45. Thiền Sư Vô Nghiệp

12/10/202119:24(Xem: 28093)
45. Thiền Sư Vô Nghiệp


194_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Vo Nghiep

Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học bài thứ 194 Thiền Sư Vô Nghiệp, Ngài thuộc đời thứ ba sau Lục Tổ Huệ Năng, là một trong những đại đệ tử đắc pháp của TS Mã Tổ Đạo Nhất.

Ngài quê ở Thương Châu, họ Lý. Mẹ của Ngài, trong giấc ngủ nghe trong hư không có tiếng nói " cho ta ở nhờ nhà con được chăng ? " Bà hoan hỷ nhận lời và tức thì bà mang thai. Khi Ngài ra đời, ánh sáng chiếu khắp nhà.

Sư Phụ có nhắc lại hai trường hợp hai vị Tổ biểu hiện mượn nơi ra đời để hoằng hoá giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Tứ Tổ Đạo Tín tìm được người thừa kế nhưng Tài Tùng lúc đó đã ngoài 80 tuổi, ngài Tài Tùng phải đổi thân xác mới để nối tiếp dòng thiền, ông già đã hỏi một cô gái đang giặt đồ bên bờ "cho thầy ở nhờ", cô gái vui vẻ đồng ý, cô gái sau đó mang thai và sanh ra  một bé trai, về sau em bé này trở thành Ngũ Tổ Hoằng Nhẩn.

Ngài Tam Tạng Huyền Trang khuyên một thiền sư ngồi thiền 1000 năm trên hang động lúc ngài trên đường đi Tây Vức thỉnh Kinh, nên về Thành Trường An chọn nhà nào có mái ngói vàng (ý nói Cung Vua) để tái sanh, ngỏ hầu tiếp sức với ngài phiên dịch kinh điển, hoằng pháp độ sanh, tốt hơn là tiếp tục ngội thiền để chờ Phật Di Lặc ra đời, nhưng ngài thiền sư chọn "lộn địa chỉ" sanh vào nhà có mái ngói xanh ngọc (nhà của tướng quốc); 16 năm sau Pháp sư Huyền Trang trở về Trung Quốc, phải nhọc công đi tìm kiếm hậu thân của thiền sư, cuối cùng Pháp sư đã độ cho hậu thân này đi xuất gia và về sau trở thành Pháp sư Khuy Cơ, nổi tiếng và có công xiển dương tông Duy Thức.
Con kínhh cảm ơn Sư phụ kể lại 2 câu chuyện tái sanh ly kỳ này của 2 vị thiền sư.


Kính mời xem tiếp

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2010(Xem: 13981)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7800)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 11241)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 32986)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 17645)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"