48. Thiền Sư Duy Khoan

12/10/202119:48(Xem: 29994)
48. Thiền Sư Duy Khoan

196_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Duy Khoan




Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,


Bạch Sư Phụ hôm nay chúng con được học bài 196 về Thiền Sư Duy Khoan (755-817). Ngài thuộc đời thứ 3 sau Lục Tổ và là đệ tử đắc pháp của Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất.


Ngài quê ở Chiết Giang, năm 13 tuổi, Ngài thấy sát sanh tội quá, không nở ăn thịt, Ngài phát tâm ăn chay và xuất gia. Sư Phụ thấy sự quá thương tâm  tâm loài vật này của Ngài là một nét đẹp của đời, một căn lành có sẵn.


Ngài thọ giới Cụ Túc và học pháp tu Chỉ Quán (Như Lai Thiền), nhờ ngài có căn bản pháp tu này nên khi gặp Ngài Mã Tổ, ngài Duy Khoan đắc pháp ngay liền qua Tổ Sư Thiền.

Sư Phụ giải thích Tổ sư thiền cũng phát xuất và có gốc rễ từ Như Lai thiền.


Chỉ là - dừng lại tất cả vọng niệm, điên đảo bằng phương pháp cột tâm vào một đối tượng như hơi thở, hay chóp mũi, biết vọng không theo.


Quán là - quán chiếu tất cả pháp do duyên sanh, ngay nơi đó mà trở lại nhận ra thể tánh giúp tâm không đắm nhiểm, không dấy khởi vọng niệm. Tâm lắng yên, trí tuệ phát sanh.

Một hôm có một vị Tăng đến hỏi TS Duy Khoan :”thế nào là đạo”
Sư đáp “núi rất tốt”.

Vị tăng thắc mắc: "con hỏi đạo sao Thầy nói “núi rất tốt”.
Sư bảo :”con chỉ biết núi tốt, đâu từng đạt đạo”.

Sư phụ giải thích: "Đạo ở đây là chỉ chỗ cứu cánh, rốt ráo, là Vô Thượng Bồ Đề, là Phật quả, là Thể tánh tịnh minh, chân tâm thường trú của mỗi hành giả, cái đang trùm khắp cả vũ trụ, sơn hà, đại địa, hết núi rừng, bầu trời xanh, đại dương...đều lưu xuất ra từ chân tâm  Phật tánh thanh tịnh.


Kính mời xem tiếp




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2010(Xem: 13748)
Các Sa-di-ni thân mến, Chọn “đi tu” làm Sa-di-ni (P. Sāmaṇeri, S. Śrāmaṇeri, 沙彌尼), sau đó, làm Thức-xoa (P. Sikkhamānā. S. Śikṣamānā, 式叉摩那),[1] Tỳ-kheo-ni (P. bhikkhuni, S. bhikṣuṇī, 比丘尼), các con đang đi theo lý tưởng cao cả và hạnh nguyện độ sinh của đức Phật, các bậc Bồ-tát, các Thánh tăng trong lịch sử hơn 2.600 năm của đạo Phật. Đó là diễm phúc lớn của các con và gia đình các con ở đời này. Sa-di-ni có nghĩa đen là “Sa-môn tử” (沙門子), tức người đang tập hạnh làm Sa-môn (P. Sāmaṇa, 沙門). Các Sa-di-ni tuổi thiếu nhi được gọi là “cô tiểu” ở miền Nam, hay “cô điệu” ở miền Trung hoặc “sư bác” ở miền Bắc. Sa-môn là từ chỉ cho các tu sĩ vô thần tại Ấn Độ trong thời cổ đại, không chấp nhận đạo Bà-la-môn đa thần, không chấp nhận Thượng đế, không chấp nhận số phận, cách tu tín ngưỡng và ép xác của đạo Bà-la-môn. Đạo Phật do đức Phật Thích-ca sáng lập là một trong các trường phái Sa-môn, mở ra con đường tỉnh thức, giác ngộ và giải thoát cho nhân loại khỏi tất cả nỗi khổ và niềm đau.
08/10/2010(Xem: 7723)
Truyện thiền không những có tính tôn giáo, triết lý mà còn có giá trị văn học cao. Nó mang ý nghĩa siêu hình, với hình thức ngụ ngôn, bố cục giản lược, trào lộng, kết thúc đột ngột, lại dùng những phương pháp tu từ đặc biệt như điệp ngữ, nghịch lý, đa nghĩa, chữi để mà khen, buông thỏng nửa chừng không kết thúc, lấy câu hỏi để trả lời câu hỏi vv…Đó là đặc sắc của truyện thiền. Cho nên đọc chuyện thiền là vừa học đạo[1] vừa thưởng thức một tác phẩm văn chương kỳ thú.
20/09/2010(Xem: 11001)
ĐứcThế Tôn thường nói: “Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là 'Cái này khôngphải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã củatôi.'” Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao tư tưởng vô ngã lại được diễn đạt như là hệ quả từ thực tế khổ? Lý do để giải thích có thể rút ra từ Tiểu kinh Saccaka (Cūḷasaccaka Sutta), Trung Bộ kinh... Mặc dầu hư vọng phân biệt là một khái niệm liên quan mật thiết với đối cảnh sở duyên của chỉ quán, nhưng thực ra, hư vọng phân biệt là thức và thức là duyên sinh...
28/06/2010(Xem: 32438)
Bản dịch Việt Bích Nham lục được thực hiện với một tấm lòng tôn kính, cảm phục tài đức của giáo sư Wilhelm Gundert (12. 4. 1880-3. 8. 1971). Vì W. Gundert đã giới thiệu tường tận về tác phẩm độc nhất vô nhị này nên dịch giả người Việt hạn chế tối đa những lời dư thừa, chỉ đề cập đến nguyên tắc dịch, một vài nét đặc biệt cũng như kĩ thuật được áp dụng trong bản dịch Việt:
08/01/2009(Xem: 17545)
Trong tập sách này, tác giả Nguyễn Tường Bách trình bày lại các chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của ngành vật lý và triết học về khoa học tự nhiên trong hơn 25 thế kỷ qua. Tác giả chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của hai lý thuyết vật lý quan trọng nhất trong thế kỷ 20, thuyết tương đối và thuyết lượng tử cũng như ý nghĩa triết học của chúng. Chính những lý thuyết này sẽ giúp bạn đọc hiểu được mối liên hệ với triết học và tư tưởng Phật giáo ở phần sau. Vẫn xoay quanh những câu hỏi muôn đời của loài người "vũ trụ là gì, từ đâu mà có?", "thực tại trước mắt chúng ta thực chất là gì?", "bản chất của thực tại vật chất là gì?"…, tác giả dẫn dắt chúng ta theo một hành trình từ vật lý đến triết học rồi gõ cửa và dừng chân ở tư tưởng Phật giáo để lý giải thế giới hiện tượng. "Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi… Hãy đơn giản hóa một đời thành một ngày. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay…"