01. Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma

12/10/202110:05(Xem: 30715)
01. Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma

01_Dat Ma To Su

Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con đuợc học về Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) là vị Tổ thứ 28 theo dòng truyền thừa từ sơ Tổ Ca Diếp.

Tổ từ Ấn Độ sang Trung Hoa để tiếp nối truyền trao giáo pháp của Đức Thế Tôn, bài kệ của Ngài nói lên sứ mạng của Ngài :


"Ngô bản lai tư thổ
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành?

Ta nguyện đến xứ này
Truyền pháp cứu người mê.
Một hoa nở năm cánh,
Hoa trái tự nhiên thành.
Nam mô Tây thiên đông độ Nhị thập bát Tổ Bồ Đề Đạt Ma Tôn Sư.

Sư Phụ giảng Bồ Đề là giác ngộ, Dharma là Pháp.

Tổ thứ 27 Bát Nhã Đa La đặt tên cho Ngài là Pháp tánh Giác Ngộ, và dự báo Tổ thứ 28 sau 60 năm hoằng pháp ở Ấn độ, sẽ đi xa .

Vua cha băng hà, thái tử, anh của tổ Bồ Đề Đạt Ma lên ngôi, được biết Ngài sẽ đi đông độ .
Vua đóng thuyền, cho thủy thủ đoàn hộ tống Tổ Bồ Đề Đạt Ma lên đường đến Trung Quốc.

Lộ trình đi biển ba năm mới tới Trung Quốc ngày 21-9-Canh Tý, trùng hợp 30-9-Canh Tý, 1500 năm sau cùng tháng và năm hôm nay SP đang giảng về Tổ. Bạch Sư Phụ, sự trùng hợp, một cảm ứng đạo giao bất khả tư nghì.


Vua Lương Võ Đế cho thỉnh Tổ vào cung ở Kim Lăng (Kinh Đô Nhà Lương) để thuyết giảng.
Nhân dịp này, Vua Lương Võ-Đế hỏi Tổ "Từ lúc lên ngôi đến nay, Trẫm thường cất chùa, chép kinh, độ Tăng ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng ? "

Tổ đáp: "Đều không có công đức".
Vua thắc mắc "Tại sao không có công đức ?".

Tổ đáp : "Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người, cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà không phải thật có".

Vua hỏi : "Thế nào là công đức chơn thật ? "
Tổ đáp: "Trí thanh tịnh tròn sáng, thể tự không lặng, công đức như thế không do thế gian mà cầu được".
Vua hỏi "Thế nào là thánh đế nghĩa thứ nhất ?
Tổ đáp: "Rỗng rang không thánh". (Sp giải thích: thánh đế là chỗ giải thoát rỗng rang, không có thánh phàm, không sanh diệt...)
Vua hỏi : "Đối diện với trẩm là ai ? "
Tổ đáp: "Không biết" . (Sp giải thích chỗ tột cùng của Phật tánh là không còn có chủ-khách, vua-tôi....)

Vua Võ-Đế không lãnh ngộ được, lui về nghỉ và cho tiễn khách.


Không có duyên với Vua Lương, Tổ đến Lạc-Dương rồi lên chùa Thiếu-Lâm ở Trung-Sơn, vào hang động sau chùa, ngồi quay mặt vào vách thiền định trong 9 năm. Ngài Thần Quang nghe tiếng đến xin thọ giáo, Ngài đứng ngoài thạch động suốt đêm, tuyết ngập tới chân, hầu gặp Tổ để xin thỉnh đạo.



Kính mời xem tiếp

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2010(Xem: 13667)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7702)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 10894)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 32230)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 17383)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"