53. Thiền Sư Tề An

12/10/202120:01(Xem: 28394)
53. Thiền Sư Tề An
200_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Te An



Nammô A Di Đà Phật


Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học bài thứ 201 về Thiền Sư Tề An. Ngài thuộc đời thứ 3 sau Lục Tổ Huệ Năng, là đệ tử đắc pháp của TS Mã Tổ Đạo Nhất. Ngài Tề An họ Lý quê ở Giang Tô.

TS Tề An có túc duyên nhiều đời, khi Ngài ra đời trong nhà đầy hào quang, có một Thiền sư đến nhà thăm và nói lời tiến tri rằng " đây là vị sứ giả dựng cờ vô thắng, xoay mặt trời Phật soi trở lại".

Sư phụ giải thích : "dựng cờ vô thắng" là ý nói không tranh thắng bại. "Xoay mặt trời Phật soi trở lại" là quay lại bản tâm trí tuệ của mình.

Lớn lên, Ngài xuất gia với Thiền Sư Vân Tông, sau đó Ngài đến đảnh lễ Mã Tổ. Ngài Mã Tổ thấy tướng mạo Tề An đẹp đẽ, cho vào thất truyền pháp và ngài Tề An đắc pháp.

Ngài Tề An về Giang Tô lập đạo tràng hướng dẫn đại chúng tu học.

Có một vị Tăng đến hỏi TS Tề An :”thế nào là bản thân Lô Xá Na?”
Sư bảo :”đem cái bình đồng kia đến cho ta”.
Vị tăng liền lấy tịnh bình đem lại.
Sư bảo:”hẩy đem để lại chỗ cũ”
Vị Tăng đem bình để lại chỗ cũ rồi thưa hỏi lại câu trước.
Sư bảo :”Đức Phật đã quá khứ lâu rồi”.

Sư Phụ giải thích có ba Lô Xá Na :
1-thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Xá Na, có trùm khắp trong không gian và thời gian.
2-viên mãn báo thân Tỳ Lô Xá Na, là thân Phước báu đầy đủ công Đức, trí tuệ chiếu sáng không còn vô minh phiền não.
3- thiên bá ức hoá thân Lô Xá Na, là ứng thân Phật ra đời giáo hoá, vắng lặng, không trụ trong sanh tử.

Sư Tề An bảo :”Đức Phật đã quá khứ lâu rồi”, Sư Phụ giải thích, cái dụng của pháp thân là "bưng bình đi tới, đi lui" , đó là thanh tịnh pháp Tỳ Lô Giá Na, nhưng vị tăng không hiểu nỗi cái dụng ngay trong gi
ờ phút hiện tại, nên bị Tổ quở là ”Đức Phật đã quá khứ lâu rồi”.

Sư phụ có nhắc lại lời của Triết gia Tây Phương Heraclitus rằng "Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, vì dòng nước chảy qua chảy qua, không bao giờ lập lại nữa.



Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2010(Xem: 13668)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7706)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 10894)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 32236)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 17385)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"