03. Tam Tổ Tăng-Xán

12/10/202110:46(Xem: 31636)
03. Tam Tổ Tăng-Xán
30_TT Thich Nguyen Tang_To Tang Xan


Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học về Tổ Tăng Xán.

Ngài là vị Tổ thứ 3 của Trung Hoa kể từ vị Tổ thứ 1 Bồ Đề Đạt Ma, là vị tổ thứ 30 tính từ sơ Tổ Ca Diếp ở Ấn Độ.

Tiểu sử của Tổ Tăng Xán không rõ, không có xuất thân, quê hương, không có tên họ. Tổ thứ nhì Huệ Khả đặt cho Ngài pháp danh khi làm lễ ấn chứng

( XÁN là viên Ngọc của TĂNG Bảo).

Tổ Tăng Xán tìm đến gặp Nhị Tổ Huệ Khả, và xin Tổ Huệ Khả sám hối tội của Ngài vì Ngài bị ghẻ lở đầy người.
Nhị Tổ bảo Tăng Xán đem tội ra cho ta sám. Ngài Tăng Xán tìm không ra tội. Nhị Tổ nói "ta đã sám hết tội cho con rồi", và nhị tổ cho Ngài Tăng Xán xuất gia làm đệ tử, sau hai năm, Ngài Tăng Xán hết bịnh.

Tam Tổ Tăng Xán vào núi ẩn tu vì tránh tai ách phá Phật của đời vua Châu Võ Đế, bắt tăng sĩ phải hoàn tục.
Các đời vua sau cho phục hồi đạo Phật.
Có một vị tăng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, từ nam Ấn đến Trung Hoa.

Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến núi Hư Không, đi vòng quanh Tổ ba vòng không chào hỏi, rồi sụp xuống lạy ba lạy. Tổ Tăng Xán gật đầu ba cái.
Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi hoát nhiên đại ngộ.
Tổ Tăng Xán ấn chứng, Ngài Tỳ Ni ở hầu Tổ vài năm.
Tổ Tăng Xán dạy Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đi về phương nam giáo hoá, tức là miền Bắc Việt Nam chúng ta ngày nay.

Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi là sơ tổ thiền tông Việt Nam vào thế ký thứ 6, năm 580 .
Tổ đến chùa Dâu ( chùa Pháp Vân ) tỉnh Bắc Ninh để giáo hoá, và truyền thừa tới đời thứ 19 thì dứt (năm 213).

Tổ Tăng Xán, sau khi đã độ cho Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi, có thêm một đệ tử khác tên là Đạo Tín tới gặp Tổ, đảnh lễ và xin ban cho pháp môn giải thoát.
Tổ hỏi ai trói buộc, Ngài Đạo Tín tìm không thấy, tự giải thoát đạt ngộ lúc 14 tuổi .




Kính mời xem tiếp


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 11976)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 35037)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 18083)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"