ ngày trước tổ chức trường Phật học ở chùa Tây Thiên, cung thỉnh Tăng cang Giác Nhiên ở chùa Thuyền Tôn làm Giám đốc, HT Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, Bình Định làm Đốc giáo. Cùng thời gian này, ngài còn làm giảng sư cho Hội Phật học Thừa Thiên và lớp Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên, cùng kiêm nhiệm việc giảng dạy tại trường Tiểu học Phật học mở tại chùa Báo Quốc - Huế.

Năm 29 tuổi (1938), sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, ngài được sơn môn cử về trụ trì Tổ đình Ba La Mật. Ngài vẫn tiếp tục công việc giảng dạy và hỗ trợ cho các trường Phật học. Năm 1939, ni trường chùa Từ Đàm được thành lập. Đây là cơ sở và khởi duyên Ni bộ đầu tiên được hình thành trong cả nước. Sơn môn và Hội Phật học giao cho ngài đặc trách việc đào tạo Ni chúng.

Năm 1942, ngài được Giáo hội Tăng già Thừa Thiên bổ nhiệm trú trì chùa Báo Quốc. Thời gian này ngài tích cực hoạt động cho việc phục hưng PG và cùng các Tăng lữ cấp tiến như Thượng tọa (TT) Mật Thể, Thiện Minh, Thiện Siêu đề xướng cải tiến cách tu học, phổ cập cho phù hợp với thời đại.

Năm 1944, các lớp đại, trung và tiểu học của trường Sơn môn Phật học được dời về chùa Linh Quang, ngài được sơn môn Tăng già giao phó nhiệm vụ Giám viện kiêm trú trì chùa.

Cuối năm 1945, chiến tranh Việt-Pháp lại bùng nổ sau cuộc Cách mạng Tháng Tám giành độc lập cho nước nhà, ngài đã cùng một số vị khác thành lập Hội Phật giáo (PG) Cứu quốc Trung Bộ và Thừa Thiên, và cho người đi khắp các tỉnh thành lập Hội PG Cứu quốc tại tỉnh. Vào năm 1946, chiến sự xảy ra ngay tại thành phố Huế, nên sơn môn Tăng già Thừa Thiên quyết định dời trường Sơn Môn Phật học về chùa Báo Quốc, ngài bàn giao nhiệm vụ trụ trì chùa Linh Quang lại cho HT Mật Nguyện.

Năm 1950, sau khi Hội Việt Nam Phật học thành lập được ba năm, ngài được đại hội thường niên bầu làm Hội trưởng thay cho sư sĩ Chơn An - Lê Văn Định. Từ ngày có phong trào chấn hưng PG tại Trung Việt năm 1932, đây là lần đầu tiên chức Hội trưởng thuộc về Tăng sĩ.

Năm 1952, trong chức vụ Ủy viên Hoằng pháp của Giáo hội Tăng già Trung Việt, ngài đã đặt viên đá cho ngôi trường Trung - Tiểu học tư thục Bồ Đề đầu tiên của Hội tại thành nội Huế. Từ đó về sau các trường Bồ Đề từ bậc tiểu học đến bậc trung học được lần lượt mở ở các Tỉnh hội khắp Trung Việt, lan vào cả Sài Gòn.

Vào 1956, Đại hội kỳ II của Tổng hội PG Việt Nam họp tại chùa Phước Hòa (Sài Gòn), ngài được bầu làm Ủy viên Giáo dục. Cũng trong năm này, Phật học viện Nha Trang được thành lập tại chùa Hải Đức trên núi Trại Thủy, ngài được giao nhiệm vụ Giám viện.

Phật học viện Nha Trang chỉ đào tại Tăng sinh đến bậc trung học, sau đó họ phải vào Sài Gòn theo học bậc đại học. Để giúp đỡ số Tăng sinh này có nơi ăn ở đi học mà vẫn giữ được nếp sinh hoạt thiền môn, năm 1960, Ban Quản trị ủy cho ngài vào Sài Gòn mua một sở đất (nay ở đường Lê Quang Định) tại xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, xây dựng tu viện Quảng Hương Già Lam. Nơi đây cũng là trú sở của ngài sau năm 1963 cho tới ngày viên tịch.

Năm 1962, ngài dẫn đầu phái đoàn PG Việt Nam tham dự Đại lễ thế giới Phật lịch 2500 - ngày Đức Phật nhập Niết bàn tại thủ đô Vientiane - Lào.

