29. Thiền Sư Vân Môn Văn Yến

12/10/202117:59(Xem: 33600)
29. Thiền Sư Vân Môn Văn Yến


129_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Van Yen

Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay (29/10/2020) chúng con nghe bài pháp thoại (lần thứ 178) trong mùa dịch Covid-19 về Thiền Sư Vân Môn Văn Yển , vị Tổ khai sáng Thiền phái Vân Môn,  dòng thiền được truyền bá và kéo dài được 200 năm  và chấm dứt luôn, nhưng đã được phát triển rất hiển hách, để lại cho đời sau 1 tác phẩm lừng danh là "Bích Nham Lục".

Ngài đến tham vấn với Thiền Sư Châu Mục Trần Tôn Túc , một vị thầy nổi tiếng về phong cách giáo hoá là đóng cửa, chỉ mở cửa khi có tiếng gỏ cửa và đóng lại liền, nếu ba lần mở cửa mà không ngộ thì đóng cửa luôn.
Đến phiên ngài Văn Yển cũng không ngoại lệ, 2 ngày đầu bị đóng cửa, nên ngài tính trước, ngày thứ ba,  cửa vừa mở ngài xông vào bên trong ngay, nhưng Thiền Sư Tôn Túc nắm cổ áo bắt phải "nói" , đang suy nghĩ vì không biết nói gì, nên bị xô ra cửa, chân Ngài bị kẹt lại, cửa đóng sầm nên bị gảy,  cái đau thấu trời này đã đưa Ngài Đại ngộ và ôm chân gảy rồi cười thay vì đau đớn và tức giận.

Ngài giác ngộ nhờ ba lần mở cửa , nhận ra ba thân tỏ sáng, pháp thân, báo thân và ứng hóa thân.

Thiên Sư Tôn Túc giới thiệu Ngài Văn Yển đến tu học với Thiền Sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn . Ngài Văn Yển gởi một vị tăng lên núi nhờ hỏi một câu khi gặp Tổ Tuyết Phong " ông già trên cổ mang gông sao chẵng cởi đi".

Tổ Tuyết Phong nghe câu nói là biết của Ngài Văn Yển. Hôm sau Ngài Văn Yển lên núi đảnh lễ Tổ. Tổ hỏi làm sao người đến được chỗ ấy. Ngài Văn Yển chấp tay cúi đầu và được Tổ Tuyết Phong ấn chứng là người kế vị.

Cuối đời Tổ Văn Yển khai thị trước khi Ngài ra đi.  Ngài khuyên phải giải quyết tận gốc rễ của sanh tử ngay trong kiếp này  trước khi hơi thở ra không bảo đảm  còn trở lại.
Thời gian tu đào luyện nội tâm từ 10 năm, 20 năm, 30 năm  để tận trừ vọng tưởng và tham ái ...  và đại ngộ chỉ đến trong một sát na, chấm dứt sanh tử luân hồi, rõ thấy thể tánh Tịnh Minh , Chơn Tâm thường trú hiện tiền . 30 năm dài hành trì là "tiệm tu", đạt đến thể tánh tịnh minh trong một sát na là đốn ngộ". Quá trình "tiệm tu đốn ngộ" hay "đốn ngộ tiệm tu" bắt buộc mọi hành giả muốn chứng đắc hoặc muốn vãng sanh, chấm dứt vòng sanh tử luân hồi, phải đi qua, không thể thiếu trong đời sống này.


Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2010(Xem: 13745)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7723)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 11000)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 32416)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 17543)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"