Năm 1963, sự kỳ thị tôn giáo xảy ra dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngài trở về Huế cùng chư Tăng lãnh đạo đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo, ngài bị bắt giam và đưa vào Sài Gòn. Khi trung tâm đầu não của cuộc đấu tranh chuyển từ Huế vào Sài Gòn, ngài lại tích cực tham gia. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ra đời, ngài được cử vào Ban Dự thảo Hiến chương và sau đó được bầu vào chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp, kiêm Tổng vụ Tài chính. Với trách vụ này, ngài đã tổ chức được ba cuộc hội nghị hoằng pháp (tại Phật học viện Nha Trang, chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang), thành lập đoàn giảng sư phân công tới các địa phương thuyết giảng Phật pháp, và thành lập thêm được Phật học viện Phổ Đà ở Đà Nẵng.

Năm 1964, ngài làm Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học đặt tại chùa Pháp Hội, tiền thân của Viện Đại học PG Vạn Hạnh, ngài còn chủ trương xuất bản các tậåp san Tin Phật, Bát Nhã để hỗ trợ cho công tác hoằng pháp.

Năm 1965, ngài đi hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, đồng thời để mở rộng sự giao thiệp với các tổ chức PG tại các nước này trên đường phụng sự Phật pháp.

Năm 1969, ngài được Hội đồng Lưỡng viện GHPGVNTN tấn phong pháp vị Hòa thượng. Cùng năm này, ngài khai Đại giới đàn tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, Ngài trùng tu Tổ đình Báo Quốc - Huế. Năm 1970, ngài mở lớp Trung đẳng II chuyên khoa tại Phật học viện Nha Trang, HT Thiện Siêu được thỉnh cử làm Viện trưởng.

Trong Đại hội GHPGVNTN kỳ 5 và kỳ 6, ngài được giao trách nhiệm hết sức quan trọng và nặng nề là Viện trưởng Viện Hóa đạo để thay thế HT Thích Thiện Hoa vừa viên tịch. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của đất nước cũng như Giáo hội. Người lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo hội phải đủ nghị lực, can trường và sáng suốt mới đi đúng hướng, đúng đạo pháp được. Đến năm 1975, ngài lại phải gánh thêm một trách vụ nặng nề nữa, là Xử lý thường vụ Viện Tăng thống. Năm 1976, ngài mở Đại giới đàn Quảng Đức ở chùa Ấn Quang và làm Đàn chủ.

Đất nước đã được thống nhất, Nam Bắc một nhà. Trước thực trạng đó, việc thống nhất PG hai miền là cần thiết. Thấy được điều đó, ngày 23-1-1977, trong Đại hội kỳ 7 của GHPGVNTN, ngài đã đưa ra thông bạch nêu lên nguyện vọng ấy cụ thể như sau: Đại hội cần ủy cho Giáo hội Trung ương tiếp tục vận động thống nhất PG cả nước trong tinh thần đạo pháp và truyền thống dân tộc.

Năm 1980, ngài khai Đại giới đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang và ngài làm Đàn chủ. Đây cũng là Đại giới đàn cuối cùng của GHPGVNTN; và cũng là giới đàn có số giới tử Tăng Ni đông nhất: 1.500 người.

Sau bao gian lao, vượt qua bao khó khăn trở ngại từ mọi phía, ngài đã được các hệ phái PG đề cử làm Trưởng ban Vận động thống nhất PG. Không lâu sau đó, ngày 7-11-1981, Đại hội Thống nhất PG được tổ chức tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, thành lập Giáo hội toàn quốc với danh xưng “Giáo hội PG Việt Nam”, ngài được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương - nhiệm kỳ I.

Trách nhiệm Phật sự khó khăn cho nền thống nhất PG hoàn thành, đáng lẽ đã đến lúc ngài lui về an trú tại chốn già lam thanh tịnh, nhưng ngài đã không quản tuổi già sức yếu, vẫn một lòng phụng sự đạo pháp. Ngài đã dẫn đầu đoàn đại biểu PG Việt Nam tham dự Đại hội lần thứ 5 (1979), lần thứ 6 (1982) của Tổ chức PG châu Á vì Hòa bình (ABCP) họp tại Mông Cổ. Năm 1980, ngài làm trưởng đoàn đại biểu tôn giáo Việt Nam dự Hội nghị Các nhà tôn giáo thế giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, ngài làm trưởng đoàn đại biểu PG Việt Nam dự Hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô.

Năm 1983, ngài tham dự Hội nghị các vị đứng đầu PG năm nước châu Á tổ chức tại thủ đô Vientiane Lào. Cũng năm này, ngài được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Vào những năm tháng cuối đời, sau khi đã đem bao tâm lực cống hiến cho sự chấn hưng PG, cho sự phát triển và thống nhất các hệ phái dưới một mái nhà PG, cho sự tu hành thăng tiến của lớp hậu sinh, sức khỏe của ngài có phần suy giảm nhiều.

Ngày 2 tháng 3 năm Giáp Tý, tức ngày 2 tháng 4 năm 1984, sau một cơn suy tim đột ngột, ngài đã thâu thần viên tịch tại Bệnh viện Thống Nhất, thọ 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